Đánh giá hiện trạng quản lý và sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật tới môi trường đất tại xã cao xá, huyện lâm thao, tỉnh phú thọ - Pdf 43

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

PHẠM QUANG MINH

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG
PHÂN BÓN, THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT TỚI MÔI
TRƯỜNG ĐẤT TẠI XÃ CAO XÁ, HUYỆN LÂM THAO,
TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành:
Mã số:
Người hướng dẫn khoa

Khoa học môi trường
60.44.03.01
PGS.TS. Nguyễn Như Hà

học:

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết quả nêu
trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình
nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn đã
được cảm ơn, các thông tin trích dẫn đã chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2016
Tác giả luận văn

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN.................................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN......................................................................................................................ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Nghĩa tiếng Việt

iii


BVTV
HCHC
HCVC
HTX
ICM
IPM
KLN
LUT
PBHC
PBHH
PBVC
UBND

Bảo vệ thực vật
Hợp chất hữu cơ
Hợp chất vô cơ
Hợp tác xã
Integrated Crop ManagementChương trình quản lý cây trồng tổng hợp

Bảng 4.13. Tình trạng hiểu biết về sử dụng phân bón của các nông hộ tại xã Cao
Xá.........................................................................................................................................60
Bảng 4.14. Danh sách các loại thuốc BVTV chính ở địa phương...............................61
Bảng 4.15. Tình trạng sử dụng thuốc BVTV cho các cây trồng chính......................63
tại xã Cao Xá......................................................................................................................63
Bảng 4.16. Thời gian cách ly của một số loại cây trồng đối với thuốc BVTV..........65
Bảng 4.17. Thực trạng sử dụng dụng cụ bảo hộ lao động của các hộ nông dân......65
Bảng 4.18. Ðánh giá mức độ ảnh hưởng xấu của tình trạng sử dụng thuốc BVTV
cho các cây trồng tại xã Cao Xá (% so với hướng dẫn)...............................................66
Bảng 4.19. Tình trạng hiểu biết về sử dụng thuốc BVTV của các nông hộ tại xã Cao
Xá.........................................................................................................................................67
Bảng 4.20: Tình trạng các cửa hàng kinh doanh phân bón và thuốc BVTV...........69
tại xã Cao Xá......................................................................................................................69
Bảng 4.21. Các hoạt động tuyên truyền về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật..............70

v


DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1. Sự thất thoát đạm khi bón phân đạm thông thường....................................9
Hình 2.2. Con đường phát tán của thuốc BVTV trong môi trường...........................19
Hình 2.3. Con đường di chuyển của thuốc bảo vệ trong môi trường đất..................20
Hình 2.4. Tác hại của thuốc bảo vệ thực vật.................................................................25
Hình 2.5. Tiêu thụ phân bón hóa học ở Việt Nam giai đoạn 1962 – 2009.................28
(IFA, 2011)..........................................................................................................................28
Hình 4.1. Xã Cao Xá, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ................................................42
Hình 4.2. Thời điểm phun thuốc BVTV cho các loại cây trồng..................................62
Hình 4.3. Sơ đồ hệ thống phân phối thuốc phân bón và BVTV tại xã Cao Xá........68

vi

-

Phương pháp thu thập số liệu;
+ Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp.
+ Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp.

OM;

Phương pháp lấy mẫu đất: Lấy mẫu trực tiếp tại địa bàn nghiên cứu;
Phương pháp phân tích đất: Phân tích các chỉ tiêu N, P, K tổng số và dễ tiêu, pH,

vii


-

Phương pháp xử lý số liệu:
+ Xử lý kết quả điều tra, thống kê bằng phần mềm excel so sánh với quy
trình quy chuẩn của Nhà nước.
+ Xử lý mẫu đất sau phân tích: so sánh với chất lượng đất theo quy định
của Nhà nước.

- Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn các đối tượng am hiểu tại địa phương, tham
khảo ý kiến chuyên gia.
3. Kết quả chính và kết luận
- Cao Xá là một xã nông nghiệp lớn có diện tích tự nhiên 1136,02 ha, dân số 9.046
người với diện tích đất canh tác khoảng 500 ha. Tại xã hiện có các cây trồng chính: lúa,
ngô, đậu tương, cà chua, cải bắp được trồng trong 5 loại hình sử dụng đất chính.
- Người dân bón phân thường không theo hướng dẫn. Nên làm giảm hiệu quả và
tăng khả năng tác động xấu đến môi trường.

Determining the current status of using and managing the fertilizers and

plant protection products at Cao Xa commune, Lam Thao district, Phu Tho Province.


Determining the effects of using and managing the fertilizers and plant

protection products to local soil.
• Suggesting some solutions of using and managing the fertilizers and plant
protection products for higher productivity and less damage to environments.
Research contents and Methods
a. Research contents
- Natural, economical, social properties of Cao Xa Commune.
- Assessment of the current using fertilizers and pesticides in Cao Xa commune.
- Assessment of the management the fertilizers and plant protection products in
Cao Xa commune.
- Suggesting some solutions of using and managing the fertilizers and plant
protection products for higher productivity and less damage to environments.


Determining the way that Fertilizers and

plant protection products affect to the environments.


Proposing solutions to minimize the affects of Fertilizers and

plant protection products to the environments.
b. Methods
- Collecting data method: primary and secondary;

Ở Việt Nam, sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh
tế đất nước và trong vấn đề đảm bảo an ninh lương thực, góp phần nâng cao đời
sống của người dân. Sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất
nông nghiệp là biện pháp đang được sử dụng phổ biến nhằm nâng cao hiệu quả
trong quá trình sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, do điều kiện sống, điều kiện lao
động và nhận thức của người dân còn hạn chế nên việc sử dụng phân bón, thuốc
bảo vệ thực vật đã bị lạm dụng quá mức, nhiều loại thuốc đã bị cấm sử dụng hoặc
không rõ nguồn gốc vẫn được lưu hành và sử dụng một cách tùy tiện. Chính
những điều đó đã dẫn đến hậu quả làm suy thoái đất, ô nhiễm môi trường và làm
mất cân bằng sinh thái, trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
Cao Xá là một xã sản xuất nông nghiệp chính của của huyện Lâm Thao
tỉnh Phú Thọ. Do dân số ngày càng tăng nhanh, tác động của quá trình đô thị hóa
làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp dẫn đến việc người dân
phải thâm canh sản xuất cao với việc sử dụng nhiều phân hóa học, thuốc bảo vệ
thực vật trong sản xuất. Trong khi yêu cầu đặt ra là đảm bảo nhu cầu lương thực,
thực phẩm cho huyện đã tạo ra sức ép khá lớn lên diện tích đất nông nghiệp nhỏ
hẹp này, đòi hỏi cần có những biện pháp kỹ thuật tác động để nâng cao năng suất
cây trồng trong khoảng thời gian ngắn. Tuy nhiên, thâm canh cao trong nông
nghiệp gắn liền với việc tăng cường sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu,
thuốc trừ cỏ đã làm ảnh hưởng xấu tới môi trường xung quanh.
Do vậy, việc tìm hiểu thực trạng quản lý và sử dụng phân bón, thuốc
BVTV trong sản xuất nông nghiệp của xã và dư lượng của nó trong đất, nước là
điều rất quan trọng và hết sức cần thiết. Để từ đó đưa ra được những biện pháp
quản lý và kiểm soát cũng như các biện pháp kỹ thuật phù hợp trong sản xuất
nông nghiệp, vừa đáp ứng được nhu cầu lương thực trong khu vực vừa đảm bảo
chất lượng môi trường xung quanh.
Vì những lý do nêu trên chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng
quản lý và sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật tới môi trường đất tại xã
Cao Xá, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ”.


