I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Theo chiến lược của Đảng và Nhà nước ta là: “Nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” đã được cụ thể hoá trong nhiều văn kiện của Đảng
và nhà nước. Đặc biệt, khi đất nước ta đang trong quá hiện đại hoá, công nghiệp
hoá thì việc bồi dưỡng nhân tài càng được Đảng và Nhà nước quan tâm, chú
trọng hơn. Thực hiện mục tiêu đó, trong những năm qua, song song với việc
nâng cao chất lượng đại trà, nhà trường chúng tôi luôn quan tâm, chú trọng đến
việc phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh có năng khiếu ở các môn học.
Tuy nhiên từ năm học 2014-2015, thực hiện Thông 30/2014/TT-BGD ngày 28
tháng 8 năm 2014 về việc đánh giá học sinh Tiểu học; Thực hiện Chỉ thị 5105
của BGD về việc chấn chỉnh tình trạng dạy thêm học thêm. Đến năm học 20162017, chúng ta lại tiếp tục thực hiện Thông tư 22/2016/TT-BGĐT Về việc sửa
đổi, bổ sung một số điều của quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm
thông tư số 30/2014/TT-BGD ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ giáo
dục và đào tạo. Trong quá trình thực hiện các thông tư, chỉ chỉ trên, bản thân tôi
nhận thấy việc không chấm điểm, không được giao bài tập về nhà (đối với lớp
2b/ngày), không được giao bài ngoài sách giáo khoa,.... giúp cho HS không phải
chịu nhiều áp lực trong học tập, không còn nặng nề về điểm số, các em được vui
chơi, được giáo dục kĩ năng sống nhiều hơn. Tuy nhiên, đối với những học sinh
có năng khiếu, những học sinh hoàn thành tốt môn học thì ít có cơ hội để các em
phát triển, rèn luyện khả năng tư duy của mình (Đặc biệt là đối với HS lớp 5).
Từ năm học 2015-2016, được sự nhất trí của PGD, nhà trường đã tổ chức được
các CLB hoc tập. Qua việc sinh hoạt câu lạc bộ các em được học, được vui chơi,
được rèn luyện các kĩ năng sống, được củng cố khắc sâu những kiến thức đã học
cũng như được nâng cao, mở rộng kiến thức đối với những học sinh có năng
khiếu. Đây chính là cơ hội để các em được phát triển, được bộc lộ năng khiếu
của mình, đồng thời góp một phần quan trọng trong việc tạo nguồn cho các
trường THCS trong huyện.
Vậy để nâng cao chất lượng sinh hoạt các CLB học tập, để có nhiều học
sinh hoàn thành tốt môn học, học sinh năng khiếu được phát triển năng lực, sở
trường đồng thời để các có những kiến thức nền thật vững vàng, chắc chắn thì
4.1. Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: Qua nghiên cứu các
tài liệu giảng dạy, tài liệu về chương trình nâng cao bồi dưỡng học sinh có năng
khiếu của nhà xuất bản giáo dục để nắm được các mạch kiến thức cần bồi dưỡng
cho học sinh trong đó có Phương pháp giải toán bằng phương pháp biểu đồ ven.
4.2. Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.
- Qua quá trình giảng dạy trên lớp, qua các buổi sinh hoạt chuyên môn tổ, cụm
chuyên môn, tôi nghĩ rất cần thiết để thực hiện công tác bồi dưỡng học sinh có
năng khiếu, trong đó có cần hướng dẫn học sinh có năng khiếu môn toán giải bài
toán bằng phương pháp biểu đồ ven.
- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến sáng kiến: 10 chuyên đề bồi dưỡng
học sinh giỏi lớp 4-5 tập 2 của nhà xuất bản giáo dục; Toán tuổi thơ 1 số 149
tháng 3/năm 2013.
2
4.3. Phương pháp thống kê xử lý số liệu: Qua khảo sát kết quả giảng dạy trước
thực nghiệm, kết quả giảng dạy sau thực nghiệm. Từ đó so sánh, đối chiếu hai
phương pháp và rút ra kết luận (Trước thực nghiệm- sau thực nghiệm)
5. Những điểm mới của sáng kiến: Ứng dụng công nghệ thông tin vào trình
chiếu, hướng dẫn học sinh giải một số bài toán bằng sơ đồ biểu đồ ven.
