BỘ CÔNG THƯƠNG
HỘI HÓA HỌC VIỆT NAM
VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG
&&&
BÁO CÁO
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÁC HỢP CHẤT LIGNIN ĐỂ XỬ LÝ
KIM LOẠI NẶNG TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC THẢI NGƯỜI CHỦ TRÌ: PGS.TS HUỲNH TRUNG HẢI
VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
8385
Hà nội 2010
MỤC LỤC
Nội dung Trang
Mở đầu
PHẦN 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM KIM LOẠI NẶNG
TRONG NƯỚC THẢI VÀ NƯỚC MẶT Ở VIỆT NAM
I.1. Hiện trạng ô nhiễm kim loại nặng trong nước mặt và nước thải Việt Nam
I.1.1. Hiện trạng ô nhiễm kim loại nặng trong nước thải ở Việt Nam
I.1.2. Hiện trạng ô nhiễm kim loạ
i nặng trong nước mặt ở Việt Nam
CHƯƠNG II: CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ KIM LOẠI NẶNG TRONG
NƯỚC VÀ NƯỚC THẢI
II.1. Các nghiên cứu về xử lý kim loại nặng trên thế giới và Việt Nam
II.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới
I.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
II.2. Các phương pháp xử lý kim loại nặng
II.2.1. Phương pháp kết tủa hóa học
I.1.3. Quy trình thực nghiệm thu hồi lignin từ dịch đen
I.2. Hoàn thiện quy trình chuyển hóa lignin thành lignosulfonat để xử lý kim loại
nặng
I.2.1. Mục đích
I.2.2. Qui trình thực nghiệm
I.3. Nghiên cứu xử lý kim loại (Pb(II), Zn(II)) bằng lignin và lignonsufonat
I.3.1. Nguyên lý của phương pháp xử lý
I.3.2. Hóa chất, dụng cụ, thiết bị thí nghiệm
I.3.3. Quy trình thực nghiệm
CHƯƠNG II: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
II.1. Thu hồi Lignin từ dịch đen
II.1.1. Xác định các thông số cơ bản của dịch đen
II.1.2. Hiệu suất quá trình thu hồi lignin
II.1.3. Phân tích chất lượng sản phẩm
II.2. Hoàn thiện quy trình chuyển hóa lignin thành lignosulfonat để xử lý kim loại
nặng
II.2.1. Ảnh hưởng của nồng độ axit tới hiệu suất phản ứng và chất lượng sản
phẩm
II.3.1.8. Đề xuất công nghệ xử lý kim loại bằng lignin
II.3.2. Thí nghiệm dạng cột
II.3.2.1. Nghiên cứu khả năng hấp phụ kim loại nặng (Pb, Zn) bằng vật liệu
tạo hạt từ lignin
II.3.2.2. Nghiên cứu khả năng nhả hấp phụ kim loại nặng (Pb (II), Zn(II) )
II.4. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm xử lý chì và kẽm trong nước bằng cách
sử dụng canxi-lignosuphonat.
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng các hợp chất từ lignin để xử lý kim nặng trong nước và
nước thải
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường Page 1
MỞ ĐẦU
Ô nhiễm môi trường do kim loại đang là vấn đề phổ biến của nhiều
nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Ở nước ta, hoạt động công
nghiệp là nguyên nhân chủ yếu gây nên ô nhiễm kim loại nặng trong môi
trường nước. Nước thải của các ngành công nghiệp khai khoáng, mạ điện,
cơ khí, ắc quy, chứa các kim loại nặng như Pb(II), Zn(II), Cu(II),
Ni(II)…có nồng độc cao từ vài mg/L đến vài trăm mg/L. Nh
ững dòng thải
kinh tế - xã hội. Đây cũng là một cách tiếp cận thân thiện với môi trường
Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng các hợp chất từ lignin để xử lý kim nặng trong nước và
nước thải
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường Page 2
mang là ứng dụng chất thải của ngành công nghiệp giấy nhằm xử lý ô
nhiễm môi trường, vừa giải quyết vấn đề cấp bách bảo về môi trường của
ngành.
Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng các hợp chất từ lignin để xử lý kim nặng trong nước và
nước thải
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường Page 3
TÓM TẮT NHIỆM VỤ
Nghiên cứu ứng dụng các hợp chất từ lignin để xử lý kim nặng trong nước
và nước thải là nghiên cứu khoa học và là một cách tiếp cận mới ứng dụng
trong xử lý môi trường. Việc tận dụng phế phẩm của ngành công nghiệp
sản xuất giấy và bột giấy để xử lý kim loại nặng trong nước và nước thải có
ý nghĩa khoa học và thực tiễ
n cao, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của xã
hội.
Phương pháp thực hiện: Đề tài được triển khai nghiên cứu trên cơ sở áp
dụng một hoặc phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây: Phương
pháp kế thừa; Phương pháp phân tích; Phương pháp nghiên cứu thực
nghiệm.
Kết quả của đề tài: Báo cáo khoa học về khả năng ứng dụng các hợp chất
từ
lignin để xử lý kim loại nặng trong nước và nước thải bao gồm các nội
dung chính như sau:
chất thải nguy hại, tác động tiêu cực trực tiếp đến sức khỏe con người và hệ
sinh thái. Các hoạt động khai thác mỏ, công nghi
ệp thuộc da, công nghiệp
điện tử, mạ điện, chế tạo cơ khí hay công nghệ dệt nhuộm… đã tạo ra các
nguồn ô nhiễm chính chứa các kim loại nặng độc hại như Cu, Pb, Ni, Cd,
As, Hg, Zn v.v…Các kim loại này có liên quan trực tiếp đến các biến đổi
gen, ung thư cũng như ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường.
I.1.1. Hiện trạng ô nhiễm kim loại nặng trong nước thải ở Việt Nam
Ô nhi
ễm môi trường bởi các kim loại nặng là một vấn đề lớn trong
nhiều ngành sản xuất công nghiệp ở Việt Nam. Nước thải của các ngành
công nghiệp như khai khoáng, mạ điện, cơ khí, pin ắc quy chứa ion kim
loại nặng như Cu(II), Pb(II), Cd(II), Zn(II) với nồng độ cao từ vài mg/L
đến vài trăm mg/L. Bên cạnh đó, nước thải từ các hoạt động tái chế kim
loại ở các làng nghề cũng chứ
a kim loại. Tuy nhiên, với thực trạng hiện
nay, các dòng thải này đều không được xử lý hoặc xử lý không hiệu quả đã
gây nguy hại cho môi trường tiếp nhận bởi các kim loại nặng có xu hướng
tích tụ trong tế bào thực vật, động vật và con người gây tác động xấu tới
sinh vật và sức khoẻ loài người.
Nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp
Các khảo sát đặc trưng ô nhi
ễm của nước thải của một số cơ sở sản
xuất đặc trưng như cơ sở mạ điện, sản xuất ắc quy, cơ khí ở các tỉnh phía
Bắc đã nhận định rằng: Hầu hết nước thải đều xuất hiện các kim loại nặng
như As, Cd, Cu, Hg, Pb, Ni, Zn, Cr với các nồng độ khác nhau, tùy thuộc
vào đặc điểm công nghệ củ
a từng ngành (Bảng 1.1). Một số ion kim loại
nặng như Zn(II), Ni (II)
,
HP
Công ty
Longtech
Công
ty quy
chế từ
sơn
CT
KYB
Việt
Nam
Công ty
phụ tùng
xe máy
Việt Nam)
QCVN 24-
2009 cột B
As 0,058 0.006 0.019 - 0.0012 0.1
Cd <0.0001 0.0014 - 0.0003 0.01
∑Cr
- 81 0.059 0.205 3364 0.025 1
Cu - 0.235 0.052 90.4 0.0087 2
Hg 0,037 0.0004 0.0001 0.0003
5
<0.0001 0.01
Pb 165,76 0.43 0.063 0.093 0.38 0.006 0.5
Ni - 3.82 0.068 23.72 0.003 0.5
Zn 7.9 3168,5 6.4 1.2 5.32 0.14 3
Fe - 2460 - - 225.1 2.18 5
Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng các hợp chất từ lignin để xử lý kim nặng trong nước và
đây là rất lớn với thành phần tương đối đa dạng, chủ yếu là chất lơ lửng,
chất hữu cơ và một số kim loại nặng đặc thù theo từng ngành sản xuất.