Phân bón là những chất chứa một hay nhiều nguyên tố dinh dưỡng cần thiết
với cây, được sử dụng cho cây trồng với mục đích không ngừng làm tăng năng
suất, chất lượng nông sản và độ phì nhiêu đất. Đây là một trong những vật tư
quan trọng và không thể thiếu cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp. Các loại
phân bón rất đa dạng và phong phú không chỉ về chủng loại mà còn cả về thành
phần, tính chất và đặc điểm sử dụng... (Nguyễn Như Hà, 2010).
Trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay đang sử dụng hàng
nghìn dang phân bón thương phẩm có thành phần, tính chất và cách sử dụng
khác nhau, nhưng có thể tập hợp lại thành 4 nhóm: phân hữu cơ, phân vô cơ,
phân vi sinh vật và phân sinh hoá (Nguyễn Như Hà và Nguyễn Văn Bộ, 2013).
Trong đó:
Phân hữu cơ là các loại chất hữu cơ vùi vào đất sau khi phân giải có khả
năng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây và quan trọng hơn có tác dụng cải tạo đất
lớn. Phân hữu cơ bao gồm: phân chuồng (phân gia súc), phân bắc, nước giải,
phân gia cầm, rác đô thị sau khi ủ, phân xanh, than bùn, các phế phẩm của công
nghiệp thực phẩm (đồ hộp, ép dầu) và cả các tàn thể thực vật vùi trực tiếp vào
đất. Đây là các loại phân có chứa chất khô chủ yếu là hữu cơ với hàm lượng dinh
dưỡng khoáng rất thấp nên thường có chức năng chủ yếu để ổn định hàm lượng
mùn cho đất trong nông nghiệp hiện đại nhưng cũng có thể là nguồn phân chính
của sản xuất nông nghiệp hữu cơ.
Phân vô cơ là các loại phân bón sản xuất trong công nghiệp hoá chất nên
thường gọi là phân hoá học. Các phân hóa học có tác dụng cung cấp trực tiếp
các chất dinh dưỡng khoáng thiết yếu cho cây trồng ở dạng cây dễ hấp thu ( dễ
tiêu). Các phân hóa học có khả năng cung cấp trực tiếp các chất dinh dưỡng
khoáng thiết yếu (thức ăn) cho cây trồng ở dạng cây dễ hấp thu (dễ tiêu) , tùy
theo chất dinh dưỡng chính có chứa trong phân mà còn gọi là phân đa lượng
(N,P,K); phân trung lượng (Ca,Mg,S,Si); phân vi lượng (đồng, sắt, mangan, bo,
molipđen, kẽm, clo).

3

bón rễ và phân bón lá (Nguyễn Như Hà và Nguyễn Văn Bộ, 2013). Trong đó:
Phân bón rễ là các loại phân bón được bón trực tiếp vào đất hoặc vào nước để
cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng thông qua bộ rễ. Đây là con đường cung cấp
dinh dưỡng chủ yếu cho cây nên trong thực tế các loại phân bón rễ có số lượng
áp đảo; Phân bón lá là các loại phân bón được sử dụng dưới dạng dung dịch để
tưới hoặc phun trực tiếp vào lá hoặc thân nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho

4


cây thông qua thân, lá. Đây là hình thức cung cấp dinh dưỡng có giá trị số lượng
hạn chế của thực vật. Nồng độ dung dịch phân bón sử dụng cũng có khả năng
ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của phân bón lá. Nồng độ thấp gây tốn công sử
dụng, nồng độ quá cao có thể gây hại cho bề mặt lá và cây.
2.1.2. Vai trò của phân bón trong sản xuất nông nghiệp
Vai trò rất quan trọng của phân bón đối với năng suất và sản lượng cây
trồng có thể thấy ở khắp mọi nơi. Nhiều cuộc điều tra tổng kết về vai trò của
phân bón với cây trồng ở khắp các Châu lục trên thế giới đều cho thấy, trong số
các biện pháp kỹ thuật trồng trọt liên hoàn, bón phân luôn là biện pháp kỹ thuật
có ảnh hưởng lớn nhất, quyết định nhất đối với năng suất cây trồng (Nguyễn Như
Hà và Lê Bích Đào, 2010). Theo tổ chức FAO, trong thập niên 70-80 của thế kỷ
XX, trên phạm vi trên toàn thế giới trung bình phân bón quyết định 50% tổng sản
lượng nông sản tăng thêm. Thực tiễn sản xuất ở nhiều nước trên thế giới, cũng
như ở Việt Nam cho thấy, không có phân hoá học không thể có năng suất cao. Ở
các nước có hệ thống nông nghiệp phát triển trong hơn 100 năm gần đây (từ khi
bắt đầu sử dụng phân bón hoá học), hơn 60% năng suất cây trồng tăng là nhờ sử
dụng phân khoáng.
Bảng 2.1. Sử dụng phân hoá học và năng suất lúa tại một số nước
Quốc gia



5,72

6,26

6,55

372,6

385,5 324,5

272,1

5,63

5,13

6,38

6,70

6,51

261,9

351,4

418,7 301,1

257,9


55,2

26,1

400,3* 2,01

2,08

3,19

4,24

5,34

59,7

2000

Nãngsuấtlúa,tạ/ha

99,7

104,9 365,6

Ghi chú: * Số liệu 2010

Nguồn: Nguyễn Như Hà và Lê Bích Đào (2010)

Trong mối quan hệ với các biện pháp kỹ thuật trồng trọt liên hoàn (làm đất,

phân lân. Vì vậy bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng không chỉ làm tăng
năng suất mà còn làm tăng chất lượng sản phẩm như: hàm lượng các chất
khoáng, protein, đường, bột và vitamin,... Điều này được thể hiện rõ trong nhiều
công trình nghiên cứu và thực tiễn sản xuất ở khắp nơi trên thế giới (Nguyễn
Như Hà và Lê Bích Đào, 2010).
Do những tác dụng trên của phân bón mà việc sử dụng phân bón hiệu quả
sẽ làm tăng nhiều thu nhập và lợi nhuận cho người sản xuất. Theo GS.VS Andre
Gros (1977): Một trong những điều kiện cơ bản của lợi nhuận nông nghiệp là tận
dụng được vốn kinh doanh, trong đó vốn dùng cho phân bón có tác dụng kích
thích lãi và không nên hà tiện. Kinh nghiệm ở Pháp cho thấy việc tăng chi phí về
phân bón thường đi đôi với việc tăng thu nhập và lãi thuần. Bón phân cân đối
trong trồng trọt còn giải quyết được mâu thuẫn giữa việc đạt năng suất cây trồng

6


cao và chất lượng sản phẩm để đảm bảo thu nhập cao cho nông dân. Người trồng
trọt có thể bón phân để đạt lợi nhuận tối đa từ một đơn vị diện tích trồng trọt
thông qua việc xác định được lượng phân bón và năng suất tối ưu kinh tế càng
cao trong mối quan hệ với các biện pháp kỹ thuật trồng trọt liên hoàn tiên tiến.
Như vậy bón phân cân đối và hợp lý không chỉ quyết định năng suất, chất
lượng nông sản cao, mà còn là cơ sở quan trọng cho việc đảm bảo an toàn thực
phẩm và lợi nhuận tối đa cho người sản xuất mà không gây hại môi trường.Tuy
nhiên để sử dụng phân bón hợp lý cần hiểu biết không chỉ về phân bón mà còn
những điều kiện cho sử dụng phân bón hợp lý (Nguyễn Như Hà và Nguyễn Văn
Bộ, 2013).
2.1.3. Vai trò tích cực của phân bón với môi trường
Trong trồng trọt cần bón phân cho cây trồng ngoài việc nhằm đạt năng
suất cây trồng cao thoả đáng với chất lượng tốt, hiệu quả sản xuất cao, còn để ổn
định và bảo vệ được đất trồng. Vì để bón phân đúng, người sản xuất cần tuân thủ