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Những bài toán suy luận lô-gic ở tiểu học là những bài toán rất thực tế,
nội dung bài toán gắn liền với cuộc sống của các em. Nó được chia làm nhiều
dạng bài khác nhau, trong đó có dạng bài giải bằng phương pháp biểu đồ ven.
Những bài toán giải bằng phương pháp thường gắn liền với cuộc sống hằng
ngày, nó diễn ra với các em ngay trong các hoạt động học tập cũng như vui chơi.
VD: Đội tuyển thi đá cầu và đấu cờ vua của trường tiểu học Minh Khai có 20
em, trong đó có 12 thi đá cầu và 13 thi đấu cờ vua. Hỏi có bao nhiêu em trong
b) Thực trạng của giáo viên khi hướng dẫn học sinh lớp 5 giải một số bài toán
bằng phương pháp biểu đồ ven.
Nội dung các bài toán suy luận lô-gic giải bằng phương pháp biểu đồ ven
không có trong yêu cầu của chuẩn kiến thức kĩ năng nên nhiều giáo viên coi nhẹ,
không tự học, tự nghiên cứu, khi gặp phải sẽ lúng túng, không nắm được
phương pháp giải thế nào? Hướng dẫn học sinh ra sao? Một số giáo viên do
nhiều năm chuyên dạy các lớp 1-2-3, không va chạm đến các dạng cơ bản ở khối
4-5, đồng thời lại không tự học tự bồi dưỡng nên phần nào đó cũng gặp hạn chế
khi hướng dẫn học sinh giải các bài toán nâng cao nói chung, các bài toán giải
bằng phương pháp biểu đồ ven nói riêng. Một số giáo viên luôn có tinh thần tự
học, tự nâng cao trình độ của mình qua việc nghiên cứu tài liệu tham khảo về
giải các dạng toán nâng cao, mở rộng, có khả năng bồi dưỡng học sinh giỏi, học
sinh có năng khiếu nhưng vẫn còn lúng túng, hạn chế trong phương pháp hướng
dẫn học sinh giải các bài toán bằng phương pháp biểu đồ ven này. Mặt khác một
số giáo viên vẫn còn hạn chế việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học.
c) Đối với học sinh trong việc giải các bài toán bằng biểu đồ ven.
Vào các tiết tự học ở buổi 2, các buổi sinh hoạt câu lạc bộ, mục đích để
các em được làm quen với kiến thức trên chuẩn, tư duy được phát triển, tạo
nguồn cho TH cở sở. Thông qua quá trình phát hiện và bồi dưỡng tôi nhận thấy
tồn tại một số thực trạng đối với các em về việc giải toán bằng biểu đồ ven như
sau:
- Khi gặp các bài toán giải bằng phương pháp biểu đồ ven, các em cảm đề bài lạ,
trìu tượng, khó hiểu, không biết giải thế nào? Có nhiều em thông minh suy luận
ra kết qủa bài toán nhưng lại không biết diễn đạt như thế nào cho người khác
hiểu. Có những em cũng biết vẽ sơ đồ, trình bày bài giải đối với những bài chỉ
có hai đối tượng đơn giản nhưng đối với những bài có nhiều đối tượng cùng làm
hay cùng biết một vấn đề nào đó thì các sẽ rối kể cả trong vẽ biểu đồ hoặc dựa
vào biểu đồ để giải bài toán.
- Khi hướng dẫn học sinh giải những bài toán suy luận lô-gic bằng phương pháp
biểu đồ ven thì vấn đề khó khăn nhất là hướng dẫn học sinh vẽ biểu đồ, hiểu
nói được tiếng Anh, 35 đại biểu nói được tiếng Pháp, 8 đại biểu nói được cả
tiếng Anh và tiếng Nga. Hỏi có bao nhiêu đại biểu chỉ nói được tiếng Nga?” [ 3]
KẾT QỦA KIỂM TRA
Bài 1
Bài 2
Bài 3
SL
TL
SL
TL
SL
TL
Vẽ được biểu đồ
15 100% 15
100%
7
46.7%
Giải được bài toán theo yêu cầu 15 100% 10 66.7%
5
33.3
Qua quan sát đánh giá của bản thân và kết quả kiểm tra trên, tôi nhận thấy
kết quả chưa chưa cao. Điều đó cho thấy bản thân tôi cần rút kinh nghiệm để
Kết quả cụ thể
5
điều cả về thời gian cũng như phương pháp, hình thức dạy học để thu hút, hấp
dẫn được học sinh, học dễ hiểu và đạt kết quả cao hơn.
