BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
BÙI LÂN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG DƯ LƯỢNG THUỐC BẢO VỆ
THỰC VẬT, PHÂN BÓN CỦA RAU TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH KHÁNH HÒA VÀ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Nha Trang, 2013 i LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung thực hiện của luận văn này là kết quả nghiên
cứu của bản thân, không sao chép kết quả nghiên cứu của người khác. Tôi xin chịu
trách nhiệm hoàn toàn nếu có bất kì sự gian dối nào.
Người cam đoan Bùi Lân
ii LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ tận tình của
1.2. THUỐC BẢO VỆ VÀ PHÂN BÓN HÓA HỌC TRONG CANH TÁC RAU 5
1.3.1. SỰ TẤT YẾU PHẢI DÙNG THUỐC BẢO VỆ VÀ PHÂN BÓN
HÓA HỌC 5
1.3.1. KHẢ NĂNG GÂY MẤT AN TOÀN THỰC PHẨM KHI DÙNG
THUỐC BẢO VỆ VÀ PHÂN BÓN HÓA HỌC 6
1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT,
PHÂN BÓN HÓA HỌC TRONG RAU 9
1.3.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA THẾ GIỚI 9
1.3.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM 12
1.4. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, TIÊU THỤ RAU ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HÒA
14
1.4.1. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT RAU 14
1.4.2. TÌNH HÌNH TIÊU THỤ RAU 21
1.5. TÌNH HÌNH KINH DOANH, SỬ DỤNG THUỐC BVTV, PB 22
1.5.1. TÌNH HÌNH KINH DOANH THUỐC BVTV, PB 22
1.5.2. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG BVTV, PB 23
1.6. ĐỘC TÍNH CỦA THUỐC BVTV VÀ PBHH 24
1.6.1. ĐỘC TÍNH CỦA THUỐC BVTV 24
1.6.2. ĐỘC TÍNH CỦA PBHH 25
1.7. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DƯ LƯỢNG THUỐC BVTV, PBHH 26
1.7.1. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DƯ LƯỢNG THUỐC BVTV 27
iv 1.7.2. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DƯ LƯỢNG PBHH 29
1.8. QUY ĐỊNH GIỚI HẠN CHO PHÉP CỦA HÓA CHẤT VÀ VI SINH VẬT
GÂY HẠI TRONG RAU 29
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 31
2.2. ĐỊA ĐIỂM LẤY MẪU 31
HÓA HỌC CỦA MỘT SỐ LOẠI RAU SẢN XUẤT TẠI KHÁNH
HÒA 54
3.3.2. DƯ LƯỢNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ PHÂN BÓN
HÓA HỌC CỦA MỘT SỐ LOẠI RAU TIÊU THỤ 67
3.4. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HẠN CHẾ DƯ LƯỢNG THUỐC BẢO VỆ THỰC
VẬT, PHÂN BÓN HÓA HỌC TRONG RAU TRỒNG TRÊN CẠN 83
3.4.1. XÁC ĐỊNH NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG SẢN XUẤT RAU
AN TOÀN 83
3.4.2. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ DƯ LƯỢNG
THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT, PHÂN BÓN TRONG RAU
ĐƯỢC TRỒNG TRÊN CẠN 86
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 97 vi DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BVTV: Bảo vệ thực vật
PBHH: Phân bón hóa học
PTN: Phòng thí nghiệm
ADI: (Acceptable Daily Intake) Lượng ăn vào hàng ngày chấp nhận được (đơn vị
tính: mg/kg thể trọng)
WTO: (World Trade Organization) Tổ chức thương mại thế giới
FAO: (Food Aquaculture Organization) Tổ chức nông lương thế giới
PHI: (Preharvest Interval) Thời gian cách ly (ngày)
MRL: (Maximum Residues Limited) Giới hạn dư lượng tối đa cho phép (mg/kg hoặc
sản xuất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 59
Bảng 3.6. Dư lượng phát hiện thuốc BVTV nhóm Carbamate của một số loại rau sản
