Đánh giá hiện trạng quản lý và sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất rau trên địa bàn huyện lạng giang, tỉnh bắc giang - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN THỊ NGA
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG
PHÂN BÓN, THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG
SẢN XUẤT RAU TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LẠNG GIANG,
TỈNH BẮC GIANG Chuyên ngành : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Mã số: 60.44.03.11 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐOÀN VĂN ĐIẾM
Hà Nội - 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii

LỜI CẢM ƠN
Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự nỗ lực và cố gắng của bản
thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ các đơn vị và cá nhân. Tôi xin
ghi nhận và bày tỏ lòng biết ơn tới những tập thể, cá nhân đã dành cho tôi sự
giúp đỡ quý báu đó.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng sự giúp đỡ nhiệt tình
của thầy giáo PGS.TS. Đoàn Văn Điếm, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực
hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu của các
thầy, cô giáo trong khoa Tài nguyên và Môi trường – Học viện Nông nghiệp
Việt Nam.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo UBND huyện Lạng
Giang, các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên phòng Tài nguyên và Môi trường,
phòng NN-PTNT, phòng thống kê và UBND các xã đã tạo điều kiện về thời
gian và cung cấp số liệu giúp tôi thực hiện đề tài này.
Cảm ơn sự cổ vũ, động viên và giúp đỡ của gia đình, các anh, chị đồng
nghiệp, bạn bè trong quá trình học tập và thực hiện luận văn.

Hà Nội, ngày 28 tháng 9 năm 2014
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Nga

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv

2.3 Nội dung nghiên cứu 30
2.3 Phương pháp nghiên cứu 30
2.3.1 Thu thập số liệu thứ cấp 30
2.3.2 Thu thập số liệu sơ cấp 31
2.3.3 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu 32
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Lạng Giang 33
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 33
3.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 36
3.2 Hiện trạng sản xuất rau của huyện Lạng Giang 42
3.2.1 Diện tích, sản lượng các loại cây trồng 42
3.2.2 Tình hình sản xuất rau ở huyện Lạng Giang 44
3.3 Hiện trạng quản lý và sử dụng phân bón trong sản xuất rau 53
3.3.1 Sử dụng phân hữu cơ 53
3.3.2 Sử dụng phân vô cơ 54
3.4 Hiện trạng quản lý và sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất rau 58
3.4.1 Chủng loại thuốc BVTV sử dụng trên rau 59
3.4.2 Đánh giá của người dân về sử dụng thuốc BVTV 61
3.5 Đánh giá của người dân về ảnh hưởng của phân bón và thuốc BVTV 67
3.5.1 Nhận thức của người dân về ảnh hưởng của phân bón, thuốc
BVTV tới sức khỏe con người 67
3.5.2 Đánh giá về ảnh hưởng của phân bón, thuốc BVTV đến môi trường 68
3.6 Giải pháp quản lý và sử dụng phân bón, thuốc BVTV 69
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72
1.1 Kết luận 72
1.2 Kiến nghị 73
TÀI LỆU THAM KHẢO 74

Page vi

DANH MỤC BẢNG

STT Tên bảng Trang

1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng các loại rau 8
1.2 Tích lũy kim loại nặng từ phân bón (E.Witter, 1996) 22
1.3 Số lượng vi trùng, trứng giun của một số mẫu phân tích 26
1.4 Tồn dư kim loại nặng trong RAT ở Vân Nội, Đông Anh 28
3.1 Thống kê diện tích đất đai của huyện Lạng Giang 35
3.2 Cơ cấu các ngành kinh tế chủ yếu qua 3 năm (2010-2012) 37
3.3 Tình hình dân số, lao động của huyện qua 3 năm 2010 - 2012 39
3.4 Diện tích và sản lượng của một số cây trồng chính 43
3.5 Khối lượng sản phẩm hàng hóa của huyện Lạng Giang 44
3.6 Một số đặc điểm nông hộ sản xuất rau ở các xã 46
3.7 Tình hình đất đai, lao động của hộ điều tra 47
3.8 Diện tích, sản lượng một số cây trồng chính của các hộ 47
3.9 Các hình thức tiêu thụ chính của nông dân 48
3.10 Ma trận đánh giá SWOT đối với sản xuất rau tại địa phương 52
3.11 Hiện trạng sử dụng phân hữu cơ trong 1 vụ gieo trồng 54
3.12 Lượng phân vô cơ bón cho các cây rau 55
3.13 Lượng thuốc BVTV thực tế và khuyến cáo trên cây trồng 59
3.14 Tỷ lệ sử dụng các loại thuốc BVTV của các hộ sản xuất rau 60
3.15 Tỷ lệ sử dụng các loại thuốc trừ bệnh trong sản xuất rau 60
3.16 Kết quả sử dụng thuốc BVTV của người sản xuất rau 61
3.17 Hiểu biết của người sản xuất rau về nguyên tắc 4 đúng 62
3.18 Nhận thức của người dân về sử dụng thuốc BVTV 63
3.19 Nhận thức về ảnh hưởng của phân bón, thuốc BVTV 68
3.20 Đánh giá ảnh hưởng của phân bón, thuốc BVTV đến môi trường 69