biểu đồ ven thì giáo viên có thể xây dựng thành một chuyên đề để tổ chức hướng
dẫn cho học sinh. Có thể tổ chức vào thời gian ngay đầu năm học bởi nó không
liên quan đến kiến thức trong chương trình sách giáo khoa lớp 5, sau đó sẽ lồng
ghép ôn tập trong các dạng toán khác để củng cố lại kiến thức cho học sinh. Sau
6
đó áp dụng kiến thức đã học vào giải đề và vào thời điểm giải đề thì số liệu cần
phù hợp với kiến thức chương trình SGK. VD như có bài liên quan đến số liệu là
tỉ số phần trăm.
c/ Ứng dụng trình chiếu để hướng dẫn học sinh cách giải một số bài toán
bằng phương pháp biểu đồ ven
Bài toán 1: “Đội tuyển thi đá cầu và thi đấu cờ vua của trường tiểu học Minh
Khai có 20 em trong đó có 12 thi đá cầu và 13 em thi đấu cờ vua. Hỏi có bao
nhiêu bạn trong đội thi đấu cả hai môn?” [1]
a) Phân tích đề : - Bài toán cho ta biết gì? (Trường Tiểu học Minh Khai có 20
học sinh, trong đó 12 em thi đá cầu, 13 em thi đấu cờ vua)
- Bài toán yêu cầu chúng ta làm gì? (có bao nhiêu bạn trong đội thi đấu cả hai
môn?)
b) Hướng dẫn cách vẽ biểu đồ:
+ GV: Ta biểu thị số học sinh thi đá cầu là một hình tròn, số học sinh thi đấu cờ
vua là một hình tròn. Vì có một số học sinh vừa thi đá cầu vừa thi đấu cờ vua
nên ta vẽ hai đường tròn đó giao nhau. Phần giao nhau biểu thị số HS vừa thi
đá cầu vừa thi đấu cờ vua. (GV trình chiếu hình minh họa dưới)
Cờ vua: 13 HS
Đá cầu: 12 HS HS ?
ban
? Phần màu vàng biểu thị gì? (số học sinh chỉ thi đấu cờ vua)
? Phần màu xanh biểu thị gì? (số học sinh vừa thi đá cầu vừa thi đấu cờ vua)
? Tổng của 3 phần đỏ, xanh, vàng biểu thị bao nhiêu học sinh? (20 học sinh)
? Tổng của hai phần màu đỏ và màu xanh biểu thị bao nhiêu học sinh? (12 học
sinh)
? Muốn tìm phần màu vàng tức là số học sinh chỉ thi đấu cờ vua ta làm thế nào
(Lấy 20 - 12 =8 em)
?Tổng của hai phần màu xanh và màu vàng biểu thị bao nhiêu học sinh? (13 học
sinh)
? Muốn tìm phần màu đỏ, tức là số học sinh chỉ thi đá cầu ta làm thế nào? (lấy
20 - 13 = 7 em)
?Biết phần màu đỏ chỉ 7 học sinh, phần màu vàng chỉ 8 em, muốn tìm phần màu
ta làm thế nào?(20-15 = 5 em)
Bài giải
Số học sinh chỉ thi đấu cờ vua là: 20-12= 8 (học sinh)
Số học sinh chỉ thi đấu đá cầu là: 20-13=7 (học sinh)
Số học sinh vừa thi đá cầu vừa thi nhảy dây là: 20-8-7= 5 (học sinh)
Đáp số: 5 học sinh
KL: Bài toán cho biết tổng số học sinh; các phần riêng. Dựa vào tổng
và các phần riêng để tìm phần chung - tức là số học sinh vừa thi đá cầu vừa
thi nhảy dây.