tổng lượng phân đạm và 35-40% của lượng đạm dễ tiêu có trong phân chuồng đã
được sử dụng. Kết quả vừa làm giảm hiệu quả của việc bón phân vừa tạo điều
kiện để phân bón ảnh hưởng xấu tới môi trường.
Khi bón phân vào đất, chỉ một phần được cây trồng sử dụng, phần còn lại
chúng tích lũy trong môi trường nước, đất hoặc bay hơi vào khí quyển. Theo
Trần Văn Chiến và Phan Trung Quý riêng khí metan, hàng năm trên thế giới thải
ra khoảng 250 triệu tấn, trong đó các hoạt động nông lâm nghiệp chiếm khoảng
40 – 46%, ngoài ra trong quá trình sản xuất phân bón làm phát thải ra một lượng
lớn các khí thải (NH3, CH4, CO2…), hệ quả của nó là tạo ra hiện tượng hiệu ứng
nhà kính. Do vậy làm suy giảm tầng ozon, quá trình được minh họa bằng các
phương trình:
CO + O3

CO2 + O2

NO + O3

NO2 + O2

CH4 + O3

CO2 + H2O

Hiệu ứng nhà kính và suy giảm tầng ozon làm cho quá trình cản trở tia
hồng ngoại giảm, mặt đất chịu thêm tác dụng của tia năng lượng, đồng thời cũng
ảnh hưởng đến cả phần hơi nước của tầng khí quyển. Hệ quả của các quá trình
này là làm trái đất nóng lên, hạn hán, cháy rừng, sa mạc hóa…
Dư thừa đạm trong đất hoặc trong cây đều gây nên những tác hại đối với
môi trường và sức khỏe con người. Do bón quá dư thừa hoặc do bón đạm không
đúng cách đã làm cho Nito và Photpho theo nước xả xuống các thủy vực là


không gây hại cho người và các loài động vật. Lượng dư thừa kali trong môi
trường nông nghiệp có hại nhất về các mặt sau đây:Thay đổi tính chất keo đất,
ion K+ thay thế Ca2+ làm tính bền, khả năng tồn tại liên kết của keo đất giảm dẫn
đến rửa trôi dễ xảy ra. Mặt khác cũng làm axit hóa đất. Nồng độ ion K+ cao
trong đất và dung dịch đất có thể dẫn đến hiện tượng làm tăng áp suất thẩm thấu
của đất. Kết quả là khả năng cung cấp nước cũng kém đi. Mặt khác áp suất thẩm
thấu tăng làm cây trồng mất nước, chống hạn yếu và cung cấp dinh dưỡng từ đất
cũng kém hơn (Nguyễn Đình Mạnh, 2000).
Trong các loại phân bón sử dụng khối lượng lớn trong nông nghiệp, phải
kể đến các loại phân hữu cơ. Đại đa số các loại phân bón này có hàm lượng kim
loại nặng thấp, song lại được sử dụng với khối lượng lớn nên lượng tồn đọng là
đáng kể. Phân bón hữu cơ có phân chuồng và bã thải vệ sinh khu dân cư cũng
như nước thải từ khu dân cư luôn luôn mang theo các loài vi sinh vật, vi trùng,
siêu vi trùng, trứng và ấu trùng giun, sán. Tất cả những loài đó cùng với sự phân
hủy các loại phân hữu cơ khác (như phân xanh, phân rác) trong môi trường sẽ tạo
điều kiện để chúng tồn tại và phát triển hơn nếu không có biện pháp xử lý.
Vì vậy đã có nhiều kết quả nghiên cứu khẳng định về ảnh hưởng xấu của
phân bón tới môi trường: Sự ô nhiễm nitrat nguồn nước ngầm; Hiện tượng phản
nitrat hoá làm ô nhiễm không khí; làm đất hoá chua; Hiện tượng tích đọng kim
loại nặng Cu, Pb, Zn, Cd,... trong nước và đất; Hiện tượng phú dưỡng nguồn
nước mặt. Những nghiên cứu cơ bản lâu năm ở Đức, Anh... cho thấy khả năng
gây ô nhiễm môi trường từ phân hữu cơ, có khi còn cao hơn cả phân hoá học,
liên quan tới đặc điểm chuyển hoá và sử dụng chúng. Nguy cơ gây ô nhiễm môi
trường từ việc sử dụng phân bón hữu cơ ở Việt Nam còn do sử dụng phân bắc
tươi trong trồng rau...
Việc bón phân không đủ trả lại lượng chất dinh dưỡng lấy theo sản phẩm
thu hoạch, làm suy thoái đất trồng đang là vấn đề môi trường không nhỏ ở Việt
Nam (Nguyễn Đình Mạnh, 2000).
2.1.5. Khả năng ảnh hưởng xấu của phân bón đến sức khỏe con người

