Khóa luận tốt nghiệp sử dụng axit humic xử lý kim loại nặng trong nước thải làng nghề - Pdf 43

2.5.2. Phương pháp thực nghiệm................................................................ 20
2.5.3. Phương pháp lấy mẫu ....................................................................... 22
2.5.4. Phương pháp phân tích kim loại nặng trong nước............................. 22
2.5.5. Phương pháp xử lý số liệu ................................................................ 23
2.5.6. Phương pháp đánh giá ...................................................................... 23
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..................................................... 24
3.1.

Chiết rút và bảo quản axit humic từ than bùn.................................... 24

3.1.1. Quy trình chiết rút axit humic từ than bùn ........................................ 24
3.1.2. Xác định hàm lượng axit humic tách được từ than bùn Việt Nam..... 25
3.1.3. Bảo quản axit humic......................................................................... 27
3.2.

So sánh các axit humic chiết rút từ các nguồn than bùn khác nhau ... 27

3.2.1. So sánh độ hấp thụ quang của các axit humic ................................... 27
3.2.2. So sánh khả năng xử lý kim loại nặng trong nước của các loại
axit humic......................................................................................... 28
3.3.

Xác định các thông số kỹ thuật để xử lý các ion kim loại Zn2+,
Pb2+, Cd2+ ......................................................................................... 32

3.3.1. Ảnh hưởng của pH tới khả năng xử lý .............................................. 32
3.3.2. Khảo sát khả năng hấp phụ các ion Zn2+, Pb2+, Cd2+ của axit humic ...... 37
3.3.3 . Nghiên cứu ảnh hưởng của sắt đến khả năng tách ion kim loại
bằng axit humic ................................................................................ 39
3.4.


Công thức

M

Nồng độ mol/lít

NXB

Nhà xuất bản

QCVN

Quy chuẩn Việt Nam

TCVN

Tiêu chuẩn Việt Nam

A

Độ hấp thụ quang

λ

Bước sóng

v


DANH MỤC CÁC BẢNG


Kết quả so sánh màu mẫu nước có chứa ion Cd2+ sau xử lý
bằng axit humic với các loại nước theo QCVN 08 .
2008/BTNMT........................................................................... 37

Bảng 3.6.

Kết quả xác định khoảng pH tối ưu xử lý nước chứa các ion
kim loại nặng bằng axit humic.................................................. 37

Bảng 3.7.

Kết quả so sánh màu mẫu nước sau xử lý bằng axit humic
với các loại nước theo QCVN 08 . 2008/ BTNMT ................... 38

Bảng 3.8.

Kết quả so màu mẫu nước sau xử lý bằng axit humic với các
loại nước theo QCVN 08:2008/ BTNMT ................................. 42

Bảng 3.9.

Nồng độ các kim loại nặng trong mẫu nước trước xử lý tại
xã Chỉ Đạo – huyện Văn Lâm – tỉnh Hưng Yên so với quy
chuẩn QCVN 08 . 2008/ BTNMT............................................. 44

Bảng 3.10. Nồng độ các kim loại nặng trong mẫu nước trước xử lý tại
xã Xuân Tiến – huyện Xuân Trường – tỉnh Nam Định so
với quy chuẩn QCVN 08 . 2008/ BTNMT................................ 45
vi

Hình 6: Thang màu chuẩn của thuốc thử dithizon khi kiểm tra vết đồng ...... 30
Hình 7: Vết đồng trong mẫu nước sau xử lý ................................................. 31
Hình 8: Thang màu chuẩn của thuốc thử dithizon khi kiểm tra vết kẽm ....... 33
Hình 9: Thang màu chuẩn của thuốc thử dithizon khi kiểm tra vết chì ......... 34
Hình 10: Thang màu chuẩn của thuốc thử dithizon khi kiểm tra................... 35
vết cadimi..................................................................................................... 35
Bảng 3.3: Kết quả so sánh màu mẫu nước có chứa ion Zn2+ sau xử lý bằng
axit humic với các loại nước theo QCVN 08 : 2008/BTNMT....................... 36
Bảng 3.4: Kết quả so sánh màu mẫu nước có chứa ion Pb2+ sau xử lý bằng axit
humic với các loại nước theo QCVN 08 : 2008/BTNMT ............................. 36
Bảng 3.5: Kết quả so sánh màu mẫu nước có chứa ion Cd2+ sau xử lý bằng
axit humic với các loại nước theo QCVN 08 : 2008/BTNMT....................... 37
Bảng 3.6: Kết quả xác định khoảng pH tối ưu xử lý nước chứa các ion kim
loại nặng bằng axit humic............................................................................. 37
Bảng 3.7. Kết quả so sánh màu mẫu nước sau xử lý bằng axit humic với các
loại nước theo QCVN 08 : 2008/ BTNMT ................................................... 38
Hình 11: Xử lý nước chứa hỗn hợp các ion Zn2+, Pb2+, Cd2+ bằng axit humic
khi cho thêm Fe2+ và Cu2+ ............................................................................ 39
Hình 12: Thang màu chuẩn của thuốc thử K3Fe(CN)6 khi kiểm tra vết sắt ... 41
Bảng 3.8. Kết quả so màu mẫu nước sau xử lý bằng axit humic với các loại
nước theo QCVN 08:2008/ BTNMT ............................................................ 42