Bài toán 2: “Cô giáo chấm điểm hai bài kiểm tra Toán và Tiếng việt. Tất cả các
bạn trong lớp đều đạt điểm khá giỏi. Có 20 bạn đạt điểm khá giỏi môn Toán, 17
bạn đạt điểm khá giỏi môn Tiếng việt, trong đó có 12 bạn đạt điểm khá giỏi cả
hai môn. Hỏi lớp học đó có bao nhiêu bạn?” [ 4]
a) Phân tích đề
+ Bài toán cho ta biết gì? (có 20 bạn đạt điểm khá giỏi môn Toán, 17 bạn đạt
điểm khá giỏi môn Tiếng Việt, trong đó có 12 bạn đạt điểm khá giỏi cả hai môn)
+ Bài toán yêu cầu chúng ta làm gì? (Hỏi lớp có bao nhiêu bạn?)
c) Hướng dẫn cách giải:
+ Yêu cầu HS quan sát biểu đồ và cho biết:
? Phần màu đỏ biểu thì gì? (HS đạt khá giỏi mình môn Toán)
? Phần màu xanh biểu thị gì? (HS đạt khá giỏi cả môn Toán và môn Tiếng việt)
? Phần màu vàng biểu thì gì? (số HS đạt khá giỏi mình môn Tiếng việt)
? Dựa vào biểu đồ, muốn tìm tổng số HS cả lớp ta làm thế nào? (tổng của màu
đỏ, xanh, vàng)
? Phần màu đỏ, phần màu vàng biết chưa? Phần màu xanh biểu thị gì? (12 học
sinh)
? Tổng của hai phần màu đỏ và màu xanh là bao nhiêu học sinh? (12 HS). Muốn
tìm phần màu đỏ có bao nhiêu HS ta làm thế nào? (Lấy tổng của màu đỏ và màu
xanh trừ đi phần màu xanh, tức là lấy 20-12=8)
? Tổng của màu xanh và màu vàng có bao nhiêu học sinh? (17 học sinh). Muốn
tìm phần màu vàng biểu thị bao nhiêu học sinh ta làm thế nào? (Lấy tổng của
màu xanh và màu vàng trù đi phần màu xanh, tức là lấy 17-12=9 học sinh)
Bài giải:
Số bạn chỉ đạt điểm giỏi môn toán là:
20-12 = 8 (bạn)
Số bạn chỉ đạt điểm giỏi môn Tiếng Việt là:
17-12= 5 (bạn)
9
Lớp học có số bạn là:
12+8+5=25 (bạn)
Đáp số: 25 bạn
KL: Bài toán cho biết các phần riêng và 1 phần chung là 12 học sinh.
Dựa phần chung và các phần riêng để tìm tổng số học sinh.
Bài toán 3:
“Trong một hội nghị có 100 người tham dự, trong đó có 10 người không
10
Hội nghị có: 100 người
75 người
biết tiếng
Nga
Biết hai thứ
tiếng: ? người
83 người biết
tiếng Anh
Không biết tiếng
Nga và tiếng
Anh: 10 người
c) Hướng dẫn cách giải:
+ Yêu cầu HS quan sát biểu đồ và cho biết:
? Phần màu hồng biểu thị gì? (Số người không biết tiếng Nga, và tiếng Anh: 10
người)
? Phần màu đỏ biểu thị gì? (Số người chỉ biết tiếng Nga)
? Phần màu vàng biểu thị gì? (số người chỉ biết tiếng Anh)
? Phần màu xanh biểu thị gì? (Số người vừa biết tiếng Nga, vừa biết tiếng Anh)
? Tổng của màu đỏ và màu xanh biểu thị bao nhiêu người? (Số người biết tiếng
Nga: 75 người)
? Tổng của màu xanh và màu vàng biểu thị bao nhiêu người? (Số người biết
tiếng Anh: 83 người)
?Tổng của bốn màu đỏ, xanh, vàng, hồng biểu thị bao nhiêu người? (100 người)
? Tổng của ba màu đỏ, xanh, vàng biểu thị bao nhiêu người?(90 người) Vì sao
tròn nhỏ; 360 học sinh đeo phù hiệu là một hình tròn nhỏ)
+ Khi vẽ biểu đồ ta vẽ thế nào? (Vẽ hai hình tròn nhỏ giao nhau ở bên trong
hình tròn lớn) (GV trình chiếu)
Số HS chỉ đội mũ
11 học sinh
quên không
đội mũ
Số HS chỉ đeo
phù hiệu
Số HS
vừa đội
mũ vừa
đeo phù
hiệu: ?
+ GV: Sau đó ta ký hiệu các phần trên biểu đồ bằng các màu xanh, đỏ, vàng.