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2

mới hiện nay, vấn đề đặt ra là phải quan tâm đến chất lượng rau, tạo ra một
vùng sản xuất nguồn nguyên liệu sạch, sử dụng ít phân bón và hóa chất bảo vệ
thực vật cung cấp cho người tiêu dùng và làm nguyên liệu cho công nghiệp
chế biến.
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá
hiện trạng quản lý và sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất
rau trên địa bàn huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực
vật trong sản xuất rau trên địa bàn huyện Lạng Giang.
- Đề xuất giải pháp cụ thể trong việc quản lý, sử dụng phân bón, thuốc
bảo vệ thực vật và nâng cao chất lượng rau cho địa phương.
1.3. Yêu cầu của đề tài
- Phân tích được cơ hội và thách thức về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã
hội trong sản xuất rau ở huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đánh giá được thực trạng quản lý và sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ
thực vật đối với rau trên địa bàn huyện Lạng Giang để phát hiện những mặt
hạn chế cần khắc phục.
- Đề xuất được giải pháp khả thi sử dụng phân bón và thuốc BVTV,
nâng cao chất lượng nông sản nhằm bvmt bảo vệ môi trường.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình sản xuất rau an toàn hiện nay
1.1.1. Vấn đề sản xuất rau an toàn

của con người, nhưng rau xanh được biết đến như một yếu tố đóng vai trò cân
bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ khi nhu cầu về các loại lương thực, thực
phẩm giàu Protein đã được đảm bảo. Các loại rau cung cấp một lượng lớn
Vitamin (C, B1-B6, E, K,… ) và nhiều Provitamin A, D… Chất xơ trong rau
có tác dụng ngăn ngừa bệnh tim, huyết áp, bệnh đường ruột; vitamin C giúp
ngăn ngừa ung thư dạ dày và lợi; Vitamin D trong rau giàu caroten có thể hạn
chế nhưng biến cố về ung thư phổi. Ngoài ra, rau còn cung cấp các nguyên tố
khoáng đa lượng, vi lượng cần thiết cho cấu tạo của tế bào, cấu tạo các enzim,
tác nhân xúc tác và điều hoà các quá trình sinh tổng hợp trong cơ thể người.
Đồng thời, rau xanh còn cung cấp một lượng lớn chất xơ có khả năng làm
tăng hoạt động của nhu mô ruột và hệ tiêu hoá.
Bên cạnh giá trị dinh dưỡng, một số loại rau xanh như hành, tỏi, nghệ,
tía tô, mướp đắng… được coi như những vị thuốc rất có giá trị đối với sức
khoẻ con người. Chính vì thế, trong cuộc sống con người, rau xanh đóng một
vai trò hết sức quan trọng và là sản phẩm nông nghiệp được tiêu thụ với số
lượng lớn. Các kết quả nghiên cứu và số liệu thống kê cho thấy, mức độ tiêu
thụ rau xanh trên thế giới tính theo đầu người ngày càng có chiều hướng tăng
cao. So với những nước đang phát triển thì các nước phát triển thường có mức
tiêu thụ rau bình quân đầu người cao hơn.
Các yếu tố cơ bản tác động đến cây trồng bao gồm yếu tố tự nhiên và
các yếu tố kinh tế xã hội, trong đó các yếu tố tự nhiên vừa là điều kiện, vừa là
môi trường sản xuất (Mai Văn Quyền, 1996). Mỗi yếu tố đều có vai trò quan
trọng, phải nghiên cứu nắm vững quy luật chuyển biến của các yếu tố tự
nhiên mà bố trí cây trồng hợp lý, lợi dụng tối đa những ưu thế, hạn chế và né
tránh những mặt bất lợi( Phạm Chí Thành, 1996). Trong sản xuất nông
nghiệp, rau là loại cây trồng quan trọng và không thể thiếu trong hệ thống
trồng trọt. Với lợi thế có thời gian sinh trưởng ngắn, kích thước các loại rau
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5