xuất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 61
Bảng 3.7. Dư lượng phát hiện thuốc BVTV nhóm Clo hữu cơ của một số loại rau sản
xuất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 63
Bảng 3.8. Dư lượng phát hiện thuốc BVTV nhóm Lân hữu cơ của một số loại rau tiêu
thụ trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 73
Bảng 3.9. Dư lượng phát hiện thuốc BVTV nhóm Cúc tổng hợp của một số loại rau
tiêu thụ trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 75
Bảng 3.10. Dư lượng phát hiện thuốc BVTV nhóm Carbamate của một số loại rau tiêu
thụ trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 77
Bảng 3.11. Dư lượng phát hiện thuốc BVTV nhóm Clo hữu cơ của một số loại rau tiêu
thụ trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 78
viii DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
Hình 1.1. Rau cải xanh 14
Hình 1.2. Rau muống 15
Hình 1.3. Rau mồng tơi 16
Hình 1.4. Cải xà lách 17
Hình 1.5. Hình ảnh bao bì thuốc BVTV trên các ruộng rau sản xuất 19
Hình 1.6. Hình ảnh rửa rau ở cống nước thải 20
Hình 1.7. Hình ảnh bày bán rau 21
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ nghiên cứu 32
Sơ đồ 2.2. Qui trình lấy mẫu 33
Hình 3.1. Tỷ lệ % phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên số mẫu khảo sát 54
Hình 3.2. Tỷ lệ phát hiện dư lượng thuốc BVTV của một số loại rau sản xuất trên địa
Hình 3.16. Tỷ lệ mẫu rau tiêu thụ phát hiện và không phát hiện thấy dư lượng PBHH
trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 79
Hình 3.17. Số mẫu phát hiện và không phát hiện dư lượng PBHH của một số loại rau
tiêu thụ trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 80 1 MỞ ĐẦU
Vệ sinh an toàn thực phẩm trong cả nước nói chung và tỉnh Khánh Hòa nói
riêng đang tạo nhiều lo lắng cho người dân. Nhiều sự kiện như việc tiếp tục sử dụng
những hóa chất cấm dùng trong nuôi trồng, chế biến nông thủy sản, thực phẩm, việc
sản xuất một số sản phẩm kém chất lượng do quy trình sản xuất hoặc do nhiễm độc từ
môi trường, đang gây ảnh hưởng xấu đến xuất khẩu và tiêu dùng.
Các vụ ngộ độc thực phẩm của một số bếp ăn tập thể, nhiều thông tin liên tục về
tình hình an toàn vệ sinh thực phẩm ở một vài nước trên thế giới, cộng thêm dịch cúm
gia cầm tái phát, bệnh heo tai xanh ở một số tỉnh thành trên cả nước càng làm bùng lên
sự lo âu của mọi người chúng ta.
Mỗi gia đình của người Việt Nam, trong bữa ăn hàng ngày có thể thiếu thịt,
thiếu cá nhưng không thể thiếu các loại rau xanh. Điều đó cho thấy sự cần thiết phải có
chất xơ để giúp cho quá trình chuyển hóa và hấp thụ thức ăn được thuận lợi. Những
năm gần đây trên đà phát triển của công nghệ sinh học đã giúp cho người tiêu dùng có
nhiều sản phẩm mới. Nhìn chung, các sản phẩm này có lợi cho sức khỏe của con
người. Tuy nhiên việc sử dụng thuốc BVTV, PBHH để kích thích sự sinh trưởng và
phát triển của cây trồng nói chung và rau nói riêng gây nên lo lắng cho người tiêu
dùng.
Làm thế nào để người tiêu dùng trong nước yên tâm ăn rau thì lúc đó rau Việt
Nam mới có thể xuất khẩu được. Đây là một trong các vấn đề thách thức của ngành
nông nghiệp Việt Nam nói chung và Khánh Hòa nói riêng phải giải quyết.
BVTV, phân bón trong rau.
Giúp đỡ người dân bằng cách đưa tiến bộ khoa học vào canh tác rau.
Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng.
