Luan van ThS. Nguyen Vu Que Linh.pdf
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN VŨ QUẾ LINH
HOÀN THIỆN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
VỚI MỤC TIÊU MINH BẠCH THÔNG TIN KẾ
TOÁN TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH – 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN VŨ QUẾ LINH
HOÀN THIỆN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
VỚI MỤC TIÊU MINH BẠCH THÔNG TIN KẾ
TOÁN TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
1.4 Các yêu cầu về minh bạch thông tin kế toán tại các trường Đại học ............. 31
1.5 Tình hình minh bạch thông tin BCTC khu vực công tại các quốc gia trên thế
giới và bài học kinh nghiệm ................................................................................... 40
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1....................................................................................... 43
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG MINH BẠCH THÔNG TIN BCTC TẠI CÁC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở TPHCM HIỆN NAY ............................ 44
2.1 Khảo sát thực tế về minh bạch thông tin BCTC tại các trường Đại học công lập
ở TP HCM .............................................................................................................. 44
2.2 Đánh giá tình hình minh bạch thông tin BCTC tại các trường Đại học công lập
ở TP Hồ Chí Minh .................................................................................................. 59
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2....................................................................................... 64
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN BCTC VỚI MỤC TIÊU MINH
BẠCH THÔNG TIN KẾ TOÁN TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP
Ở TPHCM ............................................................................................................. 65
3.1 Quan điểm về vấn đề minh bạch thông tin BCTC ......................................... 66
3.2 Một số đề xuất, kiến nghị ............................................................................... 67
3.2.1 Đề xuất đối với Chính phủ và Bộ Tài chính ........................................... 68
3.3.2 Đề xuất đối với các trường Đại học công lập tại TP Hồ Chí Minh ........ 70
3.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo ........................................ 71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 …………………………………………………….......72
KẾT LUẬN CHUNG CỦA LUẬN VĂN…………………………………… …73
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu, chữ viết tắt
GAAP
Nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung
(Generally Accepted Accounting Principles)
IBP
Tổ chức ngân sách quốc tế (Iternational Budget
Partnership)
IFAC
Liên đoàn kế toán quốc tế (International Federation
of Accountants Institutions)
IMF
Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund)
IPSASB
Ban chuẩn mực kế toán công quốc tế (International
Public Sector Accounting Standards Board)
IPSASs
Bộ chuẩn mực kế toán công quốc tế (International
Public Sector Accounting Standards)
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày càng có nhiều bằng chứng về lợi ích của việc minh bạch tài chính.
Nghiên cứu của World Bank về “Thúc đẩy nền kinh tế thị trường: Vai trò của thông
tin và minh bạch” năm 2012 cho thấy minh bạch thông tin làm giảm thiểu sự bất ổn
thị trường do tính chủ quan của các nhà hoạch định chính sách gây ra. Đồng thời,
minh bạch và trách nhiệm giải trình góp phần giảm thiểu bất ổn kinh tế vĩ mô, giúp
thị trường tài chính hoạt động hiệu quả hơn.
Báo cáo tài chính là một phương thức để các cá nhân, tổ chức bên ngoài có thể
tiếp cận và nắm bắt tình hình tài chính của một đơn vị. Do đó, báo cáo tài chính có ý
nghĩa quan trọng đối với người sử dụng thông tin để ra quyết định. Nhận thấy được
tầm quan trọng của minh bạch thông tin nên đòi hỏi vấn đề này phải được tuân thủ,
đặc biệt đối với các đơn vị công lập nhằm giám sát, quản lý tài chính, nguồn ngân
sách quốc gia một cách chặt chẽ.
Tuy nhiên thực trạng việc minh bạch thông tin kế toán đối với các đơn vị công
lập nói chung và các trường Đại học nói riêng vẫn còn những tồn tại nhất định. Việt
Nam vẫn chưa có một văn bản pháp lý nào quy định đầy đủ về vấn đề minh bạch
thông tin trên báo cáo tài chính đối với khu vực công, cụ thể các trường Đại học
công lập là đơn vị sự nghiệp có nguồn kinh phí hoạt động chủ yếu từ Ngân sách
Nhà nước cấp. Việc thiếu minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính làm cho các cá
nhân gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với báo cáo tài chính của các trường
công lập. Từ đó rất khó xem xét đánh giá việc sử dụng ngồn vốn ngân sách của các
đơn vị này.
