“TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - LÀO’’
1.1. Điều kiện tự nhiên và xã hội Cộng hòa Dân chủ Nhân dân lào
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào thuộc bán đảo Đông Dương, nằm sâu trong lục
2
địa, thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa ở Đông Nam Á, có diện tích 236.800 km , với
đường biên giới dài 4.825 km, giáp với 5 nước - phía bắc giáp với Trung Quốc có
đường biến giới dài 505 km, phía tây bắc giáp với Myanma dài 236 km, phía tây giáp
với Thái Lan dài 1.835 km, phía đông giáp với Việt Nam dài
2.069 km và phía nam giáp với Cămpuchia với đường biên giới dài 435 km. Chiều dài
từ Bắc xuống Nam khoảng hơn 1.700 km, chỗ rộng nhất 500 km, chỗ hẹp nhất 140 km.
Như vậy, nước Lào nằm ở trung tâm Đông Nam Á, giữa nhiều nước và không có biển.
Lào được chia thành 4 vùng: Vùng Đông - Bắc, vùng Tây - Bắc, vùng Trung Lào
và vùng Nam Lào. Mỗi vùng có điều kiện địa lý, đất đai, khí hậu, thời tiết, v.v... khác
nhau. Vùng Đông Bắc, bao gồm các tỉnh Phông Xa Lỳ, Luông Pha Băng, Xiêng Khoảng,
2
Hủa Phăn, diện tích tự nhiên khoảng 66.960 km , trong đó núi chiếm hơn 90%. Trong
năm có hơn bốn tháng mùa mưa, bốn tháng mùa khô, có 2 - 3 tháng khô hạn. Khí hậu
của Lào có sự khác biệt rõ rệt giữa hai miền. Miền Bắc là vùng núi cao, khí hậu có tính
chất nửa nhiệt đới ẩm và khô. Miền Nam Lào có khí hậu nhiệt đới gió mùa ở phía Đông
và nhiệt đới ẩm khô ở phía Tây dọc sông Mê Kông. Lào có hai mùa mưa và khô rõ rệt.
Mùa mưa bắt đầu từ giữa tháng 4 kéo dài đến cuối tháng 10. Mùa khô bắt đầu từ tháng
11 đến cuối tháng 3 đầu tháng 4. Giữa hai mùa có một chu kỳ chuyển tiếp. Sự luân
chuyển các mùa tạo nên nhịp điệu cuộc sống cho các cư dân nông nghiệp.
Lào có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú. Nhờ có khí hậu nhiệt đới nóng
và ẩm, đất đai phần lớn là đất đồi núi, rừng tự nhiên phát triển mạnh. Trong rừng có
nhiều loại gỗ và lâm, thổ sản quý hiếm. Hệ sinh vật gắn bó với rừng cũng rất phong
phú, đặc biệt là voi. Lào là đất nước Triệu voi và hoa Chăm Pa. Nước Lào không có
biển nhưng có nhiều sông suối, đặc biệt là Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng lớn đến sự
hình thành và phát triển văn hóa nói chung và VHCT nói riêng của người Lào. Có thể
Nam Á khác, trong cơ cấu tộc người trong xã hội Lào, vai trò của tộc người chủ thể
(người Lào) thường không lớn về số lượng và chênh lệch về trình độ phát triển xã hội.
Về nguồn gốc, chủng tộc cũng như về mặt thể chế xã hội vốn không đồng nhất. Phong
tục, tập quán, lối sống, tín ngưỡng và lợi ích tộc người rất đa dạng và phức tạp. Đây là
cơ sở căn bản của một nền văn hóa chính trị đa tâm lý, đa tính cách, nhiều khát vọng và
ước mơ, nhiều xu hướng tư tưởng, nhiều mô hình tổ chức - thực hành và cũng nhiều tài
năng do nhiều tố chất tộc người hội lại.
