Các yếu tố tài chính tác động đến việc của các công ty được niêm yết trên các sàn chứng khoán - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ HUYỀN ANH

CÁC YẾU TỐ TÀI CHÍNH TÁC ĐỘNG ĐẾN
VIỆC NẮM GIỮ TIỀN MẶT CỦA CÁC
CÔNG TY ĐƢỢC NIÊM YẾT TRÊN
SÀN CHỨNG KHOÁN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ HUYỀN ANH

CÁC YẾU TỐ TÀI CHÍNH TÁC ĐỘNG ĐẾN
VIỆC NẮM GIỮ TIỀN MẶT CỦA CÁC
CÔNG TY ĐƢỢC NIÊM YẾT TRÊN
CÁC SÀN CHỨNG KHOÁN
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2016


Câu hỏi nghiên cứu ........................................................................................2

1.4.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................2

1.5.

Phương pháp nghiên cứu ...............................................................................3

1.6.

Bố cục đề tài ..................................................................................................3

CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT ........................................................................4
2.1.

Cơ sở lý thuyết .............................................................................................4

2.1.1

Lý thuyết đánh đổi ................................................................................................ 4

2.1.2

Lý thuyết trật tự phân hạng ................................................................................ 5

2.1.3



CHƢƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................20
3.1.

Mô hình nghiên cứu ...................................................................................20

3.1.1.

Biến phụ thuộc ..................................................................................................... 21

3.1.2.

Biến độc lập .......................................................................................................... 21

3.2.

Giả thuyết nghiên cứu ...............................................................................23

3.3.

Dữ liệu nghiên cứu .....................................................................................25

3.4.

Phƣơng pháp ƣớc lƣợng mô hình ............................................................25

3.4.1.

Các kiểm định mô hình...................................................................................... 28



Phân tích kết quả hồi quy .........................................................................40

4.6.

Thảo luận kết quả nghiên cứu ..................................................................57

CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN ......................................................................................61
5.1.

Kết luận ......................................................................................................61

5.2.

Hạn chế đề tài .............................................................................................61

5.3.

Định hƣớng nghiên cứu tiếp theo .............................................................62


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CASH

Tỷ lệ nắm giữ tiền mặt

DPO

Tỷ lệ chi trả cổ tức


Bảng 3.1: Kỳ vọng mối quan hệ giữa các yếu tố tài chính và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt
Bảng 4.1: Thống kê mô tả giữa các biến của các quốc gia.
Bảng 4. 2: Thống kê mô tả các chỉ số tài chính và nắm giữ tiền mặt
Bảng 4.3: Ma trận tương quan tuyến tính đơn giữa các cặp biến
Bảng 4.4: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai đối với
biến phụ thuộc CASH
Bảng 4.5: Kết quả kiểm tra phương sai thay đổi của 6 mô hình
Bảng 4.6 : Kết quả kiểm tra tự tương quan 6 mô hình
Bảng 4.7: Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc Cash bằng 3 phương pháp
FEM, REM và GMM đối với Việt Nam
Bảng 4.8: Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc Cash bằng 3 phương pháp
FEM, REM và GMM đối với Thai Lan
Bảng 4.9: Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc Cash bằng 3 phương pháp
FEM, REM và GMM đối với Pakistan
Bảng 4.10: Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc Cash bằng 3 phương pháp
FEM, REM và GMM đối với US
Bảng 4.11: Kết quả hồi quy mô hình với biến phụ thuộc Cash bằng 3 phương pháp
FEM, REM và GMM đối với UK
Bảng 4.12. Kết quả hồi quy đối với mô hình sử dụng các biến giả quốc gia đo lường
sự khác biệt về tỷ lệ nắm giữ tiền mặt giữa các quốc gia.
Bảng 4.13: Kết quả hồi quy mô hình cho việc nắm giữ tiền mặt giữa các nước phát
triển và đang phát triển với biến phụ thuộc Cash bằng 2 phương pháp REM và
GMM. (Cross section time series regressions.)