Vấn đề phát sinh này một phần là do cơ chế, chính sách quản lý Nhà nước,
nhưng sâu xa hơn là sự quan ngại khi công bố thông tin rộng rãi làm ảnh hưởng đến
vị thế cũng như lợi ích riêng của đơn vị. Do đó việc xem xét hoàn thiện báo cáo tài
chính với mục tiêu minh bạch thông tin kế toán tại các trường Đại học công lập ở
phòng Kế hoạch Tài chính; Cán bộ viên chức, người lao động, giảng viên đang làm
3
việc tại các trường Đại học công lập tại TPHCM và có kiến thức kinh tế tài chính
nhất định.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Tiến hành khảo sát tại một số trường Đại học công lập ở
TPHCM.
Phạm vi thời gian: Kết quả khảo sát và phân tích được thực hiện từ tháng
8/2016 đến tháng 10/2016.
Thời gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện từ tháng 5/2016 đến tháng
10/2016.
Phạm vi học thuật và chuyên môn: Đề tài thực hiện điều tra ở một số trường
Đại học công lập ở TPHCM mà không khảo sát tất cả các trường Đại học công lập ở
Việt Nam. Bên cạnh đó, đề tài nghiên cứu về tính minh bạch của thông tin BCTC.
Do đó đề tài không phân tích chi tiết nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại các đơn vị cũng
như không đi sâu vào cách xử lý số liệu để lập BCTC nhằm hạn chế sai sót trên
BCTC.
4. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài giải quyết 3 vấn đề chính có mối quan
hệ mật thiết với nhau:
(1) Bên cạnh các cá nhân, đơn vị có quyền lực yêu cầu đơn vị cung cấp BCTC
như: lãnh đạo đơn vị, cơ quan chủ quản, Bộ Tài chính, … những đối tượng nào
khác có nhu cầu sử dụng BCTC? Họ quan tâm những thông tin gì?
(2) Thực trạng minh bạch thông tin BCTC của các trường Đại học công lập ở
TPHCM hiện nay như thế nào?
(3) Biện pháp nào giúp hoàn thiện BCTC với mục tiêu minh bạch thông tin kế
toán của các trường Đại học công lập ở TPHCM?
theo định hướng của Chuẩn mực kế toán công quốc tế.
5
6.2 Về mặt thực tiễn
Tại Việt Nam, vẫn còn tồn tại một số khó khăn, rào cản ảnh hưởng đến khả
năng tiếp cận, sử dụng BCTC của khu vực công. Điều này cho thấy BCTC vẫn chưa
thực hiện đúng vai trò cung cấp thông tin sẵn có cho người sử dụng. Đề tài đề cập
đến thực trạng minh bạch BCTC, từ đó kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện
BCTC với mục tiêu minh bạch thông tin kế toán của các trường Đại học công lập ở
TPHCM. Hơn thế, khi BCTC thỏa mãn yêu cầu công khai minh bạch sẽ thúc đẩy
người sử dụng thông tin đưa ra giám sát hiệu quả hơn vấn đề quản lý thu, chi ngân
sách tại đơn vị và thực hiện được những mục đích sử dụng khác, như: nghiên cứu,
tài trợ, …
7. Tổng quan về báo cáo tài chính khu vực công và vấn đề minh bạch thông tin
tài chính khu vực công
Báo cáo tài chính khu vực công là nguồn thông tin vô cùng quan trọng để phục
vụ cho việc tổng hợp và kiểm soát tình hình quản lý, sử dụng Ngân sách Nhà nước,
là căn cứ đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội đối với các loại dịch vụ công đã được
thực hiện và cung cấp. Do vậy, việc hoàn thiện và đổi mới BCTC cho khu vực
công luôn là vấn đề được nhiều đối tượng quan tâm nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác
nhau.
7.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Nghiên cứu của Cangiano (1992), về công cuộc cải cách khu vực công ở
New Zealand, trong đó có các doanh nghiệp Nhà nước. Bên cạnh đó, bài báo cũng
trình bày việc chuyển đổi từ cơ sở kế toán tiền mặt sang cơ sở dồn tích, thay đổi
trong cơ chế kiểm soát chi phí và những tác động của việc cải cách lên mô hình thu
nhập, chi tiêu của Chính phủ cùng những bài học kinh nghiệm. Nghiên cứu đã
chứng minh việc chuyển đổi từ cơ sở tiền mặt sang cơ sở dồn tích mang lại một
khuyến nghị các tổ chức quốc tế, Liên hiệp quốc chỉ tài trợ cho các nước đang phát
triển đã tuân thủ IPSASs và không có tham nhũng.