viii


Hình 13: Xử lý nước chứa kim loại nặng bằng axit humic tại các giá trị pH
5,5, 6, 7 ........................................................................................................ 43
Bảng 3.9. Nồng độ các kim loại nặng trong mẫu nước trước xử lý tại xã Chỉ
Đạo – huyện Văn Lâm – tỉnh Hưng Yên so với quy chuẩn QCVN 08 : 2008/
BTNMT ....................................................................................................... 44


Hình 3.

Độ hấp thụ quang của axit humic chiết rút từ than bùn Trung Quốc .... 27

Hình 4.

Độ hấp thụ quang của axit humic chiết rút từ than bùn Việt Nam .... 28

Hình 5.

Xử lý ion Cu2+ bằng các axit humic chiết rút từ các nguồn than
bùn khác nhau tại pH=8................................................................ 29

Hình 6.

Thang màu chuẩn của thuốc thử dithizon khi kiểm tra vết đồng ... 30

Hình 7.

Vết đồng trong mẫu nước sau xử lý .............................................. 31

Hình 8.

Thang màu chuẩn của thuốc thử dithizon khi kiểm tra vết kẽm .... 33

Hình 9.

Thang màu chuẩn của thuốc thử dithizon khi kiểm tra vết chì ...... 34


trong nước) nên axit humic ngày càng được chú ý trong việc sử dụng để xử lý
kim loại nặng trong nước. Trong nước cũng đã có những công trình nghiên
cứu về khả năng hấp phụ kim loại nặng của axit humic nhằm xử lý ô nhiễm
môi trường, làm giàu và tách các kim loại hiếm và phóng xạ như kết tủa các
ion Th(IV) và Pb(II) của Phạm Văn Tình, Lưu Minh Đại (1997); khả năng
tách các ion Co2+, Mn2+ từ dung dịch nước của Bùi Duy Cam, Phạm Văn Tình

1


(1998)… Và mới đây nhất là nghiên cứu của Trịnh Thị Yến (2015) về khả
năng kết tủa ion Cu2+ trong nước của axit humic cho kết quả rất tốt.
Với các phân tích nêu trên, chúng tôi tiến hành thực hiện tiếp đề tài:
“Sử dụng axit humic xử lý kim loại nặng trong nước thải làng nghề”.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
• Nghiên cứu sự kết tủa các ion kim loại nặng trong nước bằng axit
humic chiết rút từ than bùn.
3. Yêu cầu nghiên cứu
• Tách axit humic từ các nguồn khác nhau và xác định một số đặc tính
của chúng.
• Xác định các thông số kỹ thuật liên quan đến sự kết tủa kim loại
nặng bằng axit humic.

