Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất rau tại xã văn đức, huyện gia lâm, thành phố hà nội - Pdf 26

Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Rau là loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của con người
đặc biệt là với các dân tộc Châu Á, nhu cầu tiêu dùng rau hàng ngày càng tăng cao
về số lượng và chất lượng.
Trong quá trình sản xuất rau trên đồng ruộng một số loài sâu, bệnh xuất hiện
thành dịch gây hại năng suất, chất lượng rau, khiến nông dân đã phải sử dụng một
số loại thuốc bảo vệ thực vật để phòng chống chúng.
Cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội thì mức độ ô nhiễm, trong đó có ô
nhiễm về hoá chất bảo vệ thực vật (BVTV) ngày càng gia tăng. Hoá chất BVTV
được sử dụng nhiều trong nông nghiệp để lại dư lượng trong nông sản sau thu
hoạch vượt quá mức cho phép là do nhiều nguyên nhân liên quan đến công tác vệ
sinh an toàn thực phẩm mà thời gian qua Nhà nước, Thành phố và người dân quan
tâm, đòi hỏi phải có biện pháp khắc phục.
Việc sử dụng thuốc BVTV để phòng trừ dịch hại trong sản xuất nông nghiệp đã
mang lại hiệu quả to lớn trong việc nâng cao năng suất cây trồng. Tuy nhiên, hiện
nay việc sử dụng thuốc BVTV để phòng trừ dịch hại bảo vệ cây trồng của nông
dân Việt Nam nói chung và nông dân Văn Đức nói riêng còn nhiều tồn tại, bất cập,
vi phạm các quy định của Nhà nước, của Thành phố. Tình trạng sử dụng thuốc
BVTV không đúng kỹ thuật, không đảm bảo thời gian cách ly vẫn xảy ra đặc biệt ở
vùng sản xuất rau.
1
Chính vì vậy, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Bích Yên, tôi đã thực
hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất
rau tại xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá thực trạng sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật ở vùng trồng rau
Văn Đức.
- Đề xuất một số giải pháp sử dụng hợp lý phân bón, thuốc bảo vệ thực vật
trong sản xuất nông nghiệp nhằm giảm thiểu ảnh hưởng xấu đến môi trường.

Thuốc BVTV có thể diệt dịch hại nhanh, triệt để, đồng loạt trên diện rộng
và chặn đứng những trận dịch trong thời gian ngắn mà các biện pháp khác
không thể thực hiện được. Là biện phỏp hoỏ học đem lại hiệu quả phòng trừ rõ
rệt, bảo vệ được năng suất cây trồng, cải thiện chất lượng nông sản và mang lại
hiệu quả kinh tế; lại dễ dùng, có thể áp dụng ở nhiều vùng khác nhau, đem lại
hiệu quả ổn định và nhiều khi là biện pháp phòng trừ duy nhất.
Ngay từ khi mới ra đời thuốc BVTV đã được đánh giá cao và được coi là
một trong những thành tựu lớn của khoa học kỹ thuật.
Đến
nay, thuốc BVTV
đã để lại những dấu ấn quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực của nền nông
nghiệp hiện đại. Mặc dù ngày nay khoa học đã đạt được những thành tựu to
lớn về nhiều mặt như sinh thái học dịch hại, miễn dịch thực vật… nhiều biện
3
pháp phòng trừ dịch hại được áp dụng có hiệu quả như lại tạo các giống chống
chịu sâu bệnh, tạo giống sạch bệnh bằng phương pháp nuôi cấy mụ, cỏc biện
pháp sinh học trong bảo vệ thực vật, quản lý dịch hại tổng hợp… nhưng thuốc
bảo vệ thực vật vẫn có vai trò to lớn trong việc kiểm soát dịch bệnh trong nông
nghiệp. Đặc biệt, đối với người nông dân, sử dụng thuốc BVTV được coi là
phương pháp đơn giản và được áp dụng thường xuyên.
2.1.2. Một số khái niệm liên quan
Dịch hại (pest): dùng chỉ mọi loài sinh vật gây hại cho người, cho mùa
màng, nông lâm sản; công trình kiến trúc; cho cây rừng, cho môi trường sống.
Bao gồm các loài côn trùng, tuyến trùng, vi sinh vật gây bệnh cây, cỏ dại, các
loài gặm nhấm, chim và động vật phá hoại cây trồng. Danh từ này không bao
gồm các vi sinh vật gây bệnh cho người, cho gia súc.
Thuốc trừ dịch hại (pesticide ): Là những chất hay hỗn hợp các chất dùng
để ngăn ngừa, tiêu diệt hay phòng trừ các loài dịch hại gây hại cho cây trồng,
nông lâm sản, thức ăn gia súc, hoặc những loài dịch hại gây hại cản trở quá
trình chế biến, bảo quản, vận chuyển nông lâm sản; những loại côn trùng, ve

