PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Rau là loại thực phẩm không thể thiếu được trong đời sống hằng ngày.
Cùng với thức ăn động vật, rau cung cấp những dinh dưỡng cần thiết cho sự
tồn tại và phát triển của con người. Tục ngữ có câu: “Cơm không rau như đau
không thuốc”. Rau cung cấp cho cơ thể những chất dinh dưỡng, đặc biệt là
các vitamin, các axít hữu cơ, chất khoáng… Theo tính toán của nhiều nhà
dinh dưỡng học, muốn cơ thể hoạt động bình thường cần cung cấp 2300-2500
kcal mỗi ngày, trong đó phải có 250-300 gam rau (tương đương với 7,5-8
kg/tháng hay 90-108 kg/năm – Trần Khắc Thi). Như vậy tổng nhu cầu rau của
nước ta sẽ là 7.650 – 9.180 nghìn tấn, tổng sản lượng rau các loại năm 2006
đạt 9.650 nghìn tấn. Chính vì thế, rau xanh trở thành một sản phẩm Nông
Nghiệp có giá trị kinh tế cao và có thị trường tiêu thụ rộng lớn.
Với điều kiện khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, Việt nam có thể sản xuất rau
quanh năm. Theo thống kê 2005, diện tích sản xuất rau ở nước ta vào khoảng
635,8 nghìn ha, sản lượng 9640,3 nghìn tấn, so với năm 1999 diện tích tăng
175,5 nghìn ha (tốc độ tăng bình quân 3,61%/ năm), sản lượng tăng 3071,5
nghìn tấn (tốc độ tăng bình quân 7,55%/năm). Trong đó rau ở miền bắc vào
khoảng 249,7 ngàn ha (chiếm 39,3% tổng diện tích) [4].
Hà Nội là một trong những địa phương sản xuất khá nhiều rau trong cả
nước. Tổng diện tích gieo trồng rau các loại của thành phố Hà Nội có 8,1
ngàn ha, năng suất đạt 186,2 tạ/ha, sản lượng 150,8 ngàn tấn. Do vậy, ngành
hàng rau của tỉnh có những ảnh hưởng nhất định tới toàn bộ hệ thống ngành
hàng rau của miền Bắc. Sản xuất rau một mặt đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
trong nước và xuất khẩu đang ngày càng tăng, mặt khác là giải pháp cho phép
thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp Việt Nam và
1
nâng cao thu nhập cho người dân, chuyển đổi hiệu quả và bền vững cơ cấu
cây trồng cũng như các điều kiện sản xuất.
Sản xuất rau đòi hỏi kỹ thuật thâm canh cao, do có nhiều loại sâu bệnh
gây hại nên mức sử dụng phân bón cũng như các loại thuốc BVTV ngày càng
Từ lâu, xã Vân Nội đã nổi tiếng là làng rau chuyên canh với diện tích khá lớn
của huyện, là nơi cung cấp rau cho thành phố Hà Nội và các vùng lân cận.
Nhu cầu thị hiếu của người dân về rau ngày càng gia tăng, rau bán trên thị
trường trước hết phải có mẫu mã đẹp, xanh, non, mà không bị sâu bệnh. Vì
vậy, đòi hỏi người sản xuất cần phải tăng hàm lượng sử dụng thuốc BVTV,
diệt trừ hết sâu bệnh để đảm bảo rau của mình dễ dàng được người dân sử
dụng. Tuy nhiên, việc lạm dụng thuốc BVTV trong sản xuất rau đã làm ảnh
hưởng rất lớn đến chất lượng thực sự của rau cũng như chất lượng môi trường
do lượng dư các hóa chất BVTV này, qua đó ảnh hưởng tới sức khỏe con
người.
Do vậy , việc tìm hiểu thực trạng sản xuất rau trong khu vực, thực trạng
sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất rau của xã và dư lượng của nó trong đất,
nước là điều rất quan trọng và hết sức cần thiết. Để từ đó đưa ra được những
biện pháp quản lý và kiểm soát cũng như các biện pháp kỹ thuật phù hợp
trong sản xuất rau vừa đáp ứng được nhu cầu rau trong khu vực, vừa đảm bảo
được chất lượng rau cũng như chất lượng môi trường xung quanh.
Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá biến động dư lượng thuốc Bảo vệ thực vật cho sản xuất rau
xã Vân Nội, huyện Đông Anh, Hà Nội .”
1.2.Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất rau tại xã Vân Nội,
huyện Đông Anh, Hà Nội.
3
- Đánh giá biến động của thuốc BVTV trong môi trường đất, nước của vùng
trồng rau của xã Vân Nội, huyện Đông Anh giai đoạn 2011 - 2013.
- Đề xuất ra một số giải pháp để nâng cao mức độ an toàn thuốc BVTV đối
với rau và bảo vệ môi trường sinh thái.
1.3. Yêu cầu của đề tài
- Thông tin thu thập về tình hình sử dụng thuốc BVTV trên địa bàn phải
chính xác, phù hợp với thực tế của địa phương.
698,134 triệu tấn và 487,246 triệu tấn vào năm 2001. Ta cũng nhận thấy Châu
Á luôn là châu lục chiếm tỷ lệ đa số về cả diện tích, năng suất và sản lượng
rau của toàn thế giới.
5
Bảng 2.1. Diện tích, năng suất, sản lượng rau của Châu Á
Năm Chỉ tiêu
Diện tích
(ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
1997
+Toàn thế giới
+ Châu Á
+ * Tỷ lệ (%)
37,759
25,003
66,21
161,06
163,47
101,50
608,146
408,724
67,21
1998
+Toàn thế giới
+ Châu Á
+ * Tỷ lệ (%)
39,740
101,35
691,889
477,205
68,97
2001
+Toàn thế giới
+ Châu Á
+ * Tỷ lệ (%)
43,023
29,539
68,66
162,27
164,95
101,65
698,134
487,246
69,79
* Tỷ lệ (Châu Á/Thế giới )% Nguồn FAO – Databases,
2002
Riêng ở Châu Á, sản lượng rau năm 2001 đạt khoảng 487,246 triệu tấn.
Trong đó, Trung Quốc là nước có sản lượng rau cao nhất, đạt 70 triệu
tấn/năm; thứ 2 là Ấn Độ với sản lượng rau đạt 65 triệu tấn/năm. Nhìn chung,
mức tăng trưởng sản lượng rau Châu Á qua các năm đạt khoảng 3%/năm,
tương đương khoảng 5 triệu tấn/năm.
6
2.1.2 Tình hình tiêu thụ rau trên thế giới
Rau được dùng kết hợp với các loại hoa quả thực phẩm rất tốt cho sức
khoẻ do có chứa các loại vitamin, các chất chống ôxi hoá tự nhiên, có khả
năng chống lại một số bệnh như ung thư. Do vậy nhu cầu tiêu thụ rau quả
ngày càng tăng. Người dân Nhật Bản tiêu thụ rau quả nhiều hơn người dân
nước như rau muống, cà pháo…Vụ Thu trồng các loại rau ít chịu lạnh như su
hào, cà chua, còn vụ Đông phù hợp với các loại rau chịu lạnh như súp lơ, bắp
cải, khoai tây…
3) Vùng nhiệt đới có mùa hè khô nóng Nam Trung Bộ (Ninh Thuận,
Bình Thuận): phù hợp với các loại rau đặc thù như các loại dưa và đặc biệt là
tỏi, hành tây.
4) Vùng nhiệt điển hình Nam Bộ với khí hậu hàng năm chia thành 2 mùa
rõ rệt là mùa mưa và mùa khô nên có thể trồng các loại rau ưa nước trong
mùa mưa và cây chịu hạn trong mùa khô [4].
Đầu thập kỷ 90, diện tích trồng rau của Việt Nam phát triển nhanh chóng
và ngày càng có tính chuyên canh cao. Ở các tỉnh phía bắc, diện tích trồng rau
vụ đông năm 2005 đạt 137,4 nghìn ha( bằng 95.5%), năng suất đạt 153,5
tạ/ha(tăng 5,6%) và sản lượng đạt 2,1 triệu tấn(tăng 1,1%) so với vụ đông
năm 2004 các tỉnh phía nam, năm 2006 gieo trồng được khoảng 235,182 ha
rau các loại, tăng 22,959 ha so với năm 2005 và tăng chủ yếu ở khu vực Đồng
bằng sông Cửu Long( 20.504 ha). Năng suất bình quân là 154,85 tạ/ha, sản
lượng đạt 3.641.896 tấn, tăng hơn năm 2005 là 363.837 tấn [2].