Các khảo sát thực tế tại các khu công nghiệp phía Bắc trong 2008,
2009 c
ũng cho kết quả đáng ghi nhận. Các kim loại nặng đã xuất hiện trong
các mẫu nước thải của điểm khảo sát. Đặc biệt là nước thải của KCN Đại
An, Hải Dương có nồng độ của Pb(II) xấp xỉ QCVN 24:2009, nồng độ
Zn(II) vượt QCVN 24:2009; Ni(II) vượt quá QCVN tại KCN Như Quỳnh.
QCVN 24:2009
QCVN 24:2009
Hàm
lượng
Pb
Hàm
lượng
Zn
Hình 1.1. Hàm lượng ion kim loại Pb(II), Zn(II) trong nước thải
Cơ sở sản xuất
Cơ sở sản xuất
Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng các hợp chất từ lignin để xử lý kim nặng trong nước và
nước thải
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường Page 8
Bên cạnh đó, nồng độ của các kim loại nặng trong nước thải có xu hướng
tăng lên theo thời gian. Điều này cũng phù hợp với xu thế phát triển của
một số ngành nghề đặc trưng như ngành mạ gia công bề mặt, lắp ráp cơ
khí…trong những năm gần đây. Sự phát triển các ngành này sẽ kéo theo sự
gia tăng nước thải chứa hàm lượng kim loại, dẫn đến ô nhiễm môi tr
ường.
4 QCVN 24:2009 (B) 100 10 3000 100 2000 10 500 500 5000
Các khảo sát cuả khu công nghiệp Hòa Khánh ở Miền Trung cũng
cho kết quả tương tự. Kim loại nặng đều xuất hiện ở các điểm khảo sát với
Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng các hợp chất từ lignin để xử lý kim nặng trong nước và
nước thải
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường Page 9
nồng độ khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm công nghệ và đặc tính sản
phẩm được trình bày ở bảng 1.3
Bảng 1.3. Kết quả phân tích kim loại Cd, Zn và Pb trong một số mẫu nước
khu công nghiệp Hòa Khánh năm 2006 [9]
Mẫu Địa điểm lấy mẫu
Cd(II)
(mg/l)
Zn(II)
(mg/l)
Pb(II)
(mg/l)
1 Cống thải phía Nam Bàu Tràm 0,082 0,257 0,125
2 Nước tại hồ Bàu Tràm bên cạnh KCN 0,057 0,086 0,077
3
Cống nước thải gần công ty TNHH sản
xuất thép Tấn Quốc
0,089 0,310 0,180
4 Nước cống thải phía Tây KCN 0,072 0,170 0,150
5
Cống thải của Công ty lắp ráp xe máy
nước thải của làng nghề Đồng Xâm có hàm lượng Pb(II) vượt QCVN
24:2009 (B) trên 5 lần, hàm lượng kim loại Zn(II) cũng vượt QCVN
24:2009 (B) trên 16 nhiều lần, hàm lượng Cu(II) vượt QCVN 24:2009 (B)
gần 90 lần và Cr(VI) vượt QCVN 24:2009 (B) trên 7 lần. Đây là làng nghề
tái chế kim loại có công nghệ lạc h
ậu và không có hệ thống xử lý nước thải.
Vì vậy, các dòng thải này đổ ra các nguồn tiếp nhận sẽ gây ra ô nhiễm môi
trường nước và đất.
Bảng 1.4: Hàm lượng kim loại nặng trong nước thải ở làng nghề Thái Bình
[7]
KLN Đơn vị Đồng
Xâm
Nam Cao
QCVN 24:2009
Cd mg/L 0.005 0.018 0.01
Cr(VI) mg/L 0.74 0.071 0.1
Cu mg/L 178.8 0.23 2
Pb mg/L 2.75 0.167 0.5
Zn mg/L 48.4 2.56 3
Kết luận: Đối với nước thải từ các hoạt động công nghiệp cũng như
các làng nghề với loại hình sản xuất phổ biến là lắp ráp điện tử, cơ khí, gia
công bề mặt thì kim loại là vấn đề ô nhiễm đặc trưng của các dòng thải.