2


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Kim loại nặng trong nước
1.1.1. Ô nhiễm nước bởi kim loại nặng

nhưng ngay cả ở liều lượng thấp Cu kìm hãm sự sinh trưởng của tảo. Thực vật
mẫn cảm vói Cu hơn so với người và động vật. Tuy nhiên với cá thì khác
(thực vật thủy sinh thể hiện mức nhiễm độc ở 1 mg/l trong khi cá là 0,015 – 3
mg/l).
• Chì (Pb): được pha trong xăng, dùng trong các hợp kim, acquy, sơn
chống gỉ, màu công nghiệp. Chì được tích lũy trong xương. Qua đường tiêu
hóa, chì được giữ lại ở trong gan, phần lớn thải qua mật rồi theo phân ra
ngoài. Chì gây thiếu máu, tăng huyết áp và nhiễm độc thần kinh.
• Thủy ngân (Hg): là chất thải từ hoạt động công nghiệp mỏ, sản xuất
các hợp chất vô cơ, có trong thuốc trừ sâu. Hợp chất thủy ngân có độc tính
cao, gây hoại tử đường tiêu hóa, trụy mạch, suy thận cấp, phân chia sai lệch
nhiễm sắc thể. Chúng được tích tụ ở thận, trong não và bào thai. Thủy ngân
được thải qua đường nước tiểu và phân. Cá có khả năng hấp thu cao thủy
ngân nhưng chưa gây chết. Người ăn cá nhiễm thủy ngân cũng có thể tăng
lượng thủy ngân trong máu và tóc lâu ngày dẫn đến bệnh ung thư và tử vong.
Trường hợp nhiễm độc thủy ngân ở vịnh Minimata ở Nhật Bản là một ví dụ
điển hình.
• Niken: có trong nước uống do hòa tan từ các đường ống dẫn nước và
mối hàn, nước thải mạ điện, sản xuất acquy, luyện kim, dầu mỏ và các sản
phẩm từ dầu mỏ.
• Kẽm: có trong nước uống do tan ra từ các ống dẫn nước, chúng được
hấp thụ và tích lũy trong cá. Độc tính của chúng phụ thuộc vào pH, nhiệt độ
và độ cứng của nước (theo Lê Huy Bá và cộng sự, 2008).

4


1.1.2. Ảnh hưởng sinh hóa của kim loại nặng đối với con người và sinh vật
Cũng như nhiều nguyên tố khác, các kim loại nặng có thể cần thiết hoặc
không cần thiết cho con người và sinh vật. Những kim loại cần thiết cho sự


SH

(1.1)

S

Bảng 1.1 trình bày các nguyên tố kim loại có trong các nguồn nước
thiên nhiên và nước thải. Các nguyên tố này ở nồng độ thấp rất cần thiết cho
5


quá trình phát triển của cơ thể sống nhưng nồng độ cao chúng lại là những
chất gây độc hại.
Bảng 1.1. Kim loại nặng và các ảnh hưởng tới người và động, thực vật
Khối lượng

Ảnh hưởng đến

Ảnh hưởng đến

riêng (g/cm3)

thực vật

động vật

Pt

21,4


Cần thiết, độc

Cần thiết, độc

Co

8,9

Ni

8,9

Độc

Cần thiết

Cd

8,65

Độc

Độc

Fe

7,86

Cần thiết


Cần thiết

Cần thiết
(theo Đặng Kim Chi, 1999)

1.2. Các phương pháp xử lý ô nhiễm kim loại nặng hiện nay
1.2.1. Các phương pháp hóa lý
1.2.1.1. Phương pháp kết tủa
Cơ chế của phương pháp kết tủa:
mMn+ + nAm- = MmAn

(kết tủa)

[M]m.[A]n > Tt MmAn
Trong đó:

Mn+ : ion kim loại
Tt

Am- : tác nhân gây kết tủa

: tích số tan
6

(1.2)


Trong phương pháp này có thể sử dụng nhiều các tác nhân để tạo kết
tủa với kim loại như S2-, SO42-, PO43-, Cl-, OH-, axit humic... Nhưng trong đó


(1.4)
7


Hoặc đối với nước thải có chứa crom có thể xảy ra như sau:
Cr2O72- + 14 H+ + 12e ---> 2Cr3+ + 7H2O

(1.5)

Ở anot: Xảy ra các quá trình oxy hóa các anion. Do ngoài việc xử lý
kim loại nặng thì phương pháp này còn có thể xử lý các chất ô nhiễm khác
trong nước thải.
Ví dụ: Nước thải mạ kim loại thường chứa chất ô nhiễm xianua CNcủa kẽm, đồng, sắt... Do đó, các phản ứng ở anot xảy ra như sau:
CN- + 2OH- - 2e ---> CNO- + H2O

(1.6)

CNO- + 2H2O ---> NH4+ + CO32-

(1.7)

CNO- + 4OH- - 6e ---> 2CO2 + N2 + 6 Cl- + 2H2O

(1.8)