Tính đến năm 2009, diện tích trồng rau cả nước là 735.335 ha, năng suất
đạt 161,6 tạ/ha, sản lượng đạt 11.885.067 tấn, tăng 30,02 % so với năm
2001( 514.600 ha), tăng gấp đôi so với 10 năm trước( năm 1996 à 342,6 nghìn
ha).đây là một trong nhóm cây trồng có tốc độ tăng diện tích gieo trồng nhanh
nhất trong một thập kỷ qua [18].
8
Bảng 2.2. Diện tích, sản lượng rau ở Việt Nam phân theo địa phương
TT
Địa phương
2007 2008 2009
Diện
tích
(ha)
xuất hàng hóa, trong đó rau hàng hóa tập trung chính ở 2 khu vực:
- Vùng rau chuyên canh tập trung ven thành phố, khu tập trung đông dân
cư. Sản phẩm chủ yếu cung cấp cho dân phi nông nghiệp, với nhiều chủng
loại rau phong phú (gần 80 loài với 15 loài chủ lực), hệ số sử dụng đất cao
(4,3 vụ/năm), trình độ thâm canh của nông dân khá, song mức độ không an
toàn của sản phẩm rau xanh và ô nhiễm môi trường canh tác rất cao.
- Vùng rau luân canh: đây là vùng có diện tích, sản lượng lớn, cây rau
được trồng luân canh với cây lúa hoặc một số cây màu. Tiêu thụ sản phẩm rất
9
đa dạng: phục vụ ăn tươi cho dân cư trong vùng, ngoài vùng, cho công nghiệp
chế biến và xuất khẩu.
Sản xuất rau theo hướng nông nghiệp công nghệ cao đã bước đầu được
hình thành như: sản xuất trong nhà màn, nhà lưới chống côn trùng, sản xuất
trong nhà plastic không cố định để hạn chế tác hại của các yếu tố môi trường
bất lợi, trồng rau bằng kỹ thuật thủy canh, màng dinh dưỡng, nhân giống và
sản xuất các loại cây quý hiếm, năng suất cao bằng công nghệ nhà kính của
Israel có điều khiển kiểm soát các yếu tố môi trường [22].
2.2.2 Tình hình tiêu thụ rau tại Việt Nam
Nhìn chung, ngành trồng rau đã đóng góp một khối lượng sản phẩm đáng
kể cho xuất khẩu ở nước ta. Từ năm 1957, rau quả Việt Nam đã có mặt tại
Trung Quốc. Thời kỳ 1986 – 1990, thực hiện Hiệp định hợp tác đã ký giữa hai
Chính phủ Việt Nam và Liên Xô cũ (01/1985) về xuất khẩu sản phẩm rau quả
sang Liên Xô, một khối lượng lớn rau đã được bán, góp phần không nhỏ vào
kim ngạch xuất khẩu cho đất nước.
Bảng 2.3. Kim ngạch xuất khẩu rau quả năm 1990 – 2004 (Triệu USD)
Năm Kim ngạch Năm Kim ngạch
1990 52,3 1997 68,2
1991 33,3 1998 53,0
1992 32,2 1999 104,9
1993 23,6 2000 213,126
11
Đa số các doanh nghiệp xuất khẩu nhận thức được tầm quan trọng về quản lý
chất lượng sản phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm, một số lớn doanh nghiệp chế biến
xuất khẩu đã được chứng nhận HACCP, ISO, BRC, Kosher, Halal…Doanh nghiệp
cũng rút nhiều kinh nghiệm, quen dần tập quán mua bán hàng hóa của các thị
trường chính: EU, hoa Kỳ, Trung Đông, biên mậu phía Bắc…Sản phẩm rau quả
Việt Nam xuất khẩu ngày càng đa dạng hơn, mới lạ hơn [6].
2.2. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC BVTV CHO SẢN XUẤT RAU
TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.2.1. Những hiểu biết chung về thuốc BVTV
2.2.2.1. Khái niệm về thuốc BVTV
Để đáp ứng nhu cầu lương thực ngày càng tăng do việc bùng nổ dân số,
cùng với xu hướng đô thị hóa và công nghiệp hóa ngày càng mạnh, con người
chỉ có cách duy nhất: Thâm canh để tăng sản lượng cây trồng. Khi thâm canh
cây trồng, một hậu quả tất yếu không thể tránh được là mất cân bằng sinh
thái, kéo theo sự phá hoại của dịch hại ngày càng tăng. Để giảm thiệt hại do dịch
hại gây ra, con người phải đầu tư thêm kinh phí để tiến hành các biện pháp phòng
trừ, trong đó biện pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật được coi là quan trọng [14].
Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) hay nông dược là những chất độc có
nguồn gốc tự nhiên hay hóa chất tổng hợp được dùng để bảo vệ cây trồng và
nông sản, chống lại sự phá hoại của những sinh vật gây hại đến tài nguyên
thực vật. Những sinh vật gây hại chính gồm sâu hại, bệnh hại, cỏ dại, chuột và
các tác nhân khác [20].
Thuốc BVTV là những hợp chất hóa học (vô cơ, hữu cơ), những chế
phẩm sinh học (chất kháng sinh, nấm, vi khuẩn, siêu vi trùng, tuyến trùng…),
những chất có nguồn gốc thực vật, động vật, được sử dụng để bảo vệ cây
trồng và nông sản, chống lại sự phá hoại của các sinh vật gây hại (côn trùng,
nhện, tuyến trùng, chim, chuột, thú rừng, nấm, vi khuẩn, rong rêu, cỏ dại…).
Theo quy định tại điều 1, chương 1, điều lệ quản lý thuốc BVTV (ban hành
12
bao quanh dịch hại và xâm nhập vào cơ thể sinh vật qua hệ hô hấp.
- Thuốc nội hấp: là những thuốc có khả năng xâm nhập vào cây qua thân,
lá hoặc rễ và được dịch chuyển trong cây.
- Thuốc có tác dụng thấm sâu: là những thuốc có khả năng xâm nhập qua
biểu bì lá cây và thấm sâu vào lớp tế bào nhu mô.
* Phân loại dựa vào nguồn gốc, cấu trúc hóa học
Phùng Minh Phong, 2002, [15] dựa vào nguồn gốc, cấu trúc hóa học,
người ta phân các HCBVTV thành 11 nhóm chính, các thuốc còn lại thuộc
nhóm 12.
- Nhóm 1: lân hữu cơ gồm Diazinon, Dichlorovos, Trichlofon…
- Nhóm 2: Clo hữu cơ gồm Lindan, DDT 2, 4 – D, Thiodan…
- Nhóm 3: Các hợp chất chứa axit Phenoxy alkanic.
- Nhóm 4: Các hợp chất Cacbon mạch thẳng, mạch vòng và chế phẩm.
- Nhóm 5: Carbamat gồm Carbaryl, Carbofran…
- Nhóm 6: Dithiocarbamat gồm Cartap (Padan)…
- Nhóm 7: Các hợp chất Nitro mạch vòng.
- Nhóm 8: Triazin.
- Nhóm 9: Các hợp chất chứa Nitơ
- Nhóm 10: Các hợp chất vô cơ.
- Nhóm 11: Các hợp chất chứa Ure.
- Nhóm 12: Các loại thuốc còn lại.
Ngoài 3 cách phân loại trên còn có nhiều cách phân loại khác nhằm phục
vụ cho mục đích sử dụng hay nghiên cứu.
Theo Nguyễn Trần Oánh, Nguyễn Văn Viên (1996), [13] thì việc phân
loại như trên mang tính quy ước vì một loại thuốc có thể trừ được nhiều loại
dịch hại, chúng lại có khả năng xâm nhập khác nhau vào cơ thể sinh vật và
14
trong phân tử của chúng lại có các nhóm nguyên tố hay các nguyên tố mà
người ta xếp chyungs vào những nhóm khác nhau.
2.2.2. Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên thế giới
cây trồng nhằm hạn chế sử dụng các hóa chất BVTV có hại cho môi trường.
Tuy nhiên, hóa chất BVTV vẫn được sử dụng nhiều về số lượng và chủng
loại. Có khoảng 90% lượng hóa chất BVTV được sử dụng trong nông nghiệp,
còn lại được sử dụng trong y tế.