Yasuhiro Yamada (2007), tác giả cho rằng mục tiêu BCTC sẽ quyết định nội
dung BCTC. Yasuhiro Yamada đã dựa trên cơ sở so sánh với mục tiêu BCTC khu
vực công của Nhật và Mỹ để phân tích và xác định rõ hơn mục tiêu BCTC khu vực
công của Nhật. BCTC khu vực công của Nhật và Mỹ đều đặt mục tiêu trách nhiệm
7
giải trình và cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định. Tuy nhiên, với Mỹ,
đối tượng sử dụng thông tin BCTC khu vực công là công chúng rất được đề cao.
Đồng thời nhu cầu sử dụng thông tin BCTC khu vực công của công chúng Mỹ rất
cao nhằm phục vụ cho việc đánh giá trách nhiệm giải trình của các cơ quan chính
quyền địa phương. Vì vậy, công chúng Mỹ là đối tượng quan trọng nhất trong việc
cung cấp thông tin BCTC khu vực công. Trong khi đó tại Nhật, người Nhật không
có nhu cầu đòi hỏi cao về trách nhiệm giải trình của Chính phủ. Với họ việc nộp
thuế là nghĩa vụ, dù có sử dụng dịch vụ công hay không họ vẫn phải nộp thuế. Vì
vậy, nhu cầu sử dụng thông tin BCTC của công chúng cho việc đánh giá trách
nhiệm giải trình của Chính phủ không cao như ở Mỹ. BCTC khu vực công của Nhật
coi trọng việc cung cấp thông tin cho việc ra quyết định của các cán bộ, lãnh đạo và
các đối tượng có liên quan khác nhiều hơn là công chúng nên mục tiêu trách nhiệm
giải trình trong BCTC của Nhật còn mờ nhạt mặc dù tất cả lãnh đạo cũng như người
dân Nhật đều hiểu việc cung cấp thông tin giải trình trách nhiệm trên BCTC là vấn
đề quan trọng. Yasuhiro Yamada cho rằng tại Nhật Bản cần đưa mục cung cấp
thông tin đánh giá trách nhiệm giải trình là mục tiêu cơ bản của BCTC khu vực
công của Nhật Bản trong giai đoạn sau này và cần có các giải pháp pháp lý mạnh
mang tính bắt buộc để BCTC khu vực công của Nhật Bản cung cấp thông tin đánh
giá trách nhiệm giải trình.
Tài liệu nghiên cứu của Allison và các cộng sự (2009) được phát hành bởi
7.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước
Lê Thị Cẩm Hồng (2013) về xây dựng và hoàn thiện hệ thống BCTC áp dụng
cho đơn vị hành chính sự nghiệp ở Việt Nam theo định hướng Chuẩn mực kế toán
công quốc tế. Nghiên cứu tiến hành tìm hiểu hệ thống Chuẩn mực kế toán công
quốc tế, một số khái niệm khi áp dụng CMKT công đối với một số quốc gia trên thế
giới. Nghiên cứu cũng đề cập đến thực trạng BCTC của đơn vị hành chính sự
nghiệp ở Việt Nam hiện nay. Bên cạnh đó, tác giả đề xuất các giải pháp hoàn thiện
hệ thống BCTC của các đơn vị hành chính sự nghiệp gắn liền với CMKT công quốc
tế trên cơ sở dồn tích, định hướng xây dựng BCTC để cung cấp thông tin minh
bạch, đầy đủ, đáng tin cậy. Tác giả cũng đề xuất các ý kiến nhằm xây dựng và hoàn
9
thiện hệ thống BCTC tại các đơn vị hành chính sự nghiệp để hài hòa với IPSASs và
phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam. Tuy nhiên nghiên cứu chỉ tập trung vào
những sửa đổi, bổ sung để xây dựng và ban hành thành công CMKT công, hoàn
thiện hệ thống BCTC trong đơn vị hành chính sự nghiệp gắn với cơ sở dồn tích.
Những giải pháp hoàn thiện tập trung vào các phương pháp lập, xây dựng hệ thống
tài khoản, cơ sở xây dựng BCTC, danh mục báo cáo, điều kiện thực hiện và cách
trình bày thông tin trên BCTC. Nghiên cứu chưa đi sâu vào tìm hiểu các vấn đề liên
quan đến tính minh bạch thông tin trên BCTC cũng như các tiêu chí, đặc tính chất
lượng của BCTC.
