Đánh giá nhận thức của người dân về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và những giải pháp thích ứng trong sản xuất nông nghiệp tại xã xuân hải, huyện nghi xuân, tỉnh hà tĩnh - Pdf 43

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG

= = = =¶¶¶ = = = =

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ
ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NHỮNG
GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG TRONG SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP TẠI XÃ XUÂN HẢI, HUYỆN
NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH
Người thực hiện
Lớp
Khóa
Chuyên ngành
Giáo viên hướng dẫn

:
:
:
:
:

TRẦN NAM HẢI
MTB
56
KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
PGS.TS. ĐOÀN VĂN ĐIẾM

HÀ NỘI - 2016

56
KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
PGS.TS. ĐOÀN VĂN ĐIẾM
XÃ XUÂN HẢI, HUYỆN NGHI XUÂN,
TỈNH HÀ TĨNH

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận
này là trung thực và chưa hề được sử dụng cho một học vị nào.
Tôi cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận tốt
nghiệp này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều đã
được chỉ rõ nguồn.
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2016
Người cam đoan

Trần Nam Hải

i


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám đốc Học viện,
Ban chủ nhiệm khoa và các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Môi trường đã
truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập và rèn luyện
tại Học viện.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Đoàn Văn
Điếm đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và cho nhiều ý kiến trong quá trình thực


DANH MỤC VIẾT TẮT
ADB

: Ngân hàng phát triển Châu Á

BĐKH

: Biến đổi khí hậu

GDP

: Tổng sản phẩm quốc nội

GIS

: Hệ thống thông tin địa lý

IMHEN

: Viện Khí tượng, Thủy văn và Môi trường

IPCC

: Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu

ISPONRE : Viện chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường
NASA

: Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ

Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lượng mưa trong 50 năm qua
ở các vùng khí hậu của Việt Nam

Error: Reference source

not found
Bảng 1.4

Diện tích có nguy cơ bị ngập theo mực nước biển

Error:

Reference source not found
Bảng 1.5

Kịch bản mức tăng nhiệt độ TB năm so với thời kỳ 1980-1999
theo kịch bản phát thải trung bình (B2)

Error:

Reference

source not found
Bảng 1.6

Kịch bản mực nước biển dâng ở Việt Nam với thời kỳ 19801999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2)

Error:

Reference source not found

source not found

v


Bảng 3.5

Ảnh hưởng của BĐKH đối với sản xuất nông nghiệp............Error:
Reference source not found

Bảng 3.6

Nhận thức người dân về lực lượng ứng phó với BĐKH

Error:

Reference source not found
Bảng 3.7

Nhận thức người dân về biện pháp thích ứng với BĐKH

Error:

Reference source not found
Bảng 3.8

Những khó khăn mà người nông dân gặp phải khi thực hiện các
biện pháp thích ứng (câu hỏi một lựa chọn, n=60).................Error:
Reference source not found



Sự biến động tổng lượng mưa trong giai đoạn năm 1961-2015
Error: Reference source not found

Hình 3.5

Tần suất bão đổ bộ vào vùng bờ biển Nghệ An –Hà Tĩnh- Quảng
Bình giai đoạn 1961-2015........Error: Reference source not found

Hình 3.6

Nhận thức người dân về sự ấm lên của khí hậu (n=60)

Error:

Reference source not found
Hình 3.7

Nhận thức người dân về xu hướng thay đổi tần suất xuất hiện
nhiệt độ bất thường trong năm (n=60) Error: Reference source
not found

Hình 3.8

Nhận thức người dân về xu hướng thay đổi thời gian xuất hiện
nhiệt độ bất thường trong năm (n=60) Error: Reference source
not found

Hình 3.9


Hình 3.13

Sơ đồ các vùng bị thiên tai tại xã Xuân Hải 48

Hình 3.14

Thảo luận biện pháp thích ứng của người dân
Reference source not found

viii

Error:


MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khí hậu thời tiết là trạng thái của khí quyển, đóng vai trò quan trọng
trong đời sống của loài người, sinh vật trên khắp hành tinh. Biến đổi khí hậu
gây ảnh hưởng đến tài nguyên nước, năng lượng, nông nghiệp, an ninh lương
thực, sức khỏe con người,… ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Chính vì
vậy, BĐKH không còn đơn thuần là vấn đề môi trường nữa mà là vấn đề song
hành với sự phát triển, và tác động toàn diện đến sự phát triển của cả thế giới
trong tương lai.
Việt Nam, một đất nước hay bị thiên tai và đặc biệt dễ ảnh hưởng của
biến đổi khí hậu, hiện đang đối mặt với những thách thức mới trên chặng
đường phát triển tiếp theo, là quốc gia có đường bờ biển dài trên 3200km với
75% dân số sống gần biển. Là nước thứ 2 trong 5 nước chịu ảnh hưởng nặng
nề của biến đổi khí hậu và các nguy cơ cao do ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH
như: ngập lụt, nhiễm mặn, xói mòn, rửa trôi, hạn hạn và thiên tai,… Tất cả
những hiện tượng cực đoan này đều ẩn chứa những mối đe dọa to lớn đối với

các mảng quan trọng hơn vấn là lĩnh vực sản xuất Nông nghiệp là việc làm
cần thiết nhằm giảm thiểu hậu quả mà BĐKH gây ra.
Xã Xuân Hải nằm phía Đông Nam huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, với
đặc thù là xã nông nghiệp miền biển, nơi đây cách trung tâm huyện khoảng
3km theo trục đường tuyến trục đường huyện, đây là miền đất có lịch sử phát
triển lâu đời gắn liền với nông nghiệp lúa nước. Phía Nam có dòng sông Lam,
phía Đông giáp biển Đông gắn liền với dải phi lao chắn gió. Xuân Hải có tổng
diện tích nông nghiệp là 1210,74 ha trong đó diện tích cấy lúa là 136,12ha:
diện tích trồng cây ăn quả và các cây dược liệu là 365ha và diện tích đất lâm
nghiệp là 550ha. Xuân Hải là một xã đặc thù không có công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp chỉ phát triển nhỏ lẻ dừng lại ở mức sửa chữa nhỏ phục vụ cho
sản xuất nông nghiệp tại địa phương. Về dịch vụ phát triển mạnh chủ yếu là
các hàng quán buôn bán nhỏ lẻ, buôn bán các mặt hàng nhỏ lẻ phục vụ nhu
yếu phẩm cho các hộ dân trong địa phương. Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ

2


mới chiếm khoảng 12% còn lại 78% là sản xuất nông nghiệp. Những năm gần
đây tỷ trọng công nghiệp có giảm do chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả nước, tuy
vậy thì nông nghiệp vẫn là ngành chủ chốt của xã. Hàng năm hoạt động sản xuất
nông nghiệp của xã chịu nhiều rủi ro do thời tiết thay đổi thất thường, làm thay
đổi năng suất, chất lượng sản phẩm và thu nhập của người dân.
Xuất phát từ thực tế trên em tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá
nhận thức của người dân về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và những
giải pháp thích ứng trong sản xuất nông nghiệp tại xã Xuân Hải, huyện
Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá tác động và mức độ ảnh hưởng do biến đổi khí hậu đến hoạt
động sản xuất nông nghiệp tại xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

mà đặc trưng cho khu vực đó, nó phụ thuộc vào các yếu tố địa lý tự nhiên,
bức xạ, địa hình…
Hiện tượng khí hậu cực đoan: là trung bình của số các hiện tượng thời
tiết cực đoan trên một khoảng thời gian nhất định. Hiện tượng khí hậu cực
đoan có thể xác định từ các yếu tố khí hậu. Nói cách khác, hiện tượng khí hậu
cực đoan phần lớn không được quan trắc trực tiếp mà người ta căn cứ vào số

4


liệu quan trắc các yếu tố khí hậu để xác định hoặc quy định một hiện tượng
nào đó có xuất hiện hay không.
• Biến đổi khí hậu
Theo Điều 1, điểm 2 của Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về Biến
đổi khí hậu (UNFCCC) năm 1992, BĐKH là sự biến đổi của khí hậu do hoạt
động của con người gây ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi thành
phần của khí quyển toàn cầu và do sự biến động tự nhiên của khí hậu quan sát
được trong những thời kỳ có thể so sánh được (United Nations, 1992).
Biến đổi khí hậu: Theo IPCC(2007), biến đổi khí hậu(BĐKH) là sự biến
đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể nhận biết qua sự biến đổi về trung
bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian
đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc lâu hơn.
Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008, tr.6) định nghĩa BĐKH “là sự
biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc sự dao động của khí hậu
duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn”.
Nếu coi trạng thái cân bằng của hệ thống khí hậu là điều kiện thời tiết
trung bình và những biến động của nó trong khoảng thời vài thập kỷ hoặc dài
hơn, thì BĐKH là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng
khác của hệ thống khí hậu.
• Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con