3 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. TỔNG QUAN VỀ SẢN XUẤT, TIÊU THỤ RAU
Theo số liệu từ các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2012 diện tích
trồng rau cả nước đạt khoảng 823.728 ha (tăng 103,7% so với năm 2011), năng suất
đạt 170 tạ/ha (tăng 102% so với năm 2011), sản lượng đạt 14,0 triệu tấn (tăng 106% so
với năm 2011); trong đó miền Bắc diện tích đạt 357,5 nghìn ha, năng suất ước đạt 160
tạ/ha, sản lượng dự kiến đạt 5,7 triệu tấn; miền Nam diện tích đạt 466,2 nghìn ha, năng
suất dự kiến đạt 178 tạ/ha, sản lượng dự kiến đạt 8,3 triệu tấn.
Bảng 1.1: Diện tích gieo trồng rau năm, ha, 2011-2012 [7]
Các tỉnh Năm 2011 Năm 2012
Cả nước 794.243 823.728
Miền Bắc 302.808 357.551
ĐBSH 127.808 159.7690
Đông Bắc 90.293 94167
Tây Bắc 21.897 9.161
Bắc Trung Bộ 84.667 94.454
Miền Nam 491.435 466.177
DH Nam Trung Bộ 62.651 64.809
Tây Nguyên 123.859 87.361
Đông Nam Bộ 83.105 67.768
ĐBSCL 221.819 246.240
Bán buôn cả ruộng: tư thương chủ động đến thu hoạch và mang đi tiêu thụ tại
các chợ đầu mối. Hình thức này người sản xuất bán cho tư thương thấp hơn giá bán lẻ
tại chợ 20 - 30% .
Bán buôn cho người thu gom: một số chủ đại lý trong vùng đứng ra thu gom sản
phẩm sau thu hoạch để tiêu thụ ở đại phương và các tỉnh lân cận.
Ngoài ra một số tỉnh còn có hình thức tiêu thụ như:
Tiêu thụ rau thông qua ký kết hợp đồng: Các Hợp tác xã, doanh nghiệp, tổ liên
kết … ký hợp đồng thu mua rau để tiêu thụ tại các siêu thị, cửa hàng.
Tiêu thụ thông qua các mối tiêu thụ ổn định: bếp ăn công nghiệp, bếp ăn nhà
trẻ, trường học
5 1.2. THUỐC BẢO VỆ VÀ PHÂN BÓN HÓA HỌC TRONG CANH TÁC RAU
1.3.1. SỰ TẤT YẾU PHẢI DÙNG THUỐC BẢO VỆ VÀ PHÂN BÓN HÓA HỌC
Vào những năm 60 của thế kỷ XX khi dân số của thế giới bắt đầu tăng cao thì
nhu cầu của thực phẩm dùng cho con người nói chung và rau nói riêng tăng lên rất
nhiều. Năm 1939 sau khi con người phát hiện và sản xuất được thuốc trừ sâu DDT
(C
14
H
9
C
l5
: Dichloro-Diphenyl-Trichloroethane) thì các biện pháp được sử dụng để tiêu
diệt địch hại trước đây thường dùng như phương pháp thủ công, thuốc thảo mộc, lợi
dụng thiên địch ít được chú ý. Bắt đầu từ đây nền nông nghiệp chủ yếu dựa vào chất
hữu cơ chuyển sang nền nông nghiệp sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học ngày
càng phổ biến. Việc sử dụng phân bón hóa học và thuốc BVTV trong nông nghiệp đã
đem lại năng xuất cây trồng được tăng cao. Việc thâm canh tăng năng xuất kèm theo
dân [40].
Ngày nay, việc sử dụng thuốc BVTV, PBHH trong nền nông nghiệp tiên tiến
được đặt ra sao cho: năng xuất cây trồng không giảm và việc ô nhiễm môi trường ở
mức thấp nhất. Để đảm bảo nhu cầu lương thực nói chung và rau nói riêng con người
không thể dựa hoàn toàn vào nền nông nghiệp sử dụng các chất hóa học mà cũng
không thể quay lại nền nông nghiệp truyền thống, chỉ sử dụng các chất hữu cơ. Để tồn
tại lâu bền con người phải xây dựng nền nông nghiệp hài hòa giữa hai nền sản xuất nói
trên [39].