lường được biểu thị dưới dạng LD50 (Lethal Dose 50) và tính bằng mg/kg cơ
thể. Các loại thuốc BVTV được chia mức độ độc như sau:
- Vạch màu đỏ trờn nhón là thuốc độc nhóm I, rất nguy hiểm.
- Vạch màu vàng là thuốc độc nhóm II, cảnh báo có hại.
- Vạch màu xanh da trời là thuốc độc nhóm III, lưu ý cẩn thận.
- Vạch màu xanh lá cây là thuốc độc nhóm IV, ít độc.
Nhà sản xuất dùng kí hiệu đầu lâu gạch chéo là vô cùng nguy hiểm, rất độc,
có thể gây chết người.
5
Bảng 2.1 – Phân loại thuốc BVTV theo tính độc.
Mức độ độc
LD50 với chuột (mg/kg)
Qua miệng Qua da
Thuốc rắn Thuốc
nước
Thuốc rắn Thuốc
nước
Nhóm I < 5 < 20 < 10 < 40
Nhóm II 5 - 50 20 - 200 10 - 100 40 - 400
Nhóm III 50 - 500 200 -
2000
100 - 1000 400 - 4000
Nhóm IV > 500 > 2000 > 1000 > 4000
(Nguồn: Cách phân nhóm độc của tổ chức WHO)
Nói chung, thuốc BVTV có LD50 thấp thỳ có độ độc cao và ngược lại. Cho
nên, trong khi sử dụng nhiều loại có cùng tác dụng như nhau, nên chọn loại
thuốc có LD50 cao, vì an toàn hơn.
2.1.3.2. Phân loại theo công dụng
Thuốc BVTV được chia thành từng nhóm tuỳ theo công dụng của chúng và
thường được chia làm 2 loại chính là thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ; ngoài ra


neem

do các loại cây tạo ra để bảo vệ chống lại côn trùng. Các loại thuốc trừ
sâu dựa trên nicotine đã bị cấm tại Hoa Kỳ từ năm 2001 để ngăn chặn dư
lượng làm nhiễm độc thực phẩm.
Các loại thuốc trừ sâu vô cơ: được sản xuất bằng các kim loại bao gồm các
hợp chất arsenate

đồng

- và fluorine

, hiện ít được sử dụng, và sulfur

, thường
được sử dụng.
Các loại thuốc trừ sâu hữu cơ: là các hóa chất tổng hợp chiếm phần lớn
lượng thuốc trừ sâu sử dụng ngày nay.
• Thuốc diệt cỏ là những hóa chất có khả năng giết chết hoặc ức chế sự phát
triển của cỏ, được dùng để diệt trừ các loại thực vật hoang dại (cỏ dại, cây dại)
mọc lẫn với cây trồng, tranh chấp nước, chất dinh dưỡng, ánh sáng với cây
trồng, khiến cho cây sinh trưởng và phát triển kém, ảnh hưởng xấu đến năng
suất cây trồng và phẩm chất nông sản. Đây là nhóm thuốc dễ gây hại cho cây
trồng nhất. Vì vậy khi dựng các thuốc trong nhóm này cần đặc biệt thận trọng.
Bảng 2.2 – Phân loại thuốc diệt cỏ.
Cách phân
loại thuốc
diệt cỏ
Loại thuốc Đặc điểm