Trần Hoàng Tâm (2013) về hoàn thiện hệ thống kế toán áp dụng cho các đơn
vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam. Nghiên cứu đã khái quát cơ sở lý luận, quy định
trong lĩnh vực kế toán công Việt Nam nói chung và kế toán áp dụng cho các đơn vị
sự nghiệp có thu nói riêng. Từ đó có những nhận định làm tiền đề cho các đề xuất
thay đổi cần thiết đối với hệ thống pháp lý. Tác giả cũng đánh giá thực trạng áp
dụng kế toán tại các đơn vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam. Từ đó tác giả đề ra các
biện pháp cụ thể để hoàn thiện hệ thống kế toán áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp
của thông tin trên báo cáo tài chính đối với các trường Đại học và Cao đẳng công
lập tại Việt Nam” đã chỉ ra thực trạng BCTC của các trường Đại học, Cao đẳng tại
Việt Nam chưa đạt được các tiêu chí chất lượng như hiện nay và khó khăn khi tiếp
xúc với BCTC. Đồng thời vấn đề công bố thông tin hạn chế cho thấy BCTC của các
đơn vị hiện nay không đạt được sự minh bạch cao. Vì vậy, tác giả đề xuất một số
kiến nghị quan trọng nhằm cải thiện thực trạng. Đối với Chính phủ, tác giả đề xuất
3 giải pháp, trong đó gồm: sửa đổi và hoàn thiện quy định Nhà nước về cơ chế quản
lý công, tự chủ tài chính, chế độ kế toán HCSN nhằm chuẩn bị cho lộ trình triển
khai áp dụng chuẩn mực kế toán công; tăng cường kiểm toán, thanh tra tình hình sử
dụng ngân sách của các đơn vị sử dụng NSNN; ban hành quy định về yêu cầu công
khai BCTC và xử phạt đối với các đơn vị không tuân thủ. Mặt khác, tác giả cũng đề
cập đến vấn đề Bộ Tài chính cần có những định hướng lâu dài đối với các văn bản
pháp lý và bổ sung thêm những quy định về chất lượng BCTC, các thông tin cần có
trên thuyết minh BCTC, cũng như nhìn lại, điều chỉnh những mâu thuẫn, chồng
chéo giữa các văn bản. Song song với đó, tác giả cũng kiến nghị những biện pháp
cho bản thân các trường Đại học, Cao đẳng công lập nhằm cải thiện tính minh bạch
11
và chất lượng BCTC, gồm: tăng cường tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ;
ban hành các quy trình nghiệp vụ đơn giản; thường xuyên đào tạo, nâng cao trình độ
kế toán viên; đẩy mạnh liên kết dữ liệu giữa các bộ phận trong đơn vị; hoàn thiện
quy chế chi tiêu nội bộ để phù hợp với quy định Nhà nước và tình hình thực tế của
đơn vị; thường xuyên công khai tình hình tài chính của đơn vị qua các tập san, báo
cáo tổng kết hoặc qua phương tiện thông tin đại chúng khác.
Nguyễn Thị Thu Hiền (2015) trong nghiên cứu “Hoàn thiện báo cáo tài chính
khu vực công Việt Nam”, kết quả nghiên cứu cho thấy khu vực công Việt Nam hiện
nay tồn tại song song quá nhiều chế độ kế toán, cùng là đơn vị công nhưng mỗi
ngành nghề, lĩnh vực đặc thù lại có chế độ kế toán riêng. Chính vì vậy, BCTC khu
vực công; nâng cao trình độ chuyên gia, chuyên viên kế toán khu vực công; tăng
cường vai trò công tác kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ, kiểm toán độc lập, kiểm
toán Nhà nước. Nghiên cứu được tiến hành trên đối tượng là các đơn vị hành chính
sự nghiệp. Trên cơ sở kế thừa kết quả từ nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hiền, tác
giả có thể đi sâu hoàn thiện báo cáo tài chính của các trường Đại học công lập, là
đơn vị hành chính sự nghiệp.
Từ những phân tích trên, tác giả sẽ kết hợp nghiên cứu của Nguyễn Thị
Thu Hiền (2015) và của Trần Minh Dạ Hạnh (2014) để làm nền tảng khi nghiên
cứu các giải pháp nhằm hoàn thiện BCTC hướng đến mục tiêu minh bạch hóa thông
tin kế toán các trường Đại học công lập trên địa bàn TP Hồ Chí Minh.
7.3 Đánh giá chung những nghiên cứu đã thực hiện
Nhìn lại các công trình nghiên cứu ngoài nước có liên quan đến đề tài mà tác
giả đã lựa chọn, tác giả nhận thấy một số công trình đi vào nghiên cứu BCTC của
các trường Đại học và Cao đẳng, vai trò của thông tin tài chính trong trường học và
hướng dẫn thực hiện các bút toán cơ bản trong các đơn vị này. Bên cạnh đó, một số
nghiên cứu tìm hiểu nhu cầu, mục đích của người sử dụng BCTC công. Tuy nhiên,
những nghiên cứu này tập trung khai thác vấn đề hoàn thiện BCTC theo quy định
quốc tế mà chưa đưa ra các giải pháp cụ thể để đánh giá tính minh bạch của BCTC.