Rau là loại cây trồng ngắn ngày nên thường được trồng nhiều lần trong năm
trên cùng một diện tích nên để tăng năng xuất con người thường dùng PBHH. Ngoài ra
trên diện tích trồng rau thường xuất hiện sâu bệnh nên người dân sử dụng thuốc BVTV
để phòng trừ. Theo Cục BVTV thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn [6] thì
tình trạng dư lượng thuốc BVTV trong rau trong các năm gần đây rất đáng quan tâm.
Việc sử dụng thuốc BVTV, PBHH của người dân trong sản xuất rau thường theo thói
quen và truyền miệng nhau là chính chứ chưa theo khuyến cáo của nhà sản xuất và cơ
quan quản lý Nhà nước.
Bên cạnh đó, khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm của nước ta cũng rất thuận lợi cho
sự phát triển của cây trồng nhưng cũng tạo điều kiện cho sự phát sinh, phát triển của
sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng. Do vậy việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để
phòng trừ sâu hại, dịch bệnh bảo vệ mùa màng, giữ vững an ninh lương thực quốc gia
vẫn là một biện pháp quan trọng và chủ yếu. Cùng với PBHH, thuốc BVTV là yếu tố
rất quan trọng để bảo đảm an ninh lương thực cho loài người.
1.3.1. KHẢ NĂNG GÂY MẤT AN TOÀN THỰC PHẨM KHI DÙNG THUỐC
BẢO VỆ VÀ PHÂN BÓN HÓA HỌC
Do các loại thuốc BVTV thường là các chất hoá học có độc tính cao nên mặt
trái của thuốc BVTV là rất độc hại với sức khoẻ cộng đồng và là một đối tượng có
7 nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường sinh thái nếu không được quản lý chặt chẽ và sử
Do tập quán canh tác và diện tích trồng lúa lớn nên các các tỉnh vùng đồng bằng
nông dân sử dụng nhiều thuốc BVTV hơn (1,15- 2,66 kg thành phẩm/ha/năm) so với
các tỉnh miền núi (0,23 kg thành phẩm/ha/năm).
Bên cạnh đó trong quá trình trồng trọt người dân thường dùng PBHH, thuốc
BVTV theo thói quen. Một số khác theo hướng dẫn của các đại lý bán phân bón, thuốc
BVTV. Do ít được tập huấn kiến thức về sản xuất rau an toàn nên việc bón phân
không theo quy định. Khi có sâu bệnh xảy ra trong quá trình sản xuất rau người dân
thường dùng thuốc BVTV để trị bệnh kể cả các loại thuốc nằm ngoài danh mục quy
định của Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Thời gian cách ly theo quy định
của nhà sản xuất trong việc sử dụng thuốc BVTV chưa được người dân thực hiện
nghiêm túc. Do đó dư lượng một số thành phần của thuốc BVTV và PBHH trong rau
rất lớn. Dư lượng này ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng.
Tuy Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Bảo vệ thực vật đã có nhiều
văn bản quy định và hướng dẫn cách sử dụng thuốc BVTV an toàn, phân bón hiệu quả
đặc biệt là trên rau và chè nhưng việc sử dụng thuốc BVTV, PBHH còn bộc lộ nhiều
bất cập chưa tương xứng với yêu cầu của nền sản xuất nông nghiệp sạch. Kết quả làm
ảnh hưởng đến chất lượng nông sản tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Việc tăng liều lượng thuốc, tăng số lần phun thuốc, dùng thuốc BVTV không
theo hướng dẫn, lạm dụng thuốc BVTV dẫn đến hậu quả đã gây ra hiện tượng kháng
thuốc, làm thuốc mất hiệu lực, để lại tồn dư thuốc BVTV quá mức cho phép trong
nông sản, thực phẩm. Phân bón bị lạm dụng sử dụng để tăng năng suất. Đó cũng là
nguyên nhân của tình trạng ngộ độc thực phẩm, làm giảm sức cạnh tranh của nông sản,
hàng hoá trên thị trường thế giới.