Làm tăng hàm lượng kim loại nặng trong đất, đặc
biệt là Cd
Mầm bệnh từ phân chuồng
Độc hại cho sức khỏe của người và động vật
H2SO4 và HNO3 tạo ra trong đất do Gây chua đất
oxit hóa phân S.A
Gây hại cho khí quyển
NH3 từ ruộng lúa và phân chuồng
Mùi, tạo ra mưa acid
NO, NO2 và N2O từ phân hóa học
Làm suy thoái tầng ozon và khí hậu toàn cầu
nóng lên
CH4 từ ruộng lúa và động vật
Hiệu ứng nhà kính, làm khí hậu toàn cầu nóng lên
hơn
Nguồn: Nguyễn Đình Mạnh (2000)

Theo các chuyên gia của Ủy ban liên chính phủ về thay đổi khí hậu
(IPCC), sử dụng phân khoáng đặc biệt là phân lân lâu dài với lượng lớn cho cây
trồng có thể dẫn đến làm tăng hàm lượng độc tố Cd trong đất, khi đi vào trong
sản phẩm gây tác động xấu đến sức khỏe con người.
Khi sử dụng phân đạm nhiều gây ra rửa trôi NO 3- trong nước ngầm, tích
đọng trong nông sản, theo chuỗi thức ăn chúng đi vào cơ thể người gây hại đến
sức khỏe của con người. NO3- gây độc đến cho con người là do sự chuyển hóa từ
NO3- thành NO3-, NO2- đi vào cơ thể người, nó ngăn cản sự kết hợp của oxi với
hemoglobin làm cho quá trình trao đổi khí của hồng cầu không thực hiện được,
gây hại đặc biệt với trẻ nhỏ.

11


chất dinh dưỡng thiết yếu với lượng và tỷ lệ thích hợp cho từng đối tượng cây
trồng, đất, thời kỳ sinh trưởng, mùa vụ cụ thể. Để bón phân hợp lý cho mỗi cây
trồng cần có một quy trình bón phân hợp lý. Tróng đó có xem xét chi tiết các nội
dung cụ thể của việc bón phân: Loại phân bón, lượng phân bón dạng phân bón và
phương pháp bón phân trên cơ sở khảo sát các vấn đề liên quan tới việc sử dụng