(GV trình chiếu)
12
Số HS chỉ đội mũ
11 học sinh
quên không
đội mũ
sinh vừa đội mũ vừa đeo phù hiệu ta làm thế nào? (Ta lấy tổng 3 màu đỏ, xanh,
vàng là 370 trừ đi phần màu đỏ, phần màu vàng: 370-10-20= 340 học sinh
Bài giải:
Tổng số học sinh đội mũ và đeo phù hiệu là:
13
381-11=370 (học sinh)
Số học sinh chỉ đeo phù hiệu là:
370-350=20 (học sinh)
Số học sinh chỉ đội mũ là:
370 - 360 = 10 (học sinh)
Số học sinh vừa đeo phù hiệu vừa đội mũ là:
370-20-10 = 340 (học sinh)
Đáp số: 340 học sinh
KL: Bài toán cho biết tổng số học sinh, các phần riêng, tìm phần
chung, đó là tìm số học sinh vừa đội mũ vừa đeo phù hiệu.
Bài toán 5: “Trong một hội nghị có 100 đại biểu tham dự. Mỗi đại biểu nói
được một hoặc hai trong ba thứ tiếng: Nga, Anh hoặc Pháp. Biết rằng có 39 đại
biểu chỉ nói được tiếng Anh, 35 đại biểu nói được tiếng Pháp, 8 đại biểu nói
được cả tiếng Anh và tiếng Nga. Hỏi có bao nhiêu đại biểu chỉ nói được tiếng
Nga?” [ 3]
a) Phân tích đề:
+ Bài toán cho ta biết gì? (trong hội nghị có 100 đại biểu tham dự, mỗi đại biểu
chỉ nói được một hoặc hai trong ba thứ tiếng: Nga, Anh, Pháp. Có 39 đại biểu
chỉ nói được tiếng Anh, 35 đại biểu nói được tiếng Pháp, 8 đại biểu nói được cả
tiếng Anh và tiếng Nga)
+ Bài toán yêu cầu chúng ta làm gì? (Có bao nhiêu đại biểu chỉ nói được tiếng
Nga)
b) Hướng dẫn cách vẽ biểu đồ:
Tiếng Nga
TA và TN
Tiếng Anh
ĐB chỉ nói được tiếng
Nga?
39 ĐB chỉ nói
được TA
Tiếng Pháp: 35
15
c) Hướng dẫn cách giải:
+ Yêu cầu HS quan sát biểu đồ và cho biết:
?Phần màu đỏ biểu thị gì? (Số đại biểu chỉ nói được tiếng Anh). Có bao nhiêu
đại biểu chỉ nói được tiếng Anh? (39 đại biểu)
?Phần màu vàng biểu thị gì? (Số đại biểu chỉ nói được tiếng Nga)
?Tổng hai phần màu hồng và màu tím biểu thị gì? (Số đại biểu nói được tiếng
Pháp). Có bao nhiêu đại biểu nói được tiếng Pháp? (35 đại biểu)
? Phần màu xanh biểu thị gì? (Số đại biểu nói được cả tiếng Anh và tiếng Nga).
Có bao nhiêu học sinh? (8 đại biểu)
? Tổng của 5 màu đỏ, xanh, vàng, hồng, tím biểu thị bao nhiêu đại biểu? (100
đại biểu)
? Muốn tìm tổng của các phần màu xanh-vàng-hồng-tím ta làm thế nào? (Lấy
tổng của 5 màu là 100 đại biểu trừ đi phần màu đỏ là 39 đại biểu: 100-39 = 61
đại biểu)
? Muốn tìm tổng của hai phần màu xanh-vàng ta làm thế nào?(Lấy tổng 4 màu
và số đại biểu nói được tiếng Anh cũng là một hình tròn.)
+ Khi vẽ biểu đồ ven của bài toán trên ta cần lưu ý gì? (sẽ có một số đại biểu nói
được cả ba thứ tiếng nên vẽ ba hình tròn giao nhau) (GV kết hợp trình chiếu)
ĐB nói tiếng Anh
30 ĐB chỉ nói được TA
TrungQuốc:45
ĐB nói được cả ba thứ
tiếng?