Ngày nay, thế giới có khoảng 900 – 1000 loại thuốc chính với khoảng
5000 loại dẫn xuất khác nhau. Số lượng thuốc BVTV trên toàn cầu đạt tới
hàng triệu tấn (thống kê điều tra 1990 – 1991 là 25 triệu tấn). Các nhà khoa
học đã nghiên cứu tình hình sử dụng hóa chất BVTV cho rằng, tiêu thụ thuốc
BVTV trên toàn cầu năm 1985 khoảng 3 triệu tấn, trong những năm gần đây
con số này tăng lên rất nhiều. Đối với các nước phát triển như Mỹ, Tây Âu,
Nhật Bản sử dụng khoảng 20%, còn các nước đang phát triển sử dụng 10%
tổng số hóa chất BVTV.
Vấn đề tác hại của hóa chất BVTV là không nhỏ, tại các nước nghèo,
trình độ dân trí thấp đã có hơn 100.000 người chết vì ngộ độc hóa chất BVTV
trong nguồn nước và trong thực phẩm. Ngoài ra có khoảng 400.000 người
khác bị ảnh hưởng đến sức khỏe. Theo tổ chức sức khỏe thế giới ước tính thì
hàng năm có khoảng 3% nhân lực nông nghiệp bị nhiễm độc hóa chất BVTV
theo nhiều con đường khác nhau [12].
2.2.3. Thực trạng sử dụng thuốc BVTV cho rau tại Việt Nam
Ở Việt Nam, thuốc BVTV thực sự có ý nghĩa trong sản xuất nông nghiệp
trong hơn 40 năm qua (miền Bắc từ năm 1956 và miền Nam từ năm 1962).
16
Tuy lịch sử sử dụng thuốc BVTV ở nước ta chưa dài song bước đi cũng giống
như nhiều nước khác [5].
Thời gian đầu, từ cuối những năm 50 đến cuối thập kỷ 60, thuốc BVTV
mới được đưa vào sản xuất nhưng người ta hết lòng ca ngợi chúng, do đó đã
nảy sinh tình trạng lạm dụng thuốc. Theo số liệu của chi cục BVTV, năm
1990 nước ta chỉ sử dụng khoảng 10.000 tấn thuốc BVTV, đến năm 1998
lượng này đã tăng lên gấp 3 lần tức 30.000 tấn hóa chất BVTV. Có 30% cơ sở
kinh doanh thuốc BVTV không có giấy phép tiếp sức cho việc lạm dụng
Pyrethriod Decis, Sherpa 18,42 17,29
Hỗn hợp Polytrin
P440 EC
7,18 6,76
Các loại (Bt) + kháng
sinh
7,52 11,82
* Các loại khác
Fipronil Regent 800 WG 10,52 16,45
Diafenthiuron Pegasus 500 SC 5,68 9,46
Thuốc thảo mộc - - 0,42
Nguồn: Trần Duy Quý, Nguyễn Văn Sơn, 2002.
Qua bảng cho thấy: lượng hoạt chất Methamidophos sử dụng trong vụ
rau từ tháng 9/1999 đến tháng 4/2001 chiếm 20% tổng số hoạt chất thuốc trừ
sâu (TTS) dùng trên rau họ hoa thập tự (HTT). Padan 95 SP (Cartap) cũng
được sử dụng khá phổ biến trên các loại rau họ hoa thập tự.
Do thói quen và tâm lý sợ mất mùa nên đa số nông dân chỉ dùng những
loại TTS gây chết nhanh. Ngược lại nhiều loại thuốc trừ sâu sinh học như Bt,
18
có hiệu lực trừ sâu cao, ít độc hại với người và vật nuôi nhưng lại chỉ có ít
người sử dụng chỉ chiếm 11,82%.
Tình trạng buôn bán hóa chất, đặc biệt là thuốc BVTV trên thị trường rất
phức tạp. Theo thống kê, trên thị trường có khoảng 22000 cửa hàng buốn bán
thuốc BVTV, trung bình mỗi tỉnh có 400 – 500 của hàng, rải đều trên diện
rộng ở tất cả các xã, phường vùng sâu vùng xa nên việc quản lý là rất khó
khăn. Là mặt hàng hạn chế kinh doanh nhưng theo thống kê của cục BVTV,
hiện nay mới chỉ có 80% cá nhân buôn bán thuốc được cấp chứng chỉ hành
nghề. 20% hoạt động buôn bán không có chứng chỉ, chủ yếu tập trung ở các
của hàng nhỏ lẻ, vùng sâu, vùng xa rất khó kiểm soát [16].