gian sử dụng
Thuốc trừ cỏ
dùng khi chưa
làm đất
Dùng trên ruộng chưa gieo trồng có
nhiều cỏ dại, sau một thời gian thuốc bị
phân huỷ, không hại cây trồng.
Thuốc trừ cỏ
dùng sau khi
gieo hạt
Những thuốc trừ cỏ xử lý đất, chỉ diệt cỏ
dại mới nảy mầm (còn gọi là thuốc trừ
cỏ tiền nẩy mầm).
Thuốc trừ cỏ
trên ruộng có
cây trồng đang
sinh trưởng
Những thuốc trừ cỏ chọn lọc và phải
dùng vào thời kỳ mà cây có sức chống
chịu cao, còn cỏ dại có sức chống chịu
yếu đối với thuốc.
(Nguồn: Giáo trình sử dụng thuốc BVTV – Trường ĐH Nông nghiệp HN)
• Thuốc trừ bệnh: bao gồm các hợp chất có nguồn gốc hoá học (vô cơ và hữu
cơ), sinh học (vi sinh vật và các sản phẩm của chúng, nguồn gốc thực vật), có
tác dụng ngăn ngừa hay diệt trừ các loài vi sinh vật gây hại cho cây trồng và
nông sản (nấm ký sinh, vi khuẩn, xạ khuẩn) bằng cách phun lên bề mặt cây, xử
lý giống và xử lý đất Thuốc trừ bệnh dùng để bảo vệ cây trồng trước khi bị
các loài vi sinh vật gây hại tấn công tốt hơn là diệt nguồn bệnh và không có tác
dụng chữa trị những bệnh do những yếu tố phi sinh vật gây ra (thời tiết, đất
úng, hạn ). Thuốc trừ bệnh bao gồm cả thuốc trừ nấm (Fungicides) và trừ vi

và chất lượng nông sản. Ở nồng độ cao thuốc dễ gây hại cho thực vật. Thuốc ít
độc với động vật có vú, môi sinh và môi trường.
Các nhóm thuốc BVTV chỉ diệt trừ được một số loài dịch hại nhất định, chỉ
phát huy hiệu quả tối ưu trong những điều kiện nhất định về thời tiết, đất đai,
cây trồng, canh tác…
2.1.3.3. Phân loại theo gốc hóa học:
Thuốc trừ sâu gồm các gốc hóa học chính như Clo hữu cơ, Lân hữu cơ,
Carbamate, Cúc tổng hợp (Pyrethroid), thuốc thảo mộc, thuốc vi sinh, thuốc
điều hòa sinh trưởng côn trùng và nhóm khác.
Thuốc trừ bệnh gồm nhóm thuốc vô cơ (đồng, lưu huỳnh, thủy ngân) và
nhóm thuốc hữu cơ (có nhiều gốc hóa học như Lân hữu cơ, Carbamate,
Dithiocarbamate, Triazole, thuốc sinh học)
Thuốc diệt cỏ gồm nhóm thuốc vô cơ (Sulfat đồng, Natri Clorat) và nhóm
thuốc hữu cơ (có nhiều gốc hóa học như Acetamic, Lân hữu cơ, Phenoxy,
Phenylure, Triazin)
Thuốc diệt chuột gồm nhóm vô cơ (Thạch tín, Phốt phua kẽm), nhóm hữu
cơ (chủ yếu các chất chống đụng mỏu như Wafarin, Brodifacoum) và nhóm vi
sinh (chủ yếu vi khuẩn Sanmonella)
Thuốc điều hòa sinh trưởng thực vật gồm cỏc nhúm chủ yếu là Auxin,
Gibberellin, Cytokinin, Ethrel và các chất ức chế sinh trưởng
2.1.3.4. Phân loại dựa vào con đường xâm nhập (hay cách tác động của
thuốc) đến dịch hại: tiếp xúc, vị độc, xông hơi, thấm sâu và nội hấp.
2.1.3.5. Phân loại dựa vào nguồn gốc:
Thuốc có nguồn gốc thảo mộc: bao gồm các thuốc BVTV làm từ cây cỏ hay
các sản phẩm chiết xuất từ cây cỏ có khả năng tiêu diệt dịch hại.
Thuốc có nguồn gốc sinh học: gồm các loài sinh vật (các loài ký sinh ), các
sản phẩm có nguồn gốc sinh vật ( như các loài kháng sinh ) có khả năng tiêu
10
diệt dịch hại.
Thuốc có nguồn gốc vô cơ : bao gồm các hợp chất vô cơ ( như dung dịch