40 ĐB nói tiếng Nga
Số ĐB chỉ nói được
2 thứ tiếng Nga và
Trung Quốc
+ Sau đó ta ký hiệu các phần trên biểu đồ bằng các màu đỏ, xanh dương, vàng,
hồng, tím, xanh lá, nâu như sau (GV trình chiếu theo các hiệu ứng)
17
ĐB nói tiếng Anh
30 ĐB chỉ nói được TA
TrungQuốc:45
tổng của vàng-tím-nâu-xanh lá, tức là lấy 70-45=25)
? Muốn tìm tổng của hai màu tím-vàng ta làm thế nào? (Lấy 70 trừ đi tổng của
hồng-nâu-xanh lá-xanh dương, tức là lấy 70 -40=30)
? Muốn tìm tổng của hai màu nâu-xanh lá, tức là số đại biểu nói được tiếng Nga
và tiếng Trung Quốc ta làm thế nào? (Lấy tổng của 6 màu tím-vàng-nâu-xanh
lá-hồng-xanh dương trừ đi tím-vàng, trừ đi hồng-xanh dương, tức là lấy 70 - 3025 = 15)
? Tổng của hai màu nâu-xanh lá là 15 người. Đã biết xanh lá biểu thị có 10
người vậy muốn biết màu nâu (tức số đại biểu nói được cả ba thứ tiếng) biểu thị
bao nhiêu người ta là thế nào? (15-10 =5 đại biểu)
Bài giải:
Số đại biểu nói được tiếng Nga hoặc tiếng Trung Quốc là:100-30=70 (người)
Số đại biểu nói được tiếng Nga nhưng không nói được tiếng Trung Quốc là:
70-40= 25 (người)
Số đại biểu nói được tiếng Trung Quốc nhưng không nói được tiếng Nga là:
70-40=30 (đại biểu)
Số đại biểu nói được Tiếng Nga và tiếng Trung Quốc là:70-25-30=15 (đại biểu)
Số đại biểu nói được cả ba thứ tiếng là: 15-10=5(đại biểu)
Đáp số: 5 đại biểu
KL: Bài toán cho biết tổng số người, các phần riêng, tìm phần chung,
đó là tìm có bao nhiêu người nói được cả ba thứ tiếng.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Sau một thời gian áp dụng “Ứng dụng công nghệ thông tin vào hướng
dẫn học sinh năng khiếu lớp 5 giải các bài toán bằng sơ đồ biểu đồ ven.”
nội dung và phương pháp hướng dẫn học sinh khá giỏi lớp 5 giải một số bài toán
bằng phương pháp biểu đồ ven ở lớp 5A với số lượng 10 học sinh. Cuối tháng 3
năm học 2017, tôi đã tổ chức khảo sát chất lượng học sinh.
ĐỀ KIỂM TRA MÔN: TOÁN
(Thời gian: 40 phút)
Bài 1: “Đội tuyển thi đá cầu và đấu cờ vua của trường tiểu học Minh Khai có
Bài 3
SL
TL
10
100%
8
80%
Tôi nhận thấy các em rất hứng thú với cách học. Hiệu quả cao hơn khi
chưa áp dụng cách dạy này.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.
Trong quá trình giảng dạy, tôi đã áp dụng cách dạy như trên có hiệu quả.
Do vậy, kính mong Ban giám hiệu nhà trường xem xét, góp ý để đồng nghiệp
trong nhà trường tham khảo, áp dụng trong quá trình giảng dạy để chất lượng
đại trà cũng như chất lượng mũi nhọn của nhà trường được nâng cao hơn.
Với thời gian ngắn để thực hiện và trình bày sáng kiến này, về năng lực
của bản thân và kinh nghiệm giảng dạy còn hạn chế. Song tôi cũng mạn dạn đưa
ra kinh nghiệm về: Ứng dụng công nghệ thông tin vào hướng dẫn học sinh
năng khiếu lớp 5 giải các bài toán bằng sơ đồ biểu đồ ven. Tôi rất mong nhận
được ý kiến đóng góp của lãnh đạo và đồng nghiệp để chất lượng giảng dạy của
tôi ngày một nâng cao hơn. Tôi xin chân thành cám ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Hiệu trưởng
Nguyễn Đức Trọng
Lam Sơn, ngày 6 tháng 3 năm 2017
Tôi xin xin cam đoan đây là sáng kiến
kinh nghiệm của mình viết, không sao