1.2. Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào
“Quan hệ Lào – Việt Nam” hay còn được biết đến với tên thông dụng là “Quan hệ
hữu nghị Việt-Lào” là mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác
toàn diện từ lịch sử tới hiện tại giữa Việt Nam và Lào. Mối quan hệ được Đảng Cộng sản
Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào cũng như Nhà nước 2 quốc gia coi là mối
quan hệ đặc biệt với vai trò như đồng minh chiến lược của nhau nhưng không có bất cứ
bản cam kết đồng minh nào.
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính
thức thiết lập quan hệ ngoại giao trên cơ sở mối quan hệ Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa và Vương quốc Lào ngày 5/9/1962.
Đường biên giới giữa Việt Nam và Lào dài khoảng 2.340 km, trải dài suốt 10 tỉnh
của Việt Nam là: Điện Biên, Sơn La, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng
Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam và Kon Tum; tiếp giáp với 10 tỉnh phía Lào là:
Phỏng-sả-lỳ, Luổng-pha-bang, Hủa-phăn, Xiêng-khoảng, Bô-ly-khăm-xay, Khăm-muồn,
Sa-vắn-nạ-khệt, Sả-lạ-văn, Sê-kông và Ắt-tạ-pư.
Việt Nam và Lào là 2 quốc gia lánh giềng của nhau. Trong nhiều giai đoạn lịch sử
Lào chịu sự chi phối giữa Xiêm và Đại Việt. Thời kỳ nhà Nguyễn coi các quốc gia
các Vương quốc Luang Phrabang, vương quốc Viêng Chăn, vương quốc Phuan, vương
quốc Champasak, vương quốc Khmer là phiên bang của Việt Nam.
Cho đến khi triều Nguyễn suy yếu, các vương quốc này lại chịu sự chi phối của
viên Đảng Cộng sản Đông Dương đổi tên nhóm lực lượng Lào Issara do ông lãnh đạo
sang tổ chức vũ trang Pathet Lào, thành lập chính phủ kháng chiến Lào. Tháng
2/1951 Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ II được tổ chức, Kaysone
Phomvihane tham dự với tư cách trưởng đoàn đại biểu Lào.
Tình hình tại Đông Dương liên tục thất bại, thực dân Pháp quyết định trao trả độc
lập cho Lào để tập trung bình định Việt Nam. Tại Lào trong năm 1953 lực lượng Pathet
Lào cùng bộ đội tình nguyện Việt Nam liên tiếp đánh chiếm nhiều vùng do Pháp và
chính quyền Vương quốc Lào nằm giữ. Đến cuối năm 1953 Pathet Lào kiểm soát được
Thượng Lào, một số tỉnh tại Trung và Hạ Lào.
Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, lực lượng cộng sản Lào tập kết tại 2
tỉnh Phongsaly và Sầm Nưa cho tới khi có bầu cử thống nhất Lào vào năm 1955. Năm
1955 Đảng Nhân dân Cách mạng Lào được thành lập với tiền thân là Đảng Cộng sản
Đông Dương, người gốc Việt chiếm đa số trong Đảng. Chính phủ Liên hiệp các đảng
phái được thành lập, và bầu cử 1958 diễn ra với sự thắng thế của Mặt Trận Lào Yêu
Nước do hoàng thân Souphanouvong lãnh đạo. Hoa Kỳ không chấp nhận tình trạng này,
cắt viện trợ để gây áp lực với chính phủ Souvanna Phouma. Souvanna Phouma sau đó bị
truất phế năm 1958, thay vào đó là Phoui Sananikone. Chính phủ Phoui Sananikone loại
bỏ phe hoàng thân Souphanouvong ra khỏi chính phủ liên hiệp và bắt giam ông năm
1959.
Ngày 24/5/1960 một nhóm nhỏ lực lượng Việt Nam đã tấn công giải thoát hoàng
thân Souphanouvong và đưa về vùng cách mạng an toàn.