Bên cạnh đó, nghiên cứu chưa xây dựng tiêu chí cần thiết đối với tính minh bạch
của BCTC.
13
Tại Việt Nam, chưa có nhiều tác giả nghiên cứu chuyên sâu về BCTC của một
loại đơn vị đặc thù thuộc khu vực công Việt Nam, như trường Đại học công lập.
Tuy nhiên, các nghiên cứu đã đề xuất nhiều giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện
BCTC theo định hướng Chuẩn mực kế toán công quốc tế. Những giải pháp này phù
hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội của Việt Nam. Bên cạnh đó, vấn đề nâng cao tính
minh bạch BCTC đối với khu vực công được đề cập trong các nghiên cứu như một
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THÔNG TIN KẾ TOÁN, BCTC KHU
VỰC CÔNG VÀ VẤN ĐỀ MINH BẠCH THÔNG TIN KẾ TOÁN KHU VỰC
CÔNG
1.1 Tổng quan về thông tin kế toán
Kế toán là nghệ thuật thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về toàn bộ tài sản
và sự vận động của tài sản (hay là toàn bộ thông tin về tài sản và các hoạt động kinh
tế tài chính) trong đơn vị. Kế toán được phân loại gồm kế toán tài chính và kế toán
quản trị. Tuy nhiên, trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ tập
trung vào kế toán tài chính. Do đó, thông tin kế toán được hiểu là những thông tin
xảy ra trong quá khứ được kế toán ghi nhận sao cho đảm bảo tính khách quan và có
thể kiểm tra được. Thông tin kế toán chỉ được theo dõi dưới hình thái giá trị (Cao
Xuân Hợp, 2015).
Để cung cấp thông tin thật sự hữu dụng và liên quan đến việc quản lý tài chính
trên quy mô toàn đơn vị, cần có một số công cụ theo dõi những hoạt động hàng
ngày của đơn vị, trên cơ sở đó tổng hợp các kết quả thành các bản báo cáo kế toán.
Thông tin kế toán được cung cấp, dựa trên việc tôn trọng các nguyên tắc kế
toán được thừa nhận và được sử dụng phổ biến trong quá trình thu thập và xử lý.
Nói cách khác kế toán phải đảm bảo tính thống nhất theo các nguyên tắc và chuẩn
mực kế toán nhất định để mọi người có cách hiểu giống nhau về thông tin kế toán
đặc biệt là báo cáo tài chính. Đồng thời phải tuân thủ các quy định của pháp luật
hiện hành, đặc biệt là những yêu cầu quản lý tài chính và các yêu cầu của xã hội
thông qua việc công bố những số liệu mang tính bắt buộc (Gelinas, Sutton & Oram,
1999).
1.2 Tổng quan về báo cáo tài chính khu vực công
1.2.1 Khái niệm về báo cáo tài chính khu vực công
Theo International Public Sector Accounting Standards Board (IPSASB)
(2013), BCTC của khu vực công là một trình bày có cấu trúc về tình hình tài chính
và hoạt động của một đơn vị. Mục tiêu của báo cáo tài chính dành cho khu vực công
thông tin riêng, như: cơ quan
thuế, cơ quan quản lý NSNN,
đơn vị cấp trên, kiểm toán,
ngân hàng, …
Cung cấp thông tin hữu ích cho việc
Mục tiêu ra quyết định và giải trình.
Cung cấp thông tin hữu ích
cho các mục đích riêng. Tùy
theo từng đối tượng sẽ có mục
BCTC
đích khác nhau.
Thông
BCTC cung cấp các thông tin sau:
Thông tin cung cấp trên BCTC
tin cung
Tình hình hoạt động, Tình hình tài
không theo khuôn mẫu định
cấp & số chính, Sự thay đổi tài sản thuần,
chuẩn
IPSASs và hầu hết các chuẩn mực kế
bắt buộc tuân thủ toàn bộ.
mực &
toán công tại các quốc gia trên thế
nguyên
giới ban hành để phục vụ cho việc
tắc kế
cung cấp thông tin BCTC mục đích
Sự tuân
thủ
toán
chung.
Bắt buộc công bố công khai rộng rãi,
Không bắt buộc công khai
công