TÓM TẮT
Tiền mặt luôn là phản ánh tình trạng và cấu trúc tài sản trong Bảng cân đối
kế toán với ý nghĩa là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất. Dòng tiền chính là
mạch máu cơ thể kinh doanh, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự sinh tồn của
một công ty. Vì vậy, kiểm soát tiền mặt luôn là vấn đề đặt lên hàng đầu đối với các

đầu tư giảm, thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản cũng giảm sút. Từ
đó, các công ty lâm vào tình trạng khó khăn thậm chí dẫn đến giải thể, phá sản. Do
đó, việc nắm giữ tiền mặt của công ty ngày càng được quan tâm hơn.
Tiền mặt là tài sản có tính thanh khoản cao đối với mỗi công ty, do đó nó đóng
vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Ngoài việc đảm bảo thanh
toán trong các giao dịch kinh doanh hằng ngày, nắm giữ tiền mặt giúp công ty ứng
phó với những tình huống bất ngờ và có thể nắm bắt được cơ hội kiếm được lợi
nhuận trong tương lai. Ngoài ra, nắm giữ tiền mặt giúp công ty giảm thiểu được chi
phí tài trợ gia tăng trong trường hợp công ty cần huy động nguồn vốn từ bên ngoài.
Tuy nhiên, việc nắm giữ tiền mặt lại tốn thêm chi phí, đó là chi phí cơ hội khi công
ty đầu tư vào tài sản thanh khoản có mức tỷ suất sinh lời thấp hơn. Kết quả việc
nắm giữ tiền mặt có tác động đến hoạt động của công ty và giá trị tài sản của cổ
đông. Chính vì tầm quan trọng của việc nắm giữ tiền mặt nên việc xác định các yếu
tố tác động đến việc nắm giữ tiền mặt của công ty là vấn đề cần thiết cho các nhà
quản lý tài chính của công ty.
Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về việc nắm giữ tiền mặt của công ty.
Nghiên cứu được thực hiện ở từng quốc gia và kết quả nghiên cứu của các tác giả
đều không giống nhau cho thấy các nhân tố có mức độ tác động khác nhau lên việc
nắm giữ tiền mặt của công ty là không giống nhau. Và ở trong cùng một nước, kết
quả nghiên cứu cũng khác nhau nếu giai đoạn nghiên cứu khác nhau. Ở Việt Nam,


2

cũng đã có một số tác giả nghiên cứu về tác động hay ảnh hưởng của các nhân tố
lên việc nắm giữ tiền mặt của công ty. Tuy nhiên, số lượng nghiên cứu còn hạn chế.
Tham khảo những nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới cùng với những lý do
nghiên cứu đã nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Các yếu tố tài chính
tác động đến việc nắm giữ tiền mặt của các công ty đƣợc niêm yết trên các
sàn chứng khoán” làm đề tài cho luận văn nghiên cứu của mình.

Bài nghiên cứu dùng dữ liệu được thu thập từ năm 2007 đến năm 2015 để tạo
ra bộ dữ liệu bảng (Panel data) theo dạng cân bằng (Balanced data). Dữ liệu được
thu thập và tổng hợp từ báo cáo tài chính của các công ty công bố trên sàn chứng
khoán của 05 quốc gia Việt Nam, Thái Lan, Pakistan, Mỹ, Anh.vào thời điểm cuối
năm tài chính (ngày 31 tháng 12).
Bài nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích trên dữ liệu bảng, sử dụng
các mô hình tác động cố định (Fixed effect model), mô hình tác động ngẫu nhiên
(Random effects model) và phương pháp sai phân GMM (GMM) nhằm khắc phục
các khuyến khuyết định lượng để tiến hành kiểm định các mô hình trong bài nghiên
cứu, ngoài ra tác giả còn sử dụng phương pháp biến giả nhằm kiểm soát sự khác
biệt các quốc gia trong tương quan các yếu tố đến tiền mặt; các biến được sử dụng
và phương pháp nghiên cứu trong bài nghiên cứu sẽ được mô tả rõ hơn trong
Chương 3. Bài nghiên cứu sử dụng phần mềm Stata 12 để thực hiện định lượng
phục vụ cho việc kiểm định các yếu tố tài chính ảnh hưởng của việc nắm giữ tiền
mặt của công ty.
1.6. Bố cục đề tài
Bố cục đề tài bao gồm năm chương.
 Chương 1: Giới thiệu.
 Chương 2: Cơ sở lý thuyết
 Chương 3: mô tả dữ liệu và các phương pháp nghiên cứu
 Chương 4: Kết quả nghiên cứu
 Chương 5: Kết luận