Từ kết quả khảo sát cho thấy, hàm lượng kim loại có xu hướng tăng theo
thời gian, các kim loại phổ biến có hàm lượ
ng vượt quá TCVN như Pb(II),
Zn(II), Cd(II) Đây là nhưng kim loại có độc tính cao, đòi hỏi phải xử lý
đạt QCVN hiện hành trước khi đổ ra nguồn tiếp nhận. Mặt khác, do có giá
trị tái sử dụng cao nên việc xử lý nhằm thu hồi các kim loại trong dòng thải
này là rất cần thiết. Vì vậy, nghiên cứu xử lý để thu hồi các kim loại điển
hình như Pb, Zn trong dòng thải là giải quyết được bài toán ô nhiễm thực
hoạt, dịch vụ v.v trong đó, các dòng nước thải công nghiệp chứa hàm
l
ượng kim loại nặng đã không được xử lý hay xử lý không hiệu quả, là
nguồn thải chính gây ô nhiễm kim loại nặng nề cho các dòng sông.
Hàm
lượng
Pb
QCVN 08
Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng các hợp chất từ lignin để xử lý kim nặng trong nước và
nước thải
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường Page 12
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường Page 13
Một số nghiên cứu gần đây ở các vùng ngoại thành Hà nội như Gia
Lâm và Thanh Trì cũng có cùng nhận định rằng: tình trạng ô nhiễm kim
loại nặng trong nguồn nước mặt sử dụng cho chăn nuôi, trồng rau, trồng
hoa đã trở nên phổ biến [2]. Nguồn nước mặt dành cho chăn nuôi vùng
Thanh Trì chứa hàm lượng ion Pb(II), Cd(II), Hg(II) cao hơn nhiều lần so
với QCVN08:2008. Một số ao hồ ở khu vực Gia Lâm cũng có kết quả
t
ương tự (bảng1.6). Đáng chú ý là hàm lượng các kim loại độc hại như Pb,
Cd có giá trị rất cao, điển hình như hàm lượng ion Pb(II) vượt QCVN từ 6-
10 lần; Cd (II) vượt QCVN từ 2 đến 20 lần; Các kim loại này có khả năng
tích tụ trong cây trồng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người.
Bảng 1.6 Hàm lượng kim loại nặng trong nước mặt ở Thanh Trì – Gia
Lâm [2]
Hàm lượng kim loại nặng (mg/L)
Vị trí
Pb Cd Hg
Vùng Thanh Trì
Nước hồ nuôi cá 0.502 0.047 0.00062
Nước ruộng rau
muống
0.368 0.038 0.0049
Nước mương tưới 0.454 0.32 0.0054
Nước ao 0.379 0.029 0.0036
Vùng Gia Lâm
Nước ao kho xăng
Đức Giang
0.486 0.036 0.0032
Nước mương tưới
nghiên c
ứu để xử lý các kim loại điển hình này là rất cần thiết.
Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng các hợp chất từ lignin để xử lý kim nặng trong nước và
nước thải
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường Page 15
CHƯƠNG II
CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ KIM LOẠI NẶNG TRONG NƯỚC
VÀ NƯỚC THẢI
II.1. Các nghiên cứu về xử lý kim loại nặng trên thế giới và Việt Nam
II.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Kim loại nặng có thể gây nguy hại đến con người và đời sống sinh vật khi
nồng độ vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Mặc dù, khi nồng độ của các kim
loại nặng dưới tiêu chuẩn cho phép, chúng có thể gây nhiễm độc mãn tính
do tính tích luỹ trong hệ thống sinh h
ọc [11].