phong phú đa dạng, tạo ra nguồn thu nhập không nhỏ cho những người sản
xuất. Bên cạnh những mặt tích cực đó thì việc sản xuất rau cũng đang có
nhiều vấn đề cần phải quan tâm như tình trạng sử dụng phân bón, thuốc trừ
sâu không hợp lý gây ngộ độc thực phẩm, môi trường sống bị ô nhiễm.
1.1.2. Tình hình sản xuất rau an toàn trên thế giới
Hiện nay, 120 chủng loại rau được sản xuất ở khắp các lục địa nhưng chỉ
có 12 chủng loại chủ lực được trồng trên 80% diện tích rau trên toàn thế giới.
Loại rau được trồng nhiều nhất là cà chua - 3,17 triệu ha, thứ hai là hành -
2,29 triệu ha, thứ ba là bắp cải - 2,07 triệu ha. Ở châu Á, loại rau được trồng
nhiều nhất là cà chua, hành, bắp cải, dưa chuột, cà tím, ít nhất là đậu Hà Lan.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người, ngoài việc mở rộng diện
tích, năng suất và sản lượng các loại rau cũng không ngừng tăng.
Cũng theo FAO (2001), sản lượng rau tiêu thụ bình quân đầu người toàn
thế giới là 78 kg/năm. Riêng châu Á sản lượng rau 2001 đạt khoảng 487.215
triệu tấn. Trong đó Trung Quốc là nước có sản lượng rau cao nhất, đạt 70
triệu tấn/năm; thứ 2 là Ấn Độ với sản lượng rau đạt 65 triệu tấn/năm. Nhìn
chung, mức tăng trưởng sản lượng rau châu Á các năm qua đạt khoảng 3%
năm, tương đương khoảng 5 triệu tấn/ năm .
Cùng với số lượng, vấn đề chất lượng rau quả cũng đang được người tiêu
dùng trên thế giới rất quan tâm. Tháng 09/2003, Tổ chức bán lẻ châu Âu
(EUREP) đã đề xuất tiêu chuẩn Thực hành nông nghiệp tốt (GAP) nhằm giải
quyết mối quan hệ bình đẳng và trách nhiệm giữa người sản xuất sản phẩm nông
nghiệp và khách hàng của họ. Sản xuất rau an toàn (RAT) theo hướng GAP có thể
được hiểu là sản phẩm khi đưa ra thị trường phải đảm bảo 3 yêu cầu: “An toàn
cho môi trường, an toàn cho người sản xuất và an toàn cho người tiêu dùng”.
Dựa trên những quy định của EUREPGAP phiên bản 2 (1/2004), các
tiêu chuẩn sản xuất rau đã được chuẩn hóa ở mức độ chung nhất cho khu vực,
yêu cầu người nông dân phải tuân thủ và được gọi là ASEANGAP. Các tiêu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8

trong Đề án Phát triển rau, quả, hoa, cây cảnh đã được Chính phủ phê duyệt.
Đến năm 2005, tổng diện tích rau các loại trên cả nước đạt 635,8 nghìn ha,
sản lượng là 9640,3 nghìn tấn; so với năm 1999, diện tích tăng 175,5 nghìn ha
(tốc độ tăng 3,61%/năm), sản lượng tăng 3071,5 nghìn tấn (tốc độ tăng
7,55%/năm). Trong đó, vùng sản xuất rau lớn nhất là Đồng bằng sông Hồng
(chiếm 24,9% diện tích và 29,6% sản lượng rau cả nước), tiếp đến là Đồng
bằng sông Cửu Long (chiếm 25,9% diện tích và 28,3 sản lượng rau cả nước).
Theo báo cáo của Văn phòng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
diện tích gieo trồng rau, đậu cả nước tăng lên liên tục từ quý III năm 2006,
vượt so với cùng kỳ năm 2005. Năm 2006 cả nước đã gieo trồng được 675
nghìn ha rau đậu các loại, tăng 3,3% so với năm 2005.
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất, sản lượng các loại rau

STTVùng
Di
ện tích
(1.000 ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(1.000 tấn)
1999 2005 1999 2005 1999 2005
Cả nước 459,6 635,1 126 151,8 5792,2 9640,3
1