thực hiện được.
- Biện pháp hóa học đem lại hiệu quả phòng trừ rõ rệt, kinh tế, bảo vệ được
năng suất cây trồng, cải thiện chất lượng nông sản và mang lại hiệu quả kinh tế,
đồng thời giảm diện tích canh tác.
- Biện pháp hóa học dễ dùng, có thể áp dụng nhiều vùng khác nhau, đem lại
hiệu quả ổn định và nhiều khi là biện pháp phong trừ duy nhất
Đến nay, thuốc bảo vệ thực vật đã để lại những dấu ấn quan trọng trong
hầu hết các lĩnh vực của nền nông nghiệp hiện đại. Nhưng loài người vẫn tiếp tục
tìm kiếm các dạng sản phẩm mới dễ sử dụng hơn, có hiệu lực trừ dịch hại cao hơn,
thân thiện hơn với môi sinh và môi trường. (Trần Quang Hùng, 2000)
2.2 Lịch sử phát triển, tình hình sản xuất và sử dụng thuốc BVTV trên thế
giới và tại Việt Nam
2.2.1. Lịch sử phát triển thuốc BVTV trên thế giới
Quá trình phát triển của thuốc BVTV trên thế giới, theo PGS.TS Nguyễn
Trần Oánh và CS (2007, tr 6-7) chia thành các giai đoạn như sau:
• Giai đoạn 1 (Trước thế kỷ 20): Với trình độ canh tác lạc hậu, các giống cây
trồng có năng suất thấp, tác hại của dịch hại còn chưa lớn. Để bảo vệ cây,
người ta dựa vào các biện pháp canh tác, giống sẵn có. Sự phát triển nông
nghiệp trông chờ vào sự may rủi. Tuy con người đã phát hiện ra cách sử dụng
một số chất hóa học để diệt trừ sâu bệnh như:
- 1848, lưu huỳnh trừ bệnh phấn trắng Erysipphacea hại nho.
12
- Dung dịch boocđô ra đời năm 1879; lưu huỳnh vôi dùng để trừ rệp sáp
Aspidiotus perniciosus hại cam (1881)
- Mở đầu cho việc dùng các chất xông hơi trong BVTV là sự kiện dùng HCN
trừ rệp vảy Aonidiella aurantii hại cam (1887)
- 1889, aseto asenat đồng dùng trừ sâu Leptinotarsa decemeatas hại khoai tây
- 1892, asenat chì trừ sâu rừng Porthetria despr, sâu ăn quả
- Nửa cuối thế kỷ 19, dùng cacbon disulfua (CS2) để chống chuột đồng và các ổ
rệp Pluylloxera hại nho Nhưng những biện pháp hoá học lúc này vẫn chưa có