4

CHƢƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1. Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Lý thuyết đánh đổi

phí khi không còn tiền mặt và chi phí nắm giữ tiền mặt không hưởng lãi. Opler et al.
(1999)xác định sự phổ biến của tiền mặt tối ưu mà tại đó chi phí biên của tình trạng
thiếu tiền mặt ngang bằng với chi phí biên nắm giữ tiền mặt. Ferreira và Vilela
(2004) lập luận rằng việc nắm giữ tiền mặt nhiều giảm xác suất của khủng hoảng tài
chính do những khoản lỗ bất ngờ gây ra.
2.1.2. Lý thuyết trật tự phân hạng
Lý thuyết này cho rằng không có mức nắm giữ tiền mặt tối ưu cho một công
ty. Dựa trên những thông tin bất đối xứng, Myers (1984) và Myers và Majluf (1984)
cho rằng các công ty theo một trật tự trong các quyết định tài chính để giảm thiểu
chi phí liên quan đến thông tin bất đối xứng. Trình tự bắt đầu với nguồn vốn nội bộ
và sau đó sẽ sử dụng nguồn bên ngoài, sau khi các nguồn nội bộ đang cạn kiệt.
Myers (1984) đề xuất rằng công ty thiên về tài trợ bên ngoài bằng nợ hơn so với
phát hành cổ phiếu, vì nợ có chi phí thấp hơn so với vốn chủ sở. Tiền mặt có thể
được xem như là kết quả của các quyết định tài trợ và đầu tư khác nhau theo mô
hình thứ bậc của quyết định tài chính (Dittmar et al., 2003). Ferreira và Vilela
(2004) cho rằng tiền có thể được sử dụng cho các khoản đầu tư trả các khoản nợ của
công ty và kế tiếp là dự trữ tiền mặt.
Dittmar et al. (2003), quan điểm hệ thống trật tự phân hạng cho thấy rằng
không có mức tối ưu tiền mặt, cũng như mức tối ưu của số dư tiền mặt. Số dư tiền
mặt chỉ đơn giản là kết quả của các quyết định tài trợ và đầu tư khác nhau được
công ty thực hiện. Các công ty có dòng tiền lớn sẽ trả cổ tức, trả nợ và sau đó là
trữ tiền mặt. Các công ty có dòng tiền thấp hơn sẽ giảm lượng tiền mặt của họ, phát
hành nợ để tài trợ cho các dự án đầu tư nhưng sẽ hạn chế phát hành cổ phiếu vì
tốn nhiều chi phí.


6

2.1.3. Lý thuyết về dòng tiền tự do
Jensen (1986) cho rằng các nhà quản lý có một động cơ để tích trữ tiền nhằm

chịu ít sự giám sát từ bên ngoài hơn và do đó cho phép nhà quản lý quyết định nắm
giữ tiền mặt cao hơn theo vấn đề về chi phí đại diện. Tuy nhiên, Ferreira và Vilela
(2003) cho rằng thuyết đánh đổi cũng có thể dự đoán một mối tương quan dương
giữa tỷ lệ vốn vay và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt vì đòn bẩy làm tăng xác suất phá sản và
do đó, công ty nắm giữ tiền mặt nhiều hơn để làm giảm xác suất rơi vào tình trạng
kiệt quệ tài chính. Do đó, dựa trên những nghiên cứu thực nghiệm trước, giả thuyết
đầu tiên của bài nghiên cứu là:
H1. Có mối tương quan âm giữa tỷ lệ vốn vay và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt.
2.2.2. Tỷ lệ chi trả cổ tức
Khi công ty cần tiền mặt và gặp khó khăn trong việc huy động nợ có thể do
họ bị hạn chế về tài chính hoặc vì đòn bẩy nợ của họ đã quá cao, do đó, họ có thể cố
gắng tăng lợi nhuận giữ lại bằng cách giảm các khoản thanh toán cổ tức. Chính vì
vậy, các công ty đang bị hạn chế tài chính chỉ có thể đạt được lượng tiền mặt mục
tiêu bằng cách giảm chi trả cổ tức (Fazzari và cộng sự, 1993). Theo Opler et al.
(1998) nhận định rằng nếu công ty có một sự thiếu hụt về tài sản lưu động, công ty
có thể đối phó với sự thiếu hụt bằng việc cắt giảm đầu tư hoặc giảm chi trả cổ tức
hoặc bằng cách huy động vốn bên ngoài thông qua việc phát hành chứng khoán
hoặc bán tài sản.
Theo lý thuyết đánh đổi, tỷ lệ chi trả cổ tức và nắm giữ tiền mặt có mối
tương quan âm, vì khi công ty chi trả cổ tức có thể đánh đổi chi phí của việc nắm
giữ tiền mặt bằng cách giảm việc chi trả cổ tức. Nói cách khác, các công ty chia cổ
tức cho các cổ đông thì có nhiều khả năng huy động vốn với chi phí thấp hơn khi
cần thiết bằng cách giảm các chi trả cổ tức (Al-Najjar & Belghitar, 2011). Ozkan và
Ozkan (2004: 2106) lập luận rằng khi nguồn tài trợ nội bộ của công ty thấp, việc cắt
giảm chi trả cổ tức giúp công ty giảm chi phí cần thiết. Họ cho rằng các công ty chi
trả cổ tức thì có thể nắm giữ tiền mặt ít hơn vì công ty có nhiều khả năng gia tăng
huy động vốn khi cần thiết bằng cách cắt giảm cổ tức. Do đó, dựa trên những