12


phân bón là: đặc điểm cây trồng, đặc điểm đất trồng, đặc điểm khí hậu thời tiết,
chế độ luân canh cây trồng, kỹ thuật trồng trọt, chế độ tưới và đặc điểm của các
loại phân bón. Để trên cơ sở đó việc bón phân sẽ bón đúng đất, bón đúng cây,
đúng thời gian, đúng chủng loại, đúng liều lượng và tỉ lệ với các phương pháp xử
lý phù hợp (Nguyễn Như Hà và Nguyễn Văn Bộ, 2013).
Như vậy bón phân cân đối và hợp lý hạn chế tới mức tối đa khả năng mất
chất dinh dưỡng từ phân bón do rửa trôi và bay hơi, tiết kiệm tiền cho nông dân
và đồng thời bảo vệ môi trường. Khi đồng ruộng được duy trì ở mức độ phì cao
giúp cây sinh trưởng khoẻ, và càng chiếm nhiều thời gian trong năm càng tốt và
với những phương pháp quản lý tốt nhất thì lượng dinh dưỡng bị mất vào nước
và không khí rất ít, làm giảm nhẹ tổn thất do ô nhiễm.
Để bón phân hợp lý việc xác định được tổng lượng và các dạng phân cần
bón cho cây trồng có vai trò rất quan trọng, nhưng còn chưa đủ vì còn phải quan
tâm bón phân như thế nào để cây trồng hấp thu được nhiều nhất, hiệu quả nhất
trong quá trình sinh trưởng, trong mối quan hệ với tính chất đất, đặc điểm khí hậu
thời tiết và kỹ thuật canh tác. Trong đó đặc biệt quan tâm làm sao để việc bón
phân vào đất, đúng vào vùng mà hệ rễ của cây trồng có thể hấp thu được nhiều
nhất và ít bị đất giữ chặt. Đồng thời phải quan tâm để phân bón ít bị mất do rửa
trôi và bay hơi trong quá trình sử dụng phân bón cho cây trồng. Nói cách khác
cần có phương pháp bón phân như thể nào để đảm bảo việc bón phân hợp lý. Do
tất cả các cây trồng trong quá trình sinh trưởng cần nhận được lượng và tỷ lệ các

rụng lá, làm khô cây, giúp cho việc thu hoạch mùa màng bằng cơ giới được
thuận tiện (thu hoạch bông vải, khoai tây bằng móc…). Những chế phẩm có tác
dụng xua đuổi hoặc thu hút các loài sinh vật gây hại tài nguyên thực vật đến để
tiêu diệt. Trong các nhóm thuốc BVTV trên đây được sử dụng phổ biến hơn cả
là thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh và thuốc trừ cỏ dại. Tuy nhiên, các nhóm thuốc
BVTV chỉ tiêu diệt được một số loài dịch hại nhất định, chỉ phát huy hiệu quả
tối ưu trong những điều kiện nhất định về thời tiết, đất đai, cây trồng, canh
tác…(Chi cục BVTV Phú Thọ, 2009).
Hóa chất BVTV nhiều khi còn được gọi là thuốc trừ dịch hại và khái niệm
này bao gồm cả thuốc trừ các loại ve, bét, rệp hại vật nuôi và côn trùng y tế, thuốc
làm rụng lá cây, thuốc điều hòa sinh trưởng cây trồng (Lê Văn Khoa, 1999).
Tất cả các bộ phận sinh trưởng của cây trồng đều có khả năng hấp thụ
thuốc, vận chuyển và tích lũy thuốc trong cây. Dưới tác dụng của ánh sáng mặt
trời, nhiệt độ, độ ẩm không khí và hoạt động của enzim trong cây, thuốc chuyển
hóa và phân giải thành những sản phẩm không hoặc ít có hại và bài tiết ra ngoài
cây ở thể khí qua khí khổng ở lá hoặc dạng hòa tan trong nước qua nhỏ giọt. Tốc
độ giải độc tùy thuộc vào đặc tính hóa học, lý học của hóa chất, thời kỳ sinh
trưởng của cây, thành phần và tỷ lệ các hợp chất tinh dầu trong thực vật và các
điều kiện ngoại cảnh. Các hợp chất, clo hữu cơ chậm phân giải hơn các hợp chất
carbarmat và lân hữu cơ. Cây đang ở thời sinh trưởng mạnh thuốc bị phân giả

14


Trích đoạn Hình 4.2. Thời điểm phun thuốc BVTV cho các loại cây trồng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status