đổi bên trong của Trái Đất và độ mặn của đại dương.
Nhóm nguyên nhân chủ quan (do sự tác động của con người) xuất phát
từ sự thay đổi mục đích sử dụng đất và nguồn nước, sự gia tăng lượng phát
thải khí CO2 và các khí nhà kính khác. Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng
từ năm 1750), con người đã sử dụng ngày càng nhiều năng lượng, chủ yếu từ
các nguồn nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt), qua đó đã thải vào khí
quyển ngày càng tăng các chất khí gây hiệu ứng nhà kính, làm tăng hiệu ứng
nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của Trái Đất. Nhằm hạn chế sự
BĐKH, Nghị định thư Kyoto nhằm hạn chế và ổn định sáu loại khí nhà kính
chủ yếu bao gồm: CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6.
- CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là
nguồn khí nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển. CO 2 cũng
sinh ra từ các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cốt thép.

6


- CH4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai
lại, hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than.
- N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp.
- HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và HFC23
là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC22.
- PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm.
- SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê.
Theo báo cáo mới nhất của Liên hiệp quốc, nguyên nhân của hiện
tượng biến đổi khí hậu 90% do con người gây ra, 10% do tự nhiên. Chu kỳ
nóng ấm của Trái Đất mang tính nội sinh và ngoại sinh tự nhiên được đẩy
nhanh và trở nên nghiêm trọng hơn do những tác động của khí thải công
nghiệp và hiệu ứng nhà kính làm thay đổi khả năng hấp thụ và phần năng
lượng bức xạ của khí quyển.

diện tích lớp băng trên cao nguyên Tây Tạng bị tan chảy khoảng 131km 2, chu
vi vùng băng tuyết bên sườn cao nguyên mỗi năm giảm 100 - 150m, có nơi
tới 350m. Tất cả đang làm cạn kiệt hồ nước Thanh Hải – 1 hồ lớn nhất Trung
Quốc, đe dọa hồ sẽ bị biến mất trong vòng 200 năm tới. Nếu nhiệt độ Trái Đất
tiếp tục tăng, khối lượng băng tuyết ở khu vực cao nguyên sẽ giảm 1/3 vào
năm 2050 và chỉ còn một nửa vào năm 2090, đe dọa hệ thống đường sắt trên
cao nguyên.
- Ở Bắc cực, khối băng có độ dày khoảng 3km đang mỏng dần và đã
mỏng đi 66cm. Ở Nam cực, băng cũng đang tan với tốc độ chậm hơn và
những núi băng ở Tây Nam cực đổ sụp. Ở Greenland, những lớp băng vĩnh
cửu tan chảy. Ở Alaska (Bắc Mỹ), nhiệt độ trung bình những năm gần đây đã

8


tăng 1,50C so với trung bình nhiều năm, làm tan băng và diện tích lớp băng
vĩnh cửu giảm 40%, lớp băng hàng năm thường dày 1,2m nay chỉ còn 0,3m.
- Rộng rãi về mặt khoa học khi cho rằng biến đổi khí hậu là có thật và
do con người gây ra đã một lần nữa trả lời cho các hoài nghi và tranh luận về
vấn đề biến đổi khí hậu trên thế giới. Mặc dù vẫn còn nhiều điều chưa chắc
chắn về tốc độ nóng lên, thời gian chính xác và các hình thức tác động nhưng
những nguy cơ gắn liền với thực trạng các lớp băng lớn trên Trái Đất đang tan
ra ngày một nhanh, nhiệt độ các đại dương tăng lên, các hệ sinh thái rừng
nhiệt đới bị hủy hoại và những hậu quả khác có thể xảy ra là hoàn toàn có thật
(UNDP,2008).
- Theo IPCC (2007), sự ấm lên của khí hậu là hoàn toàn chắc chắn.
Hàm lượng khí CO2, loại khí nhà kính quan trọng nhất trong bầu khí quyển
toàn cầu, dao động ở mức 200-300 ppm trong suốt 800.000 năm qua, nhưng
đã tăng lên ở mức khoảng 387 ppm trong 150 năm qua, chủ yếu là do đốt
nhiên liệu hóa thạch và một nguyên nhân nhỏ hơn là từ hoạt động sản xuất