Mặc dù sự phát triển của biện pháp hoá học có nhiều lúc thăng trầm, song
tổng giá trị tiêu thụ thuốc BVTV trên thế giới và số hoạt chất tăng lên không
ngừng, số chủng loại ngày càng phong phú. Nhiều thuốc mới và dạng thuốc
mới an toàn hơn với môi sinh môi trường liên tục xuất hiện bất chấp các quy
định quản lý ngày càng chặt chẽ của các quốc gia đối với thuốc BVTV và kinh
phí đầu tư cho nghiên cứu để một loại thuốc mới ra đời ngày càng lớn.
Trong 10 năm gần đây tổng lượng thuốc BVTV tiêu thụ có xu hướng giảm,
nhưng giá trị của thuốc tăng không ngừng. Nguyên nhân là cơ cấu thuốc thay
đổi: nhiều loại thuốc cũ, giá rẻ, dùng với lượng lớn, độc với môi sinh môi
trường được thay thế dần bằng các loại thuốc mới hiệu quả, an toàn và dùng
với lượng ít hơn, nhưng lại có giá thành cao.
Tuy vậy, mức đầu tư về thuốc BVTV và cơ cấu tiêu thụ các nhóm thuốc
tuỳ thuộc trình độ phát triển và đặc điểm canh tác của từng nước. Ngày nay,
biện pháp hoá học BVTV được phát triển theo các xu hướng chính sau:
- Nghiên cứu tìm ra các hoạt chất mới có cơ chế tác động mới, có tính chọn
lọc và hiệu lực trừ dịch hại cao hơn, lượng dùng nhỏ hơn, tồn lưu ngắn, ít độc
và dễ dùng hơn. Thuốc trừ sâu tác dụng chậm (điều khiển sinh trưởng côn
trùng, pheromon, các chất phản di truyền, chất triệt sản) là những ví dụ điển
hình. Thuốc sinh học được chú ý dùng nhiều hơn.
- Tìm hiểu các phương pháp và nguyên liệu để gia công thành các dạng
thuốc mới ít ô nhiễm, hiệu lực dài, dễ dùng, loại dần dạng thuốc gây ô nhiễm
môi trường.
- Nghiên cứu công cụ phun rải tiên tiến và cải tiến các loại công cụ hiện có
để tăng khả năng trang trải, tăng độ bám dính, giảm đến mức tối thiểu sự rửa
trôi của thuốc. Chú ý các phương pháp sử dụng thuốc khác bên cạnh phun
thuốc còn đang phổ biến. Thay phun thuốc sớm, đại trà và định kỳ bằng phun
14
thuốc khi dịch hại đạt đến ngưỡng.
Những quốc gia có sản lượng, kim ngạch xuất nhập khẩu và sử dụng
HCBVTV đứng hàng đầu thế giới là Trung Quốc và Hoa Kỳ.

2.2.3. Lịch sử phát triển, tình hình sản xuất và sử dụng thuốc BVTV ở Việt
Nam
Theo PGS.TS Nguyễn Trần Oánh và CS (2007, tr8-9), chia thành ba giai
đoạn:
• Giai đoạn trước năm 1957: Biện pháp hoá học hầu như không có vị trí trong
sản xuất nông nghiệp. Một lượng rất nhỏ sunfat đồng được dùng ở một số đồn
điền do Pháp quản lý để trừ bệnh gỉ sắt cà phê và bệnh thối gốc chảy mủ cao
su và một ít DDT được dùng để trừ sâu hại rau.
Việc thành lập Tổ Hoá Bảo vệ thực vật (1/1956) của Viện Khảo cứu trồng
trọt đã đánh dấu sự ra đời của ngành Hoá Bảo vệ thực vật ở Việt nam. Thuốc
BVTV được dùng lần đầu trong sản xuất nông nghiệp ở miền Bắc là trừ sâu
gai, sâu cuốn lá lớn bựng phỏt ở Hưng yên (vụ đông xuân 1956-1957). Ở miền
Nam, thuốc BVTV được sử dụng từ 1962.
• Giai đoạn từ 1957 - 1990: Thời kỳ bao cấp, việc nhập khẩu, quản lý và phân
phối thuốc do nhà nước độc quyền thực hiện. Nhà nước nhập rồi trực tiếp phân
phối thuốc cho các tỉnh theo giá bao cấp, rồi qua HTX nông nghiệp đến tay xã
viên để phòng trị dịch hại. Lượng thuốc BVTV dùng không nhiều, khoảng
15000 tấn thành phẩm/năm với khoảng 20 chủng loại thuốc trừ sâu (chủ yếu)
và thuốc trừ bệnh. Đa phần là các thuốc có độ tồn lưu lâu trong môi trường hay
có độ độc cao.
Tuy lượng thuốc dùng ít, nhưng tình trạng lạm dụng thuốc BVTV vẫn nảy
sinh. Để phòng trừ sâu bệnh, người ta chỉ biết dựa vào thuốc BVTV. Thuốc
dùng tràn lan, phun phòng là phổ biến, khuynh hướng phun sớm, phun định kỳ
ra đời, thậm chí dùng thuốc cả vào những thời điểm không cần thiết; tình trạng
dùng thuốc sai kỹ thuật nảy sinh khắp nơi; thậm chí người ta còn hy vọng dùng
thuốc BVTV để loại trừ hẳn một loài dịch hại ra khỏi một vùng rộng lớn.
Thuốc đã để lại những hậu quả rất xấu đối với môi trường và con người.
Khi nhận ra những hậu quả của thuốc BVTV, cộng với tuyên truyền quá
16
mức về tác hại của chúng đã gây nên tâm lý sợ thuốc. Từ cuối những năm 80