thuốc BVTV các loại. Nếu tính nồng độ thuốc khoảng 2% thì lượng thuốc
phun là 75.10
10
lít.Với diện tích canh tác 7 triệu ha đã sử dụng 10.10
4
lít thuốc
2%/ha/năm nay hay có thể hình dung là 11 lít thuốc 2%/m
2
/năm. Tuy nhiên,
theo Phạm Bình Quyền và CTV (1995), thuốc BVTV sử dụng ở vùng rau Đà
Lạt là 5,1 – 13,5 kg/ha, vùng ĐBSCL là 1,5 – 1,7 kg/ha, chè ở Hòa Bình là
3,2 – 3,5 kg/ha. Điều tra vùng trồng rau Từ Liêm, Hà Nội năm 1996 đã thấy,
tại Mai Dịch, Tây Tựu, một vụ rau phun thuốc đến 25 lần, loại thuốc chủ yếu
được sử dụng là Monitor, Dipterx, Basa, DDT, Wofatox, Validacin…
Gần đây (1993) tuy đã có lệnh cấm sử dụng nhóm thuốc DDT, Heptaclo
(thuộc nhóm clo hữu cơ) song thực tế người dân vẫn sử dụng. Nguyên nhân
chủ yếu là do giá rẻ, phổ diệt rộng và hiệu quả diệt sâu tương đối cao [12].
2.2.4. Ảnh hưởng của thuốc BVTV đối với môi trường và sức khỏe
con người
2.2.4.1.Dư lượng thuốc BVTV trên rau và tác động tiêu cực của chúng
Trên thế giới, nền công nghiệp thuốc BVTV phát triển rất nhanh để đáp ứng
đòi hỏi ngày càng to lớn của nền nông nghiệp thâm canh cao. Nếu như cuối những
20
năm 80 của thế kỷ trước, doanh số thuốc BVTV bán ra trên toàn thế giới mới vượt
20 tỷ đô la Mỹ hàng năm thì đến nay, khoảng 15 năm sau, con số này đã vượt 35
tỷ đô, trong đó khoảng một nửa là ở Châu Âu và Bắc Mỹ, khoảng 25% ở Viễn
Đông và khoảng 25% ở các nước còn lại (Stephenson, 2003) [48]. Yêu cầu mức
độ an toàn và sự đánh giá chặt chẽ về ảnh hưởng của thuốc đến môi trường và
người tiêu dùng đã làm cho chi phí cho sự ra đời một loại thuốc mới hiện nay là
rất cao. Theo IUPAC – KSBS, (2003) [38], chi phí này trung bình hiện nay là 184
hủy sinh học nhanh. Thuốc thảo mộc được sử dụng ngày càng nhiều trong canh
tác hữu cơ (48% nông dân sử dụng) bao gồm pyrethrins, neem, rotenone, sabadilla
(Charles, 2004) [27].
Tác giả Oh (2000) [43] đặc biệt lưu ý thận trọng về dư lượng các chất ô
nhiễm hữu cơ bền vững (POP) và các thuốc phá vỡ tuyến nội tiết (Endocrine
disrupter). Các hợp chất này có thể kích thích hoặc ức chế hiệu quả của hormone
như estrogen, testosterone, insulin, melatonin hoặc hoạt động như là một hệ thống
tuyến nội tiết. Chúng còn có thể gây ra những vấn đề về sự phát triển cơ thể và
sinh sản. Các thuốc có tình chất nguy hiểm này là DDT, PCB, Lindane, Zineb,
Maneb, Endosulfan, Atrazine, một số thuốc Pyrethroid tổng hợp, một số hoạt chất
này đã bị cấm sử dụng.
Kết quả kiểm tra gần đây ở Mỹ (năm 2003) cho thầy có 1,9% số rau nội địa
không an toàn về dư lượng thuốc BVTV và 37,4% mẫu rau không phát hiện thấy
dư lượng thuốc BVTV. Đặc biệt một số nhóm rau có nguy cơ cao (5 – 13% số
mẫu có dư lượng thuốc BVTV cao quá mức tối đa cho phép) là rau ăn lá, rau ăn
thân, rau ăn củ, mướp tây, dưa chuột, cà, rau diếp (USFDA, 2005) [57].