Từ trước đến nay, kim loại nặng được xử lý bằng nhiều phương pháp khác
nhau như phương pháp kết tủa hoá học, lọc màng, điện hoá, hấp phụ và hấp
phụ sinh học. Phương pháp hấp phụ được ứng dụng để xử lý kim loại nặng
trong nước do tính ưu việt là thiết kế đơn giản, không phát sinh ra bùn và
giá thành đầu tư thấp [12, 14]. Trong đó, than hoạt tính có tính hấp phụ cao
và nhanh [21]. Bên cạnh đó, các phương pháp truyền thống cũng được sử
dụng phổ biến trong xử lý kim loại nặng như kết tủa hoá học nhưng có
nhược điểm là không xử lý triệt để được kim loại nặng, sử dụng tác nhân
hoá học và tạo ra bùn chứa kim loại nặng[15]. Trao đổi ion có thể xử lý
kim loại nặng hiệu suất cao nhưng giá thành đắt [16]. Do do, hấp phụ sử
dụ
ng các vật liệu giá thành thấp, thân thiện với môi trường là một trong
những giải pháp có tính khoa học và đạt hiệu quả kinh tế cao. Nhiều vật
Cỏ Vetiver có khả năng đặc biệt về xử lý ô nhiễm nước là khả năng hấp thụ
nhanh chóng các kim loại nặng và các chất dinh dưỡ
ng khác trong nước và
có thể chịu được những chất này dù ở hàm lượng rất cao. Tuy hàm lượng
những chất này trong cỏ Vetiver nhiều khi không cao như ở một số giống
cây siêu tích tụ khác nhưng do nó phát triển rất nhanh và cho năng suất rất
cao (năng suất cỏ khô đạt tới 100 tấn/ha/năm) nên cỏ Vetiver có thể tiêu
giảm một lượng chất dinh dưỡng và kim loại nặng lớn hơn rất nhiều so với
ph
ần lớn các giống cây siêu tích tụ khác [28]. Cây dương xỉ - một loại cây
mọc dại ở Việt nam cũng có khả năng xử lý kim loại nặng trong nước. Hiệu
suất hấp phụ Pb(II), Cu(II), Cd(II), Zn(II), Ni(II) bởi cây dương xỉ khá cao,
đạt 99.5% đối Pb(II), 84.5% đối với Cu(II), 87.5% đối với Cd(II), 73.2%
đối với Zn(II) và 64.6% đối với Ni(II) tại pH
cân bằng
tương ứng và nồng độ
ban đầu 50 mg/L [23].
Gần đây các nhà khoa học Việt Nam đã phát hiện ra một loài cây dại có tên
là thơm ổi thường mọc hoang dại ở Việt Nam cũng có khả năng đặc biệt
trong xử lý chất thải độc hại. Loài cây này có khả năng hấp thụ kim loại
nặng gấp 100 lần bình thường và sinh trưởng rất nhanh. Khả năng “ăn” kim
loại nặng củ
a thơm ổi, tuy chưa bằng các loài dây leo, nhưng bù lại chúng
lớn nhanh như thổi, rất dễ trồng và chăm sóc. Loài cây này hút lượng Pb(II)
Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng các hợp chất từ lignin để xử lý kim nặng trong nước và
nước thải
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường Page 17
chọn phương pháp áp dụng được trong thực tế, phù hợp với đi
ều kiện sản
xuất cần lưu ý tới các vấn đề như: mức độ ô nhiễm của nước thải cần xử lý,
tiêu chuẩn cần đạt được cho đầu ra của nước thải, tính chất lý, hóa và nhiệt
động học của chất ô nhiễm cần loại bỏ trong dòng thải, tính chất lý, hóa của
chất rắn phát sinh sau quá trình xử lý.
Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng các hợp chất từ lignin để xử lý kim nặng trong nước và
nước thải
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường Page 18
II.2.1. Phương pháp kết tủa hóa học
Phương pháp kết tủa hóa học dựa trên phản ứng hóa học giữa hóa chất đưa
vào nước thải với kim loại cần tách khỏi nước thải.
Nguyên tắc của phương pháp là độ hòa tan của kim loại trong dung dịch
phụ thuộc vào pH, ở giá trị pH nhất định của dung dịch, nồng độ kim loại
vượt quá nồng độ bão hòa sẽ bị kết tủ
a và kết tủa này được tách ra khỏi
dung dịch bằng phương pháp lắng.
Phương pháp kết tủa hóa học được áp dụng phổ biến trong xử lý nước thải
giai đoạn I cho ngành công nghiệp mạ, gia công kim loại trước khi dòng
thải được đưa vào trạm xử lý chung.