8

9

nắm giữ (Al-Najjar & Belghitar, 2011; Ozkan & Ozkan, 2004) và đưa ra giả thuyết
rằng:
H4. Có mối tương quan âm giữa tỷ lệ thanh khoản và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt.
2.2.5. Quy mô công ty
Các công ty nhỏ thì khả năng nắm giữ tiền mặt cao hơn các công ty có quy
mô lớn vì khả năng tiếp cận với các nguồn vốn bên ngoài khó hơn và tốn nhiều chi
phí hơn. Các công ty lớn có khả năng đa dạng hóa hơn so với các công ty nhỏ, vì
vậy chi phí liên quan đến phá sản cũng ít hơn (Al-Najjar & Belghitar, 2011) và do
đó ít có khả năng dự trữ tiền mặt. Theo nghiên cứu của Collins và các công sự
(1981), Brennan và Hughes (1991) cho rằng các công ty có quy mô lớn ít xảy ra vấn
đề bất cân xứng thông tin nên dễ huy động vốn từ bên ngoài hơn khi có nhu cầu tài
trợ, do đó không cần thiết phải nắm quá nhiều tiền mặt. Bên cạnh đó, theo nghiên
cứu Ozkan (2004) các công ty có quy mô nhỏ dễ xảy ra vấn đề bất cân xứng thông
tin hơn nên khó huy động vốn từ bên ngoài hơn khi có nhu cầu tài trợ, do đó các
công ty này phải nắm giữ nhiều tiền mặt để tránh rơi vào tình trạng mất khả năng
thanh toán các khoản nợ khi đến hạn.
Mặt khác, các công ty lớn hơn có thể cho là thành công hơn, do đó, họ có thể
tích trữ tiền mặt nhiều hơn theo Opler và công sự (1999). Hơn nữa, quy mô công ty
có thể được cho là một sự ngăn chặn sự thôn tính và các nhà quản lý của các công
ty lớn có nhiều quyền quyết định hơn để giữ tiền mặt dư thừa mà không sợ một sự
thay thế tiềm tàng (Drobetz và Gruniger, 2007). Do đó, cũng có giả định ngược lại
là quy mô của công ty và nắm giữ tiền mặt có mối tương quan dương.
Theo đó, bài nghiên cứu cho rằng quy mô của công ty là một nhân tố quan
trọng của nắm giữ tiền mặt và không dự đoán được các dấu hiệu của sự kết hợp
giữa quy mô của công ty và nắm giữ tiền mặt
H5. mối tương quan dương/âm giữa quy mô của công ty và tỷ lệ nắm giữ tiền
mặt.


Al-Najjar (2012)
Dittmar và công sự (2003), Tương quan dương

Tỷ suất sinh lời trên
vốn chủ sở hữu

Ferreira

&

Vilela

(2004),

Ozkan & Ozkan (2004), Basil
Al-Najjar (2012).
Opler và công sự (1999), Tương quan âm
Ferreira

Tỷ lệ thanh khoản

&

Vilela

(2004),

Ozkan & Ozkan (2004), Basil
Al-Najjar (2012).
Nguyen (2005).