Một số công trình nghiên cứu đã chỉ ra sự tồn lưu HCBVTV trong đất,
nước, không khí, trong cây trồng và cả trong thực phẩm, hậu quả đã ảnh hưởng
xấu đến động vật đặc biệt là con người.
- Không khí có thể dễ dàng bị ô nhiễm bởi HCBVTV dễ bay hơi, thậm chí
không bay hơi như DDT sẽ bay hơi rất nhanh vào không khí trong điều kiện
khí hậu thời tiết nóng. Ở các vùng nhiệt đới, khoảng 90 % HCBVTV phốt pho
hữu cơ có thể bay hơi nhanh hơn. Các thuốc diệt cỏ cũng bị bay hơi nhất là
trong quá trình phun thuốc. Tuy nhiên theo Ewards có rất ít bằng chứng về tiếp
xúc với HCBVTV trong không khí gây ảnh hưởng nghiêm trọng lên sức khỏe
con người trừ những nơi mà HCBVTV được sử dụng trong những khu vực bị
quây kín, thông khí không được thông thoáng (Đỗ Hàm và CS, 2007).
- Trong đất có tới 50 % lượng HCBVTV được phun để bảo vệ mùa màng hoặc
được sử dụng diệt cỏ đã phun không đúng vị trí và dải trên mặt đất. Một vài
HCBVTV như clo hữu cơ có thể tồn tại trong đất nhiều năm mặc dù là một
lượng lớn HCBVTV đã bay hơi. Theo Bùi Vĩnh Diên, Vũ Đức Vọng nghiên
cứu dư lượng HCBVTV trong đất tại Dắk Lắk thấy trong đất canh tác các loại
có chứa dư lượng HCBVTV chung là 62,22 % số mẫu và 44,44 % mẫu có dư
lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Đất trồng cà phê 60,0 % số mẫu có dư
lượng HCBVTV và 33,33 % số mẫu có dư lượng vượt quá tiêu chuẩn cho
phép. Đất trồng rau, màu 66,66 % số mẫu có dư lượng HCBVTV và 60,0 %
mẫu có dư lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Đất trồng lúa 60,0 % số mẫu
có dư lượng HCBVTV và 40,0 % mẫu có dư lượng vượt quá tiêu chuẩn cho
phép (Bùi Vĩnh Diên, Vũ Đức Vọng và CS, 2004).
- Nước có thể bị ô nhiễm bởi việc đổ các HCBVTV thừa sau khi phun xong. Đổ
nước rửa dụng cụ sau khi phun xuống hồ ao. Cây trồng được phun HCBVTV ở
ngay cạnh mép nước, sự rò rỉ, xói mòn từ đất đã xử lý bằng HCBVTV hoặc
HCBVTV rơi xuống từ không khí bị ô nhiễm. Sử dụng HCBVTV cho xuống
các sông hồ để giết cá và vớt cá để ăn (Ngô Thanh Hà, Nguyễn Minh Trang,
tài liệu dịch 2007), (Nguyễn Đình Mạnh, 2000). Nghiên cứu của Bùi Vĩnh
Diên, Vũ Đức Vọng dư lượng HCBVTV chung là 58,33 % số mẫu và 20,0 %