Ưu điểm: Hiệu quả xử lý cao với dòng thải có lưu lượng lớn, nồng độ ô
nhiễm kim loại cao. Chi phí khá thấp, vận hành
đơn giản.
Nhược điểm: cần sử dụng lượng lớn hóa chất đưa thêm vào dòng thải làm
tác nhân kết tủa. Tạo ra lượng bùn thải với nồng độ kim loại cao, nếu
không có biện pháp xử lý đúng kỹ thuật thì đây là nguồn gây ô nhiễm thứ
cấp.
II.2.2 Phương pháp trao đổi ion
có chi phí điện năng rất lớn.
II.2.4. Phương pháp sinh học
Nguyên t
ắc của phương pháp là dựa vào khả năng hấp thụ kim loại của một
số thực vật thủy sinh như rong, tảo, bèo hoặc của một số vi sinh vật sử
dụng kim loại như chất vi lượng trong quá trình tạo sinh khối.
Phương pháp
sử dụng thực vật để xử lý kim loại nặng đòi hỏi thực vật đáp ứng một số
điều kiện như dễ trồng, cho sinh khối nhanh trong điều kiện ô nhiễm cao.
Tuy nhiên phần lớn các loài thực vật có khả năng tích lũy kim loại nặng
cao thường phát triển chậm, sinh khối thấp trong khi thực vật cho sinh khối
nhanh thường rất nhạy c
ảm với môi trường có nồng độ kim loại nặng cao.
Một hạn chế nữa của phương pháp đó là yêu cầu diện tích lớn, chỉ xử lí
nước thải có nồng độ kim loại nặng nhỏ và hiệu suất xử lý sẽ giảm nếu
trong đất hoặc nước thải chứa lẫn nhiều kim loại nặng.
II.2.5. Phương pháp hấp phụ
Phương pháp hấp phụ là quá trình hấp ph
ụ chất bẩn hòa tan ở bề mặt ranh
giới giữa pha lỏng và pha rắn. Đây là phương pháp hiệu quả để thu hồi các
cấu tử quý hiếm, làm sạch khí thải, nước thải khi nồng độ chất ô nhiễm
trong dòng thải không lớn. Trong xử lý nước thải, phương pháp hấp phụ có
khả năng xử lý triệt để nước thải chứa đồng thời nhiều kim loại nặng vớ
i
nồng độ ion trong dung dịch nhỏ.
Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng các hợp chất từ lignin để xử lý kim nặng trong nước và
nước thải
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường Page 20
Vì vậy, việc nghiên cứu ứng dụng lignin và lignin sulfonate trong quá trình
xử lý kim loại n
ặng là rất cần thiết và là một tiếp cận đầy hứa hẹn có ý
nghĩa khoa học và thực tiễn cao.
III.1.1. Giới thiệu về lignin
Lignin là một trong những thành phần của tế bào thực vật bao bọc xung
quanh các sợi xenluloza và có hàm lượng lớn thứ 2 sau xenluloza. Hàm
lượng lignin trong gỗ thay đổi không những phụ thuộc vào loại cây mà còn
phụ thuộc vào tuổi cây, điều kiện địa lý. Thông thường hàm lượng lignin
khoảng 25 - 40%. Trong các cây lá nhọn ch
ứa 20 – 30%, trong cây lá rộng
20 – 25%, trong các cây cỏ 5 – 9% [32].
Lignin được coi là 1 polyme của các hợp chất có khung phenyl propan
được tạo thành từ phản ứng dehidro polyme hoá 3 tiền chất cơ bản là
coniphenyl ancol (1), xinapyl ancol (2) và p-cumaryl ancol (3). Công thức
cấu tạo được trình bày ở hình 1.3.
Liên kết trong phân tử lignin là kết quả của quá trình oxi hoá kết nối các
mono lignin với nhau tạo thành oligome và polyme. Một cấu tạo hoá học
chính xác cho lignin còn có nhiều giả thiết. Theo Frenden Berg và các cộng
sự thì lignin là 1 polyme của coniferyl, có phân tử lượng vào khoảng 8.000
tuỳ theo từng lo
ại thực vật mà số đơn vị coniferyl khác nhau [35]. Cấu tạo
phân tử lignin được trình bày ở hình 1.4.