Trong giai đoạn 1959-1960 tại Lào liên tiếp xảy ra các cuộc đảo chính quân
sự, Hoa Kỳ và Liên Xô ủng hộ 2 chính quyền khác nhau tại Lào. Do lo ngại sự can thiệt
của Đảng Cộng sản Trung Quốc vào Lào, Liên Xô và Hoa Kỳ thống nhất ủng hộ giải
pháp liên hiệp. Chính phủ liên hiệp lần 2 ra đời nhưng chỉ ổn định tới năm 1968. Từ năm
1968 phe Cộng sản và phái hữu tại Lào lại tiếp tục giao tranh. Souphanouvong được Hồ
Chí Minh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp ủng hộ nhiệt tình, đào tạo cán bộ cho cách mạng
Lào, người Việt Nam trở thành chuyên gia, bộ đội tình nguyện... cho công cuộc cách
hệ hợp tác này. Đến nay, Ủy ban đã có 24 kỳ họp (lần gần đây nhất là tháng 1-2004), hai
bên đã ký kết nhiều văn kiện quan trọng trong đó có: Bản thỏa thuận Chiến lược hợp tác
kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa hai Chính phủ Việt Nam - Lào giai đoạn
2001- 2010; Hiệp định hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật giữa hai Chính phủ
Việt Nam - Lào thời kỳ 2001 - 2005; và hàng năm đều có ký Hiệp định hợp tác kinh tế,
văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa hai Chính phủ Việt Nam - Lào.
Kim ngạch buôn bán giữa hai nước thời kỳ 1996 - 2000 đạt bình quân trên 220
triệu USD/năm, song mấy năm gần đây có chiều hướng giảm: năm 2003 đạt 110 triệu
USD. Hàng của Việt Nam chiếm từ 15 - 40% thị phần ở Lào (tùy theo vùng), xuất khẩu
của Lào sang Việt Nam chiếm 30 -50% xuất khẩu của Lào ra thị trường thế giới. Việt
Nam xuất sang Lào vật liệu xây dựng, xăng dầu, hàng nông sản, thực phẩm, hàng tiêu
dùng, hàng gia dụng và nhập của Lào một số mặt hàng gỗ, khoáng sản, nông sản… Hiện
hai bên đang khuyến khích lập các cặp chợ biên giới, các khu kinh tế, thương mại tại các
cửa khẩu lớn và đang tích cực triển khai thực hiện các thỏa thuận về tạo điều kiện thuận
lợi cho người, phương tiện và hàng hóa qua lại, trong đó có chính sách giảm thuế 50%
cho hàng hóa có xuất xứ mỗi nước. Hai nước cũng xúc tiến giúp nhau trong việc quá
cảnh hàng hoá tiêu thụ tại nước thứ ba.
Về đầu tư, hiện nay có 15 doanh nghiệp Việt Nam đang đầu tư trực tiếp vào Lào
với 19 dự án và tổng số vốn 13 triệu USD. Việt Nam đang đẩy mạnh hợp tác đầu tư dưới
hình thức liên doanh, đấu thầu xây dựng và đầu tư 100%. Ngoài ra, hiện nay Việt
Nam đang tham gia đầu tư vào xây dựng nhà máy thủy điện Sekamản 3 với số vốn đầu tư
khoảng 350 triệu USD.
Trong lĩnh vực đối ngoại, hai bên tăng cường hợp tác, trao đổi kinh nghiệm, phối
hợp hoạt động về vấn đề hội nhập quốc tế trong khuôn khổ Liên hiệp quốc, ASEAN, khu
vực cũng như trong khuôn khổ ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Đặc biệt hai nước
hợp tác tốt và có hiệu quả trong việc thực hiện các dự án Hành lang Đông – Tây, hợp tác
Tiểu vùng Mekong và Ủy hội Mekong. Hai bên thỏa thuận sẽ tăng cường hơn nữa sự hợp
tác sẵn có, nhất là hợp tác trong khuôn khổ ASEAN, nhằm góp phần củng cố tình đoàn