Trên thế giới, vấn đề kiểm tra và đnáh giá dư lượng thuốc BVTV trên rau
được làm thường xuyên ở nhiều nước, nhất là các nước phát triển. Chẳng hạn, ở
Mỹ và Đài Loan, hàng năm mỗi nơi đều phân tích trên 10 nghìn mẫu nông sản.
Kết quả phân tích dư lượng được so với MRL cho thấy, đến nay tuyệt đại đa số
22
các mẫu rau sản xuất tại nhiều nước là khá an toàn. Thị trường xuất nhập khẩu rau
của các nước Đông Á và Đông Nam Á hàng năm đạt hàng chục tỷ đô la đòi hỏi
các nước phải có các giải pháp gắt gao để đảm bảo sản phẩm rau an toàn, nhất là
về dư lượng thuốc BVTV (Vong Nguyen, 2002) [58].
Bảng 2.6. Tình hình dư lượng thuốc BVTV trên rau ở một số nước
Nước
Tỷ lệ % mẫu có
dư lượng thuốc
BVTV
Theo Ohio (2003), [44], tại Hàn Quốc, một số cơ quan có nhiệm vụ giám sát
dư lượng thuốc trong nông sản như Viện Khoa học công nghệ nông nghiệp
(NIAST) kiểm tra trên đồng ruộng. Sở Quản lý chất lượng sản phẩm nông nghiệp
quốc gia (NAPQMS) thuộc Bộ Nông nghiệp và Ngư nghiệp kiểm tra ở “cổng
trang trại”, Tổng cục Thuốc và Thực phẩm (KFDA) kiểm tra ở “điểm bán hàng”.
Kết quả kiểm tra ở trên đồng lúa của NIAST từ năm 1999 – 2002 đối với 7 thuốc
trừ sâu (BPMC, Buprofezin, Carbofuran, Edifenphos, Iprobenphos,
Isoprothiolane, Tricylazole), dư lượng trên gạo là từ 0 – 0,07 ppm (đều thấp hơn
hẳn mức cho phép MRL: 0,2 – 0,7 ppm), trên rơm rạ là từ 0 – 2,7 ppm.
Kiểm tra dư lượng rau quả nhập khẩu tại Hàn Quốc năm 2000 cho thấy tỷ lệ
mẫu rau vi phạm là 6,1%, mẫu quả vi phạm là 2,1%, cao hơn hẳn các mẫu nông
sản được sản xuất trong nước.
Tại Mỹ, nhiều bang thừng xuyên có tài liệu hướng dẫn được cập nhật hàng
năm cho nông dân các vùng trồng rau. Tài liệu chỉ rõ với mỗi cây trồng, thuốc nào
được sử dụng với liều sử dụng tối đa cho một đơn vị diện tích, PHI, đối tượng
phòng trừ có hiệu quả, những chú ý về an toàn trong khi xử lý (Tom K, 2005)
[51]. Tại bang Illinois (Mỹ), trường đại học Illinois đã xuất bản hàng năm tài liệu
“Quản lý dịch hại nông nghiệp” trong đó có dịch hại trên cây rau hàng hóa. Tài
liệu này đã cung cấp thường xuyên cho người sản xuất các loại thuốc trừ dịch hại
hiện có thể sử dụng trên từng cây trồng, liều lượng sử dụng, PHI, giới hạn tối đa
được sử dụng trong một vụ [56]. Đây thực sự là một việc làm rất có ý nghĩa đối
với nông dân trong việc sử dụng có hiệu quả và an toàn thuốc BVTV mà nhiều
nơi trong đó có nước ta nên làm.
Tại Australia, Bộ Nông nghiệp tổ chức cho các hộ nông dân được huấn luyện
về sử dụng thuốc BVTV nếu nông sản của họ có dư lượng vượt quá 50% MRL.
Nếu nông sản của họ về sau cao hơn MRL thì họ sẽ bị phạt hoặc cấm hành nghề
luôn tùy theo mức nặng nhẹ (Vong Nguyen, 2002) [58]. Tác giả cũng nêu rõ
nguyên nhân làm cho rau bị ngộ độc thuốc BVTV là do nông dân sử dụng bừa bãi
24
các loại thuốc BVTV với liều lượng cao, không đúng lúc, đúng thời điểm, trộn