Một số côn trùng có khả năng kháng thuốc sẽ duy truyền tính nỳ cho thế hệ
sau và như vậy hiệu lực của thuốc BVTV giảm. muốn diệt sâu, lại phải gia
tăng liều lượng thuốc sử dụng, điều này làm gia tăng dư lượng thuốc BVTV
19
trên nông sản và môi trường ngày càng bị ô nhiểm hơn. Mặt khác nông dân sẽ
sử dụng các loại thuốc cấm sử dụng do có độ độc cao và tính tồn lưu lâu dài
hoặc phối trộn nhiều thuốc BVTV làm tăng độ độc. theo thống kê đến năm
1971 đã có 225 loài côn trùng và nhệnh kháng thuốc. thuốc BVTV làm tăng
loài này và giảm loài kia, song nhìn chung làm giảm đa dạng sinh học (loài gia
tăng đa số là loài gây hại).
2.3.3. Ảnh hưởng tới sức khỏe con người
Ảnh hưởng của HCBVTV đến sức khỏe con người bao gồm:
- Nhiễm độc cấp thường gặp là: các vụ tự tử, các vụ nhiễm độc hàng loạt do
thức ăn bị nhiễm HCBVTV, các vụ tai nạn hóa chất trong công nghiệp và sự
tiếp xúc nghề nghiệp trong nông nghiệp là nguyên nhân của phần lớn các vấn
đề sức khỏe nghiêm trọng có liên quan tới HCBVTV (Craig Meisner, 2004).
- Các ảnh hưởng mãn tính do sự tiếp xúc với HCBVTV với liều lượng nhỏ
trong thời gian dài có liên quan tới nhiều sự rối loạn và các bệnh khác nhau.
Các nghiên cứu khoa học đã tìm thấy những bằng chứng về mối liên quan giữa
HCBVTV với bệnh ung thư não, ung thư vú, ung thư gan, dạ dày, bàng quang,
thận. Các hậu quả sinh sản: đẻ non, vô sinh, thai dị dạng, quái thai, ảnh hưởng
chất lượng tinh dịch, rối loạn thần kinh thực vật, rối loạn hành vi, tổn thương
chức năng miễn dịch và dị ứng, tăng cảm giác da. Đặc biệt là những liên quan
của HCBVTV với ung thư, bạch cầu cấp ở trẻ em. Liên quan đến một số bệnh
như Alheimer, bệnh Parkison, các bệnh ở hệ thống miễn dịch, tạo huyết.
Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có những con số chính xác về ngộ độc
HCBVTV trên phạm vi toàn cầu. Theo Tổ chức Y tế Liên Mỹ ước tính khoảng
3 % người lao động nông nghiệp tiếp xúc với HCBVTV bị ngộ độc cấp tính,
với khoảng 1,3 tỷ người lao động nông nghiệp trên toàn thế giới có nghĩa là
khoảng 39 triệu người có thể bị ngộ độc cấp tính hàng năm.

Methylisocyanate đã làm 200.000 người mắc và 2000 người tử vong (Đỗ Hàm
và CS, 2007) .
Tại Campuchia theo nghiên cứu của Sylviane Nguyen và CS phỏng vấn 210
nông dân sử dụng HCBVTV có 88 % có triệu chứng ngộ độc.
Nhiễm độc HCBVTV là “bệnh dịch vô hình” luôn tồn tại ở tất cả các quốc
gia. Có rất nhiều thống kê, báo cáo và những nghiên cứu ở nhiều nước trên thế
giới về ngộ độc và cách phòng ngộ độc cũng như xử trí ngộ độc HCBVTV.
21
2.3.3.2. Thực trạng nhiễm độc hoá chất bảo vệ thực vật ở Việt Nam
HCBVTV được sử dụng ở Việt Nam từ năm 1957, trong thời gian 20 năm
đầu người ta không chú ý nhiều về tác hại của các HCBVTV đối với môi
trường và con người. Đến những năm 80 mới có những công trình nghiên cứu
về ô nhiễm môi trường và tác dụng độc hại của HCBVTV đối với sức khỏe con
người. Những ảnh hưởng trên lâm sàng, cận lâm sàng của HCBVTV đối với
người Việt Nam bước đầu được làm sáng tỏ và là tiếng chuông báo động về
nguy cơ sức khỏe môi trường do HCBVTV gây nên ở nước ta.
Theo Hà Minh Trung và CS trong nhóm nghiên cứu đề tài cấp nhà nước 11-
08, cả nước hiện có 11,5 triệu hộ nông nghiệp, số người tiếp xúc nghề nghiệp
với HCBVTV ít nhất cũng tới 11,5 triệu người. Với tỷ lệ nhiễm độc HCBVTV
mạn tính là 18,26 % thì số người bị nhiễm độc mạn tính trong cả nước có thể
lên tới 2,1 triệu người.
Theo Bộ Y tế từ năm 1980-1985 chỉ riêng 16 tỉnh phía Bắc đã có 2.211
người bị nhiễm độc nặng do HCBVTV, 811 người chết. Năm 1997 tại 10 tỉnh,
thành phố cả nước với lượng HCBVTV sử dụng mới chỉ là 4.200 tấn nhưng đã
có 6.103 người bị nhiễm độc, 240 người chết do nhiễm độc cấp và mãn tính.
Nghiên cứu của Vụ Y tế dự phòng (chương trình VTN/OCH/010 - 96.97), tại 4
tỉnh Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa, Tiền Giang, Cần Thơ trong 4 năm (1994-
1997) đã có 4.899 người bị nhiễm độc HCBVTV, 286 người chết (5,8 %). Các
biểu hiện nhiễm độc sau ngày làm việc khá phổ biến: đau đầu, chóng mặt, mệt
mỏi, lợm giọng, buồn nôn, chán ăn…Nhiều tác giả đã nghiên cứu đánh giá ảnh