thiết lập vào tháng 8/1997 - 9/1998, tháng 8/2009 – 7/2010 và tháng 9/2013
đến 8/2004 với giá trị cao hơn 0,68 oC. Năm 2014 được coi là năm nóng nhất
từ trước tới nay.
- Dựa trên các số liệu quan trắc nhiệt độ bề mặt Trái Đất, các nhà khoa
học tại NOAA dự đoán rằng hiện tượng El Nino sẽ bắt đầu xuất hiện trong
một hoặc hai tháng tới và muộn nhất vào mùa xuân năm 2015 ở Bắc bán cầu,
cho dù các quan trắc riêng về El Nino ở khu vực từ vĩ độ 5 oN đến 5oS và từ
kinh độ 170oW đến 120oW còn chưa rõ ràng và việc kiểm chứng có thể thấy
ngay tại Việt Nam, hiện tượng El Nino diễn ra mạnh mẽ tại khu vực miền
Trung và Nam Trung bộ nước ta kéo theo những ảnh hưởng nghiêm trọng cho
nền nông nghiệp nước ta.
- Trong báo cáo tổng hợp thông tin của Viện khí tượng thủy văn và môi
trường (IMHEN, 2010), lượng mưa ở một số nơi trên Trái Đất đã có sự biến
động như sau: Trong thời kỳ 1901 – 2005 xu thế biến đổi của lượng mưa rất
khác nhau giữa các khu vực và giữa các tiểu khu vực trên từng khu vực và

10


giữa các thời đoạn khác nhau trên từng tiểu khu vực. Ở Bắc Mỹ, lượng mưa
tăng lên ở nhiều nơi, nhất là ở Bắc Canađa nhưng lại giảm đi ở Tây Nam nước
Mỹ, Đông Bắc Mexico và bán đảo Bafa với tốc độ giảm chừng 2% mỗi thập
kỷ, gây ra hạn hán trong nhiều năm gần đây. Ở Nam Mỹ, lượng mưa lại tăng
lên trên lưu vực Amazon và vùng bờ biển Đông Nam nhưng lại giảm đi ở
Chile và vùng bờ biển phía Tây. Ở Châu Phi, lượng mưa giảm ở Nam Phi, đặc
biệt là ở Sahen trong thời đoạn 1960–1980. Ở khu vực nhiệt đới, lượng mưa
giảm đi ở Nam Á và Tây Phi với trị số xu thế là 7,5% cho cả thời kỳ 1901 –
2005. Khu vực có tính địa phương rõ rệt nhất trong xu thế biến đổi lượng mưa
là Australia do tác động to lớn của ENSO. Ở đới vĩ độ trung bình và vĩ độ
cao, lượng mưa tăng lên rõ rệt ở miền Trung Bắc Mỹ, Đông Bắc Mỹ, Bắc Âu,

gây ra biến đổi khí hậu nghiêm trọng. Ngưỡng giới hạn trên hợp lý cho sự gia
tăng nhiệt độ toàn cầu đến cuối thế kỷ 21 so với thời kỳ tiền công nghiệp đã
được các nhà khoa học khí hậu đưa ra là mức 2 0C. Bởi nếu vượt khỏi giới hạn
này thì nguy cơ biến đổi khí hậu trở thành thảm họa trong tương lai sẽ gia
tăng rất nhanh (UNDP, 2008).
- Tuy nhiên, IPCC (2007), trên cơ sở các kịch bản xác định những lộ
trình phát thải có thể xảy ra, đã đưa ra các dự đoán mức thay đổi nhiệt độ có
thể xảy ra trong thế kỷ 21 (Bảng 2.2). Theo các kịch bản này, nhiệt độ trung
bình thế giới đến năm 2080 sẽ tăng từ 2,3 0C đến 4,50C so với nhiệt độ thời kỳ
tiền công nghiệp hóa. IPCC dự kiến mức tăng 3 0C là hệ quả có khả năng xảy
ra nhất, nhưng cũng không loại trừ những giá trị vượt xa con số 4,5 0C, thậm
chí nhiệt độ toàn cầu có thể tăng thêm 50C. Như vậy không có kịch bản nào
của IPCC cho thấy sự gia tăng nhiệt độ ở mức dưới 2 0C – là ngưỡng biến đổi
khí hậu trở nên nguy hiểm. Theo báo cáo phát triển thế giới năm 2010, nếu
không có các nỗ lực giảm thiểu biến đổi khí hậu hiệu quả thì đến cuối thế kỷ
21, nhiệt độ trung bình toàn cầu sẽ tăng 2,50C đến 70C so với thời kỳ tiền công
nghiệp hóa (Ngân hàng thế giới, 2010).
Bảng 1.1: Các khoảng nhiệt độ tăng dự kiến cho năm 2080
Các kịch bản
của IPCC