Ngoài ra, việc không tuân thủ thời gian cách ly sau khi phun thuốc, tình trạng
vứt bao bì thuốc BVTV bừa bãi sau sử dụng khá phổ biến. Thói quen rửa bình bơm và
dụng cụ pha chế thuốc BVTV không đúng nơi quy định gây ô nhiễm nguồn nước, gây
ngộ độc cho động vật thuỷ sinh cũng cần được cảnh báo và khắc phục ngay.
Về kinh doanh thuốc BVTV, trong phạm vi cả nước, còn nhiều điều bất cập làm
BVTV, PBHH cho người dân tại các vùng trồng rau. Tài liệu này nêu tên thuốc hoặc
tên phân bón thích hợp cho loại cây trồng nào đó, liều lượng được phép sử dụng, PHI,
cảnh báo an toàn cho người sử dụng và môi trường xung quanh [43]. Trường Đại học
Illinois của bang Illinois xuất bản sách về dịch hại trên rau mang tựa đề “Quản lý dịch
hại trong sản xuất nông nghiệp” (University of Illinois, 2000). Đây là một việc làm có
tác dụng rất lớn đối với người dân trong định hướng sử dụng thuốc BVTV, PBHH cho
cây trồng.
10 Ngày nay nền nông nghiệp của thế giới thâm canh cao nên nhu cầu sử dụng
thuốc BVTV, PBHH để phục vụ cho cây trồng cũng tăng lên nhiều. Doanh số của
thuốc BVTV vào những năm 80 của thế kỷ XX trên toàn thế giới mới vượt con số 20
tỷ USD nhưng 15 năm sau con số này đã vượt 35 tỷ USD, trong đó Châu Âu và Bắc
Mỹ chiếm gần 50%, vùng Viễn Đông chiếm khoảng 25%, 25% còn lại của các nước
khác [40]. Yêu cầu của thuốc BVTV đối với con người và môi trường tự nhiên ngày
càng cao hơn do đó chi phí để nghiên cứu đưa một loại thuốc BVTV mới ra thị trường
rất cao. Chi phí này gồm phát minh, sáng chế, đăng ký…lên đến 184 triệu USD gấp 8
lần so với cách đây 20 năm. Để phát triển một loại thuốc BVTV mới thời gian nghiên
cứu trung bình 9,1 năm so với năm 1995 là 8,3 năm [34].
Việc lạm dụng thuốc BVTV sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Mỗi năm
hàng ngàn người dân tại Bắc Mỹ bị ngộ độc bởi thuốc BVTV, riêng các nước đang
phát triển số người bị ngộ độc thuốc BVTV lên đến hàng triệu còn số người chết do sử
dụng thuốc BVTV lên đến hàng ngàn. Số người bị ngộ độc mãn tính còn lớn hơn rất
nhiều [40].
Năm 2004 kết quả một nghiên cứu tại Mỹ như sau thuốc BVTV không chỉ gây
ô nhiễm môi trường tại khu vực mà nó được sử dụng mà còn gây ô nhiễm ở các vùng
lân cận do sự rửa trôi [32]. Dư lượng thuốc BVTV cao thuộc về ớt, cà chua, rau diếp.
Thống kê năm 1999 – 2000 cho thấy dư lượng thuốc BVTV của nông sản tại các vùng
có sử dụng hóa chất cao gấp 5 lần và số mẫu có dư lượng thuốc BVTV cao gấp 6,8 lần
Bảng 1.2. Dư lượng thuốc BVTV trên rau tại một số nước [36],[45]
Stt Nước Tỷ lệ mẫu có
dư lượng thuốc
BVTV (%)
Tỷ lệ mẫu có
dư lượng
thuốc BVTV
lớn hơn MRL
(%)
Năm
01 Đài Loan 71,4 28,6 1986
02 Đài Loan - 1,3 2000
03 Mỹ 72 4,8 1996
04 Châu Âu 37 1,4 1996
05 Hàn Quốc - 0,8 2000
Nông nghiệp Australia tổ chức cho nông dân tập huấn kiến thức về việc sử
dụng thuốc BVTV, PBHH nếu nông sản do họ sản xuất vượt quá 50% về dư lượng so
với MRL. Sau khi được tập huấn mà nông sản của họ vẫn có dư lượng cao hơn MRL
thì tùy theo mức độ nặng hoặc nhẹ có thể xử phạt tiền hoặc cấm hành nghề [48].