vong do nhiễm độc chiếm 2,51 %.
Trần Như Nguyên, Đào Ngọc Phong nghiên cứu trên 500 hộ gia đình ngoại
thành Hà Nội thấy dấu hiệu phổ biến nhất sau khi sử dụng HCBVTV là chóng
mặt, nhức đầu, buồn nôn thấy ở 70 % đối tượng ngoài ra còn các triệu chứng
ăn kém, hoa mắt, đau bụng (rối loạn giấc ngủ).
Trần Như Nguyên, Lê Minh Giang và CS sử dụng phương pháp xã hội học
và dịch tễ học điều tra cộng đồng trên 510 người ở ba vùng chuyên canh tại:
Hà Nam - Thái Nguyên và ngoại thành Hà Nội năm 1995-1997. Kết quả nhận
thấy có sự trùng hợp giữa những biến động thai nghén không mong muốn khác
nhau với mức độ phun thuốc khi mang thai.
Hà Huy Kỳ và CS nghiên cứu 213 công nhân sang chai, đóng gói HCBVTV
23
ở 4 cơ sở sản xuất. Kết quả cho thấy giảm hoạt tính enzym cholinesterase toàn
phần chiếm 34,7 % ; giảm enzym cholinesterase hồng cầu 33,8 %; enzym
cholinesterase huyết tương giảm trên 30 % chiếm 8,9 %.
Lê Thị Thu, Nguyễn Thị Dư Loan, Hoàng Thị Bích Ngọc nghiên cứu trên
36 người dân thường xuyên tiếp xúc với HCBVTV ở 2 xã thuộc huyện Thường
Tín, nhóm chứng gồm 32 sinh viên Học viện Quân y. Kết quả nghiên cứu cho
thấy: ở những người làm nông nghiệp, tiếp xúc dài ngày với HCBVTV thì hoạt
độ enzym cholinesterase (5931 U/l) giảm so với nhóm chứng (8359U/l).
Cao Thuý Tạo tiến hành một nghiên cứu ngang, mô tả nguy cơ nhiễm độc
HCBVTV trên người sử dụng tại một số vùng chuyên canh khác nhau. Kết quả
cho thấy người sử dụng HCBVTV thường có biểu hiện mệt mỏi chóng mặt,
tăng tiết nước bọt, mất ngủ. Nồng độ HCBVTV/cm2 da sau khi phun gấp 2 lần
trước khi phun, 32,4 % đối tượng nghiên cứu có biểu hiện cường phó giao
cảm.
Có thể nói nhiễm độc HCBVTV là một thực tế diễn ra thường xuyên liên
tục ở tất cả các địa phương trong nước và trở thành một vấn đề lớn trong
CSBVSK người lao động nông nghiệp ở nước ta hiện nay.
2.4. Nguyên nhân làm tăng ảnh hưởng xấu của hóa chất BVTV tới môi trường

hết các loài sâu, bệnh khi phun trên đồng ruộng (hiệu quả của thuốc BVTV chỉ đạt
từ80 – 85%). Vì vậy, ở những nơi nào người dân dùng nhiều thuốc để phòng trừ
các đối tượng sâu bệnh hại lúa hoặc các cây rau mầu khác thì ở chính những nơi
đó sẽ thường xuyên bùng phát dịch sâu bệnh vào những vụ và năm sau do thiên
địch chưa kịp hồi phục để đủ sức khống chế sâu hại. Ngoài ra, khi sử dụng thuốc
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status