được trồng luân canh với cây lương thực trong vụ đông xuân tại các tỉnh phía
Bắc, Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và tỉnh Lâm Đồng. Tiêu thụ
sản phẩm rau rất đa dạng, phục vụ rau tươi cho cư dân trong vùng, ngoài
vùng, cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu.
Hiện nay, sản xuất rau theo hướng nông nghiệp công nghệ cao đã bước
đầu được hình thành, các phương thức áp dụng như sản xuất trong nhà màn,
nhà lưới chống côn trùng, sản xuất trong nhà plastic không cố định để hạn chế
các yếu tố môi trường bất lợi, trồng rau bằng kỹ thuật thủy canh, màng dinh
dưỡng, nhân giống và sản xuất các loại cây quý hiếm, năng suất cao bằng
công nghệ nhà kính của Israel có kiểm soát các điều kiện môi trường (Mai
Văn Quyền, 1996)
Cục Bảo vệ Thực vật đang triển khai dự án “Hướng dẫn nông dân xây
dựng mô hình sản xuất rau an toàn theo hướng GAP” tại 28 tỉnh thành phố, bao
gồm 6 tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ và 22 tỉnh phía Nam (từ Ninh Thuận trở vào).
Bộ Nông nghiệp & PTNT đã quan tâm chỉ đạo và ban hành Quyết định
106/2007/QĐ-BNN ngày 28 tháng 12 năm 2007 về việc “quy định về quản lý
sản xuất và chứng nhận chất lượng rau an toàn” .Hiện nay, VietGAP là tiêu
chuẩn tự nguyện nhưng đến năm 2015, 100% diện tích SX rau tập trung phải
đáp ứng và đạt được chứng nhận VietGAP (QĐ107/2008/QĐ-TTg). Tính đến
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10

tháng 1/2010, cả nước mới có 15 mô hình sản xuất áp dụng VietGAP được
chứng nhận.
Việt Nam là một nước đang phát triển, nên trong thời gian dài chúng ta
tập trung chủ yếu giải quyết vấn đề tăng năng suất, đảm bảo đủ nhu cầu lương
thực, thực phẩm. Tuy nhiên hiện nay, mục tiêu của người tiêu dùng đang yêu
cầu ngày càng cao các nông sản phải có chất lượng tốt và an toàn vệ sinh thực
phẩm. Thực tế rau an toàn của Việt Nam chưa đáp ứng được các yêu cầu tiêu
chuẩn quốc tế, do đó chỉ mới tiêu thụ chủ yếu trong nước. Để giải quyết vấn

1.2.1. Các loại phân bón trong nông nghiệp
Phân bón là những chất chứa một hay nhiều nguyên tố dinh dưỡng cần
thiết với cây, được sử dụng cho cây trồng với mục đích không ngừng làm tăng
năng suất, chất lượng nông sản và độ phì nhiêu đất. Đây là một trong những
vật tư quan trọng và không thể thiếu cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp.
Có rất nhiều loại phân bón cho cây trồng nhưng xuất phát từ nguồn sản
xuất, nguồn khai thác, số lượng và cách thức bón… người ta có thể chia phân
bón thành 5 loại như sau:
Phân vô cơ: Phân vô cơ hay phân hóa học là các loại phân có chứa yếu
tố dinh dưỡng dưới dạng muối khoáng thu được nhờ các quá trình vật lý, hóa
học. Một số loại phân bón vô cơ thường gặp:
Phân đạm vô cơ:
• Phân Urea [ CO(NH
2
)
2
] có 46% N.
• Phân đạm sunfat còn gọi là đạm SA [ (NH
4
)
2
SO
4
] chưa 21% N.
• Phân clorua amon [ NH
4
Cl ] chứa 24 – 25 % N.
• Phân nitrat canxi [ Ca(NO
3
)