Để tăng độ dẫn điện của nước thải người ta có thể thêm vào dung dịch
NaCl. Do vậy, ngoài quá trình phá hủy xianua do sự oxi hóa ở anot còn xảy ra
quá trình oxy hóa bằng clo được tạo thành ở anot.
2Cl- + 2e = Cl2

phụ và thu hồi các kim loại diễn ra thuận lợi.
• Hấp phụ hóa học: Quá trình này xảy ra nhờ các phản ứng tạo liên kết
hóa học giữa ion kim loại nặng và các nhón chức của tâm hấp phụ, thường là
các ion kim loại nặng phản ứng tạo phức đối với các nhóm chức trong chất
hấp phụ. Mối liên kết này thường là bền và khó bị phá vỡ, do vậy rất khó cho
quá trình giải hấp phụ.
Sau khi thực hiện hấp phụ, để xử lý các chất độc trong nước nói chung
và kim loại nặng nói riêng, người ta thường tiến hành giải hấp để tái sinh chất
hấp phụ (đối với các vật liệu hấp phụ có giá trị và nhất thiết phải có kích
thước đủ lớn để có thể tái sinh được).
b. Phương pháp trao đổi ion
Thực chất phương pháp trao đổi ion cũng là một phần của phương pháp
hấp phụ, nhưng là quá trình hấp phụ có kèm theo trao đổi ion giữa chất hấp
phụ với ion của dung dịch. Có thể nói quá trình trao đổi ion là quá trình các
ion trên bề mặt của vật rắn trao đổi với ion có cùng điện tích trong dung dịch
khi tiếp xúc với nhau. Các chất này gọi là các ionit (chất trao đổi ion), chúng
hoàn toàn không tan trong nước.
Cơ chế trao đổi ion như sau:
+ Trao đổi cation
RA + B2+ = RB + A2+
(B2+ là các ion kim loại như Ni2+, Cu2+, Zn2+, Cr3+, Fe2+...)
9


+ Trao đổi anion
RA + B2- = RB + A2(B2- có thể là Cr2O72-, MoO42-...)
Khi kim loại nặng tiếp xúc với chất trao đổi ion thì sẽ xảy ra quá trình
trao đổi ion giữa dung dịch và chất trao đổi ion.
(theo Đặng Đình Kim và cộng sự, 2000)
1.2.2. Phương pháp sinh học

các kim loại nặng ở dạng độc về dạng ít độc hơn hoặc không độc. Ví dụ, vi
khuẩn Geobacter có khả năng biến kim loại từ dạng hòa tan thành dạng rắn,
làm cho kim loại tách khỏi nước ngầm hoặc sử dụng vi khuẩn pseudomonas
để khử ion Hg2+ có độc tính về dạng Hg0 không độc.
• Chuyển hóa gián tiếp: Chuyển hóa một chất khác (không phải kim
loại) về dạng có thể kết hợp với kim loại nặng để tạo ra chất ít độc hơn hoặc
dễ xử lý hơn. Ví dụ, sử dụng các vi khuẩn và enzym để chuyển hóa các hợp
chất chứa lưu huỳnh về dạng S2-, sau đó các kim loại có thể kết hợp với S2tạo thành các chất kết tủa (theo Đặng Đình Kim, 2003).
Tuy nhiên, đây là phương pháp còn khá mới mẻ ở Việt Nam. Nhiều
chủng vi sinh vật và các enzym được phát hiện có khả năng chuyển hóa kim
loại nặng thì ít được công bố, do vậy áp dụng phương pháp này vào thực tế
con nhiều hạn chế.
1.3. Axit humic
Axit humic là một trong 3 thành phần chính của hợp chất mùn, đó là
một trong những hợp chất hữu cơ quan trọng của đất, than bùn, nhiều suối
miền núi, hồ bị loạn dưỡng và nước biển. Nó được tạo ra bởi sự phân hủy các
chất hữu cơ sinh học như xác động - thực vật, sản phẩm phụ của các quá
trình trao đổi chất. Than bùn được chia thành than bùn già (có màu đen) và
than bùn non (có màu nâu).
Axit humic hòa tan tốt trong các dung dịch kiềm loãng (NaOH,
Na2CO3, Na4P2O7.10H2O...), nhưng không tan trong nước và axit vô cơ. Tùy
11


theo nồng độ và loại đất mà các dung dịch axit humic chiết được có màu nâu
đen đến màu đen.
Thành phần nguyên tố của axit humic chủ yếu bao gồm C, H, O, N.
Hàm lượng các nguyên tố này khác nhau phụ thuộc vào loại đất, thành phần
hoá học của tàn tích sinh vật, điều kiện mùn hoá và phương pháp tách axit
humic khỏi đất. Theo L. N. Alexandrova, thành phần trung bình của các