So với nhiệt độ trung

So với nhiệt độ thời

bình thời kỳ 1980-1999

kỳ tiền công nghiệp

12


13


Bảng 1.2: Các khoảng mực nước biển dâng dự kiến cho năm 2080
So với mực nước biển thời kỳ 1980

Các kịch bản của IPCC

– 1999 (cm)

Kịch bản B1

20 (18-38)

Kịch bản A1T

25 (20-45)

Kịch bản B2

25 (20-45)

Kịch bản A1B

27 (21-48)

Kịch bản A2

28 (23-51)

thập kỷ. Nếu so với năm 1990, nhiệt độ tăng trong khoảng từ 1,4 – 1,5 0C vào
năm 2050 và 2,5 - 2,80C vào năm 2100, những khu vực có nhiệt độ tăng cao
nhất là Tây Bắc và Việt Bắc. Xu thế tăng nhiệt độ cứ qua 10 năm lại lớn lên.
Mùa nóng sẽ khắc nghiệt, và lượng mưa cùng với cường độ mưa sẽ tăng lên
đáng kể ở phía Bắc. Sự biến đổi thất thường của thời tiết còn được thể hiện
qua đợt mưa lớn trái mùa tại các tỉnh miền Bắc và ở Miền Trung, Miền Nam.
Mưa trái mùa đã cứu hạn cho một vài nơi trồng cây công nghiệp như cà phê,
nhưng lại làm tan tành các ruộng muối ven biển, làm cây hoa kiểng nở quá
sớm dịp Tết. Các nhà khoa học cũng đã dự tính trong tương lai, các vùng nằm
sâu trong lục địa có sự biến đổi nhiệt độ lớn hơn so với các vùng ven biển
Việt Nam có khuynh huớng gia tăng nhiệt độ đáng kể, các tỉnh Miền Bắc gia
tăng nhiều hơn Miền Nam, đặc biệt trong những tháng mùa hè với biên độ lớn
hơn. Nhiệt độ cao nhất khu vực miền nam xuất hiện tại Phước Long, Đồng
Xoài và Xuân Lộc. Theo Viện khí tượng thủy văn và môi trường (IMHEN,
2012). Tính đến năm 2012, Việt Nam trong 50 năm qua nhiệt độ trung bình
năm tăng khoảng 0,50C trên phạm vi cả nước và lượng mưa có xu hướng giảm
ở phía Bắc, tăng ở phía Nam lãnh thổ. Nhiệt độ tháng I (tháng đặc trưng cho
mùa đông), nhiệt độ tháng VII (tháng đặc trưng cho mùa hè) và nhiệt độ trung
bình năm tăng trên phạm vi cả nước trong 50 năm qua. Nhiệt độ mùa đông
tăng nhanh hơn so với mùa hè và nhiệt độ vùng sâu trong đất liền tăng nhanh
hơn nhiệt độ vùng ven biển và hải đảo.
Vào mùa đông, nhiệt độ tăng nhanh hơn cả là ở Tây Bắc Bộ, Đông Bắc
Bộ, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ (khoảng từ 1,3 tới 1,50C/50 năm). Nam
Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ có nhiệt độ tháng I tăng chậm hơn so với
các vùng khí hậu phía Bắc (khoảng từ 0,6 tới 0,9 0C/50 năm). Tính trung bình
cho cả nước, nhiệt độ mùa đông ở nước ta đã tăng lên 1,2 0C trong 50 năm
qua. Nhiệt độ tháng VII tăng khoảng từ 0,3 đến 0,50C/50 năm trên tất cả các

15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status