5
.
Phân Kali:
• Phân Kali clorua [ KCl ] có chứa 60% K
2
O.
• Phân Kali sunfat [ K
2
SO
4
] có chứa 48 – 50 % K
2
O.
Ngoài các loại phân trên, trên thị trường còn có các loại phân NPK hỗn hợp.
Phân hữu cơ: phân hữu cơ gồm các chất hữu cơ khi vùi vào đất được vi
sinh vật phân giải và có khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây.
Một số loại phân hữu cơ thường dùng bón cho rau gồm: phân bắc;
nước giải; phân gia súc, gia cầm; phân xanh; rác thải đô thị sau khi ủ thành
phân ủ; phế phẩm của công nghiệp chế biến thực phẩm và tàn dư thực vật vùi
trực tiếp vào đất.
Phân vi lượng: gồm các nguyên tố: Cu, Zn, Mn, B, Mo, Fe, Co…chúng
được bón ở dạng đơn hoặc hỗn hợp.
Phân phức hợp vi sinh: gồm chế phẩm vi sinh, phân vi sinh, phân hữu
cơ vi sinh và phân phức hợp hữu cơ vi sinh.
Phân bón lá: là hỗn hợp của một số phân đa lượng, vi lượng và chất
điều hòa sinh trưởng. Loại phân này dùng để phun lên lá, hoa quả và thân cây.
1.2.2. Sử dụng phân bón trong sản xuất nông nghiệp:
Phân bón là những chất cung cấp dinh dưỡng cho cây, là phương tiện
tốt nhất để tăng sản lượng và cải thiện chất lượng của lương thực, thực phẩm.
Dùng phân bón sẽ cho hiệu quả sản xuất cao nhất trên các loại đất, bổ xung

quân mỗi vụ bón cho 1 ha cây trồng khoảng 5 – 6 tấn phân hữu cơ. Hiện nay
ước tính cũng chỉ bón được 5 – 6 tấn, trừ một số vùng thâm canh cao lượng
bón đạt trên 10 tấn/ha. Ở một số vùng do chăn nuôi giảm sút nên lượng bón
thấp hơn nhiều hoặc cấy chay không phân chuồng (Phạm Đình Quyền, 1995).
Những năm qua, bên cạnh phân hữu cơ từ chăn nuôi, nông dân đã kết
hợp với các nhà khoa học và nhà sản xuất đưa vào sử dụng nhiều loại phân
hữu cơ vi sinh để giảm bớt khó khăn do chăn nuôi hộ gia đình giảm. Qua thực
tế cho thấy, phân hữu cơ vi sinh cho hiệu quả tốt, không chỉ cung cấp đủ các
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14

nguyên tố đa lượng đạm, lân, kali mà còn cung cấp các nguyên tố vi lượng
khác giúp cây trồng sinh trưởng và phát triển.
Việc sử dụng phân hóa học ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 60 của
thế kỉ 20 và chủ yếu là phân đạm. Những thí nghiệm bón phân đạm thực hiện
dưới thời Pháp thuộc cho thấy hiệu quả của phân đạm đem lại rất rõ ràng
(Nguyễn Vi, 1998).
Giai đoạn 1970 – 1980, phân hóa học chiếm hơn 40% tổng lượng phân
bón, lượng phân đạm bón ngày càng tăng. Người dân bắt đầu quan tâm tới
việc bón lân cho cây trồng. Lượng phân hóa học (NPK) trung bình chỉ 43,3
kg/ha vào năm 1974 – 1976.
Giai đoạn 1980 – 1990 người dân sử dụng phân hóa học khoảng 60 –
70% tổng lượng phân bón. Kali được người dân quan tâm sử dụng nhiều hơn.
Giai đoạn 1990 – 2000 lượng phân hóa học sử dụng chiếm 70 – 80%
tổng lượng phân bón. Phân hữu cơ ít được ưa chuộng. Theo thống kê của
FAO bình quân nước ta sử dụng 263 kg N, P
2
O
5
, K