3,5 – 4,7

Ngoài bốn nguyên tố chính kể trên, axit humic còn chứa một lượng nhỏ
các nguyên tố tro (P, S, Al, Fe, Si), hàm lượng tổng số của chúng có thể đạt từ
1 đến 10%. Những nguyên tố này không nhất thiết phải có tất cả trong thành
phần phân tử axit humic.
Ở những điều kiện khác nhau, nguồn gốc và phương thức hình thành
khác nhau nên axit humic không có công thức và phân tử lượng cố định. Nhiều
công trình nghiên cứu cho biết phân tử lượng của axit humic dao động khoảng
50.000 - 90.000 đơn vị cacbon (theo D. X. Orlop và cộng sự). Công thức phân
tử của một loại axit humic điển hình được Stevenson đưa ra năm 1982 như
hình 1.

12


Hình 1: Công thức phân tử của axit humic
Cũng theo các tác giả trên, phân tử axit humic bao gồm nhiều mạng
lưới cấu trúc. Mỗi mạng lưới cấu trúc bao gồm nhiều đơn vị cấu trúc. Đơn vị
cấu trúc là phần phân tử axit humic hình thành khi phân hủy chúng và có cấu
tạo tương đối đơn giản. Mạng lưới cấu trúc là một phần phân tử axit humic
chứa tất cả các đơn vị cấu trúc.
Về hình thái axit humic không có cấu tạo tinh thể, song những nghiên
cứu điện di và quang phổ Rơnghen cho thấy chúng được cấu tạo bằng những
mạng lưới xếp lớp. Quá trình mùn hoá càng phát triển thì những mạng này
xếp càng khít. Theo những nghiên cứu gần đây nhất, hình dạng của axit
humic không đối xứng, chúng có dạng dài, tỷ lệ các trục từ 1 : 6 đến 1 : 12.
Một phần rất nhỏ axit humic tồn tại ở dạng tự do, còn phần lớn chúng
liên kết với phần vô cơ của đất hình thành những hợp chất hữu cơ - vô cơ

+ xMy+

R

COO
R

(COOH)n - xy
+ xH+

M

(OH)m

OH

(OH)m – xy

(1.13)

Trong đó: My+ có thể là Fe(OH)2+, Fe(OH)2+, Al(OH)2+ hoặc Al(OH)2+.
Hợp chất phức này vẫn còn các nhóm –COOH và –OH tự do vì vậy có thể
tiếp tục phản ứng với các ion K+, Na+, Ca2+, Mg2+, Al3+ để hình thành các
muối dị cực đơn giản.
- Liên kết với các khoáng sét hoặc các khoáng vật dạng vô định hình
hoặc tinh thể khác để hình thành các phức chất hấp phụ. Dạng liên kết này có
thể là liên kết phân tử, liên kết ion hoặc liên kết hiđro, đóng vai trò quan trọng
trong sự hình thành các hợp chất hữu cơ – vô cơ của pha rắn và tầng tích lũy
mùn, sự hình thành hạt kết, vi hạt kết và sự ổn định nhiều đặc tính lý học và
hóa học của đất.

BIORGANIC No1 dùng bón gốc (hàm lượng axit humic là 2%); phân Đầu
trâu MK-Đỏ (chứa 18% kali humat); thuốc bảo vệ thực vật BIO-HUMAXIN
(chứa 5% kali humat) phòng trừ nghẹt rễ cho lúa và nhiều cây trồng khác;
thuốc FULHUMAXIN (chứa 3% kali humat) phòng trừ nhiều loại bệnh như
lở cổ rễ, đốm lá, sương mai cho cây trồng cạn và các bệnh đạo ôn, khô vằn,
vàng lá cho lúa... [23, 24].