12 Nguyên nhân làm cho dư lượng thuốc BVTV, PBHH trong rau cao theo Vong Nguyen
là do nông dân sử dụng bừa bãi thuốc BVTV, PBHH không đúng thời điểm, không
đúng liều lượng, trộn nhiều loại với nhau không căn cứ trên cơ sở khoa học. Tác giả
này đưa ra nguyên tắc sản xuất rau sạch như sau hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc
BVTV, PBHH, trồng cây con trên giá thể sạch và sử dụng phương pháp tưới nhỏ giọt
chứ không tưới ướt.
02 1992 23.100 75,4 15,6 7,0 2,0 24,5
03 1995 25.666 64,1 19,4 13,5 3,0 100,4
04 1998 42.000 47,9 26,7 24,3 1,1 196,7
05 2000 33.637 50,1 19,7 27,4 2,8 158,0
06 2002 37.081 40,3 25,3 32,6 1,8 150,0
07 2003 36.018 37,5 30,3 28,3 3,9 166,0
08 2006 71.345 42,1 28,4 25,0 4,5 291,0
09 2007 75.805 37,0 29,8 28,2 5,0 352,6 13 Lượng thuốc trừ sâu có xu thế giảm dần từ 83,3% năm 1991 xuống còn 37%
năm 2007 trong khi đó thuốc trừ cỏ có xu thế tăng dần từ 4,1% năm 1991 lên 29,8%
năm 2007, với mức tăng, giảm lượng các nhóm thuốc chủ yếu ở nước ta trong 10 năm
trở lại đây so với một số nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Malaysia thì
ở mức tương đương nhưng so với các nước phát triển thì Nhật Bản, Hàn Quốc thì còn
thấp hơn nhiều.
Trước năm 1998 thuốc BVTV nhập khẩu chủ yếu là thuốc trừ sâu và đa số sử
dụng cho cây lúa. Đến năm 2004 có khoảng 75% tổng lượng thuốc dùng cho lúa, hơn
10% dùng cho rau và khoảng 12% cho các cây trồng khác.
Năm 1997 có 80 Công ty, có 111 hoạt chất với 259 tên thương phẩm. Khối
lượng nhập khẩu 24.580 tấn. Đến năm 2007 có 158 Công ty, doanh nghiệp sản xuất
cung ứng thuốc BVTV, 774 tên hoạt chất được phép sử dụng, 2242 tên thương phẩm.
Khối lượng nhập khẩu 75.805 tấn [6].
Về công tác huấn luyện đào tạo, gần 50% số cán bộ kỹ thuật không hiểu đúng
các chỉ tiêu liên quan đến chất lượng thuốc BVTV. Đây quả là điều đáng lo ngại vì đội
ngũ này chính là người chỉ dẫn cho nông dân sử dụng thuốc BVTV như thế nào [1].
Nghiên cứu về sản xuất rau an toàn, nhiều tác giả đã đề cập đến một số giải
Quyết định về việc ban hành “Quy định giới hạn tối đa ô nhiễm sinh học và hóa học
trong thực phẩm”, trong đó có danh mục dư lượng tối đa cho phép của một số hoạt
chất thuốc BVTV trong một số loại nông sản dựa theo tài liệu của Codex [26].
1.4. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, TIÊU THỤ RAU ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HÒA
1.4.1. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT RAU
Theo định hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi tỉnh Khánh Hòa giai
đoạn 2010 – 2015 và tầm nhìn năm 2020 do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Khánh Hòa lập, đến ngày 31 tháng 12 năm 2011 diện tích trồng rau của tỉnh là 4.645
ha, năng suất bình quân đạt 138 tạ/ha với sản lượng là 64.101 tấn. Một số loại rau
thông dụng được trồng trên địa bàn tỉnh có sản lượng tương đối lớn như sau:
1.4.1.1. Cải xanh (Brassica juncea L.)[24]
Hình 1.1. Rau cải xanh