30-35% phân lân và gần 100 % phân kali, tuy nhiên trong nông nghiệp, nông
dân sử dụng phân bón rất lãng phí do chưa hiểu biết hết tác dụng của bón
phân cân đối và hợp lý. Chính vì vậy, hiện nay hiệu suất sử dụng phân đạm
mới chỉ đạt 35-40%, phân lân và kali đạt khoảng 50%. Vì thế việc sử dụng
phân bón cân đối và hợp lý là vấn đề rất quan trọng và cần thiết đối với nông
dân, đặc biệt là nông dân vùng trồng rau.
Theo Hoàng Minh Châu (1998), mọi ô nhiễm chỉ xẩy ra khi dùng phân
không đúng, thường là do dùng quá lượng phân vô cơ. Trong điều kiện thiếu
lương thực, thực phẩm thì mục tiêu chính của việc dùng phân bón là tạo ra
sản phẩm lượng cao dù chất lượng sản phẩm có thể bị giảm và có thể ảnh
hưởng không tốt đến môi trường. Nhưng khi sản xuất đã đủ đáp ứng nhu cầu
lương thực, thực phẩm hoặc đã dư ra thì vấn đề chất lượng sản phảm hoặc
ảnh hưởng của chúng đến ô nhiễm đất, nước, không khí phải có tầm quan
trọng ngang hoặc có khi hơn khối lượng sản phẩm tạo ra.
Về kỹ thuật bón phân thì trước đây, trong sản xuất người dân thường sử
dụng phân tươi để bón cho cây trồng vì họ nghĩ rằng phân tươi vừa có thể làm
cây trồng phát triển tốt lại vừa tận dụng được nguồn phân trong gia đình. Hiện
nay, vẫn còn một số người dân sử dụng phân tươi, còn lại không dùng phân
tươi nhưng với lý do là không còn phân tươi và vì ô nhiễm. Hầu hết người dân
chưa ý thức được trong phân tươi có chứa các vi sinh vật gây hại cho con
người. Vì vậy, không nên dùng phân tươi để bón cho rau.
Trong sản xuất rau thì phân đạm là loại phân quan trọng nhất. Nhưng
nếu bón quá nhiều đạm và không đảm bảo đúng thời gian cách ly ( >=15
ngày) sẽ tồn đọng dư lượng nitơrat trong rau gây bệnh ung thư ở người tiêu
dùng. Sản xuất rau hiện nay hầu hết không đảm bảo thời gian cách ly, nhiều
người sản xuất bón đạm gần sát ngày thu hoạch để rau non và xanh mướt, gây
hại cho người tiêu dùng. Do đó cần nâng cao nhận thức cho người sản xuất
trong cách sử dụng phân đạm nhằm giảm dư lượng nitorat trong rau.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 17

Phân loại theo nguồn gốc chia ra: thuốc hóa học và thuốc sinh học.
Thuốc hóa học là các loại thuốc có nguồn gốc từ hóa học (vô cơ, hữu
cơ). Ưu điểm của loại thuốc này là có tác động nhanh đến sinh vật và rẻ tiền.
Tuy nhiên đây là những loại thuốc rất độc với con người, động vật máu nóng,
tồn dư lâu và tích lũy trong môi trường, dễ gây hại cho thực vật và quần thể
sinh vật trong lòng đất.
Thuốc sinh học là các loại thuốc có nguồn gốc chế xuất từ thảo mộc,
các loài sinh vật và sản phẩm do chúng sinh sản ra. Ưu điểm của nó là có độ
độc chuyên tính cao nhưng ít độc đối với các động vật máu nóng và bị phân
hủy hoàn toàn trong môi trường, rất an toàn với thực vật, thậm chí trong một
số trường hợp chúng còn kích thích cây phát triển. Tuy nhiên việc thu hái và
bảo quản nguyên liệu khó khăn nên giá thành đắt hơn so với thuốc hóa học.
Ngoài ra, người ta còn phân loại thuốc bảo vệ thực vật theo dạng (dạng
bột, dạng lỏng, dạng hạt) và theo nhiều tiêu chí khác nhau tùy theo mục đích
nghiên cứu và sử dụng (Nguyễn Trần Oánh, 2007).
Thuốc BVTV đóng một vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp
với nhiều ưu điểm nổi trội: Có thể diệt dịch bệnh nhanh, triệt để, đồng loạt
trên diện tích rộng và chặn đứng những chận dịch trong thời gian ngắn mà
biện pháp khác không thể thực hiện; đem lại hiệu quả phòng trừ rõ rệt, kinh
tế, bảo vệ năng suất cây trồng, cải thiện chất lượng nông sản và mang lại hiệu
quả kinh tế, đồng thời giảm được diện tích canh tác; đây là biện pháp dễ
dùng, có thể áp dụng ở nhiều vùng khác nhau đem lại hiệu quả ổn định và
nhiều khi biện pháp phòng trừ là duy nhất; làm tăng năng suất và chỉ tiêu cấu
thành năng suất; làm tăng sức chống chịu của cây với những điều kiện bất lợi
như chống rét, chống hạn, chống lốp đổ, tăng khả năng hút chất dinh dưỡng
và tăng khả năng chống chịu sâu bệnh (Lê Thị Phương Thảo, 2011).
1.3.2. Nguyên tắc sử dụng thuốc BVTV

nghiệp qua hơn 40 năm qua. Tuy lịch sử dụng thuốc BVTV ở nước ta chưa
dài song bước đi cũng giống như nhiều nước khác.

Trích đoạn .Tình hình sản xuất rau ở huyện Lạng Giang Sử dụng phân hữu cơ Sử dụng phân vô cơ Chủng loại thuốc BVTV sử dụng trên rau Đánh giá của người dân về sử dụng thuốc BVT
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status