15


Đối với vật nuôi, các muối hòa tan của axit humic cũng có tác dụng
kích thích và điều hòa tăng trưởng, thúc đẩy quá trình trao đổi chất trong cơ
thể và tác dụng phòng chống các bệnh đường ruột.
Các muối humat hòa tan còn ảnh hưởng tốt đến sự phân hủy các thuốc
trừ sâu dư thừa trong đất, làm hạn chế tác hại của dư lượng này đối với môi
trường đất và nước.
Trong môi trường, vì khả năng tạo phức mạnh với các ion kim loại nên
axit humic đã được sử dụng để làm sạch nước. Với môi trường đất, các axit
humic giúp cải tạo đất: khi bón cho đất sét, axit humic có thể giúp phá vỡ lớp
đất kết chặt, cho phép sự thâm nhập của nước được tăng cường và phát triển
vùng rễ tốt hơn; khi bón cho đất cát, axit humic thêm chất hữu cơ cần thiết để
giữ nước, do đó cải thiện rễ phát triển, tăng cường khả năng của đất cát để giữ
lại và không rửa trôi các chất dinh dưỡng quan trọng.
1.5. Khả năng sử dụng axit humic và các hợp chất tương tự trong xử lý
kim loại nặng
Trong đất, dạng tồn tại cơ bản của axit humic là dạng keo, nhưng chúng
rất dễ bị tán bởi các dung dịch kiềm để tạo thành dung dịch phân tử hoặc dung
dịch keo. Vì ở dạng keo nên axit humic có khả năng hấp phụ cao (dung tích
hấp phụ từ 300 - 600 lđl/100g). Trong cấu tạo tương đối phức tạp của axit
humic thì nhóm COOH và OH đóng vai trò quyết định đến khả năng tạo phức

fulvic chua hơn nhiều. Cũng như axit humic nhiều nhà nghiên cứu cho rằng
phân tử của axit fulvic bao gồm nhiều mạng lưới cấu trúc và đơn vị cấu trúc.
Axit fulvic ít tồn tại ở trạng thái tự do, phần lớn chúng ở trạng thái liên
kết. Ở trạng thái liên kết chúng cũng gồm 3 dạng như axit humic. Fulvat của
tất cả các kim loại hoá trị 1 và 2 đều hoà tan và di động dù ở phản ứng axit,
trung tính, hay kiềm yếu. Các hợp chất axit fulvic với Fe, Al có tính tan phụ
thuộc vào tỷ lệ giữa các phân tử kết hợp và nồng độ chúng trong dung dịch.
Nếu tỷ lệ R2O3/axit fulvic càng thấp tức là tỷ lệ axit fulvic càng nhiều thì hợp
chất Fe, Al của axit fulvic càng trở nên hoạt tính hơn. Người ra cũng thấy hợp
17


chất Fe - fulvic hoạt tính hơn nhiều so với hợp chất Al - fulvic. Hoạt tính của
các hợp chất Fe - Al - fulvic có thể giải thích cho sự rửa trôi Al và Fe trong
quá trình tạo đất potzon và đất bạc màu. Với điều kiện thừa ẩm những hợp
chất này chuyển động xuống dưới theo phẫu diện đất, cho đến lúc gặp điều
kiện phá huỷ chúng và R2O3 kết tủa, tạo tầng tích tụ (theo Trần Văn Chính và
cộng sự, 2006). Nhờ có các tính chất hóa học tương tự, ta hoàn toàn có thể sử
dụng axit fulvic trong việc kết tủa các ion kim loại nặng như là axit humic.
Từ các vấn đề tổng quan trên, nhận thấy mức độ ô nhiễm kim loại nặng
trong môi trường hiện nay đã lên đến mức báo động, đòi hỏi phải có các biện
pháp xử lý kịp thời. Điều này thúc đẩy các nhà khoa học không ngừng tìm ra
các phương pháp mới và phương pháp sử dụng axit humic là một hướng
nghiên cứu đầy hứa hẹn. Bởi axit humic tồn tại rất nhiều trong tự nhiên, thân
thiện với môi trường, quá trình điều chế cũng không khó khăn và chi phí thấp.
Tính hiệu quả của phương pháp này sẽ được đánh giá bằng các phương pháp
xác định hàm lượng kim loại nặng đáng tin cậy. Tác giả hy vọng nghiên cứu
của mình sẽ cho các kết quả tích cực để có thể ứng dụng vào thực tế.

18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status