nghiên cứu mối liên hệ giữa nắm giữ tiền mặt và giá trị của công ty. Như MartinezSola, Garcia-Teruel, và Martinez-Sola (2010) sử dụng dữ liệu của Mỹ và cho thấy
rằng có một mối quan hệ lõm giữa nắm giữ tiền mặt và giá trị của công ty. Cũng
tương tự vậy, Tong (2009) cho rằng giá trị tiền mặt của các công ty có đa dạng hóa
thấp hơn so với các công ty không đa dạng hóa. Pinkowitz, Stulz, và Williamson
(2006) cho rằng ít có mối quan hệ yếu giữa nắm giữ tiền mặt và giá trị của công ty
đối với các nước bảo vệ nhà đầu tư thấp hơn so với các nước có bảo vệ nhà đầu tư
cao hơn
Foley, Hartzell, Titman, và Twite (2007), sử dụng mẫu dữ liệu của các công
ty đa quốc gia tại Mỹ, nghiên cứu tầm quan trọng của việc nắm giữ tiền mặt cao cấp
trong môi trường thuế. Kết quả cho thấy rằng các doanh nghiêp có mức độ hoàn
thuế cao thì sẽ tăng dự trữ tiền mặt. Guney, Ozkan, và Ozkan (2003) xem xét nắm


12

giữ tiền mặt ở các nước khác nhau như Nhật Bản, Pháp, Đức và Mỹ cho thấy công
ty có chính sách bảo vệ cổ đông mạnh mẽ thì mức độ nắm giữ tiền mặt. ở mức thấp
hơn. Họ chỉ ra một mối quan hệ ngược chiều giữa tập trung quyền sở hữu và nắm
giữ tiền mặt.
Sau đây, đề tài sẽ trình bày một số nghiên cứu nổi bật theo trình tự thời gian
nghiên cứu:
Nghiên cứu của Nadiri, M.I., (1969)
Vào năm 1969, Nadiri với bài nghiên cứu “The determinants of real cash
balance in the U.S. total manufacturing sector” – “Các yếu tố quyết định số dư tiền
mặt thực tế trong toàn ngành sản xuất của Mỹ”, đã đi tiên phong trong nghiên cứu
về nắm giữ tiền mặt bằng cách thu thập dữ liệu từ lĩnh vực sản xuất Mỹ giai đoạn
1948-1964 để ước lượng mô hình liên quan đến mức độ mong muốn nắm giữ tiền
mặt trong thực tế.
Kết quả cho thấy nhu cầu đối với số dư tiền mặt trong thực tế được xác định
bởi: đầu ra, lãi suất, tỷ lệ thay đổi mức giá chung dự kiến và các yếu tố về giá.

cho vai trò chi phí đại diện trong việc giải thích mức tiền mặt. Ferreira và Vilela
cũng nhận thấy rằng sự phát triển thị trường vốn có tương quan âm đối với mức tiền
mặt, trái với quan điểm của động cơ đại diện
Nghiên cứu của Ozkan và Ozkan, (2004)
Ozkan và Ozkan (2004) trong bài nghiên cứu “Cooperate cash holdings:
An empirical investigation of UK companies” – “Nắm giữ tiền mặt của công ty:
Một cuộc điều tra thực nghiệm của các công tay Anh” sử dụng mẫu dữ liệu của các
công ty tại Vương quốc Anh trong giai đoạn 1984-1999.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tác động của cấu trúc sở hữu lên việc nắm
giữ tiền mặt, đo chính là sự tác động ngược chiều của tỷ lệ đòn bẩy tài chính lên
việc nắm giữ tiền mặt. Nghiên cứu của Ozkan và Ozkan (2004) cũng có kết quả là
đối với các công ty có nguồn lực tài chính bên trong còn hạn hẹp, các chi phí về
việc nắm giữ tiền mặt có thể được loại bỏ bằng cách phát hành cổ phần hoặc cắt


14

giảm việc chi trả cổ tức. Bên cạnh đó, Ozkan và Ozkan (2004) cho rằng nếu quy mô
công ty là nguyên nhân của bất cân xứng thông tin, phản ánh về chi phí tài trợ
nguồn vốn bên ngoài thì mối quan hệ tương quan âm giữa quy mô công ty và việc
nắm giữ tiền mặt được chấp nhận
Nghiên cứu của Nguyen, P., (2005)
Vào năm 2005, Nguyen, P. với bài nghiên cứu “How sensitive are Japanes
firms to earnings risk? Evidence from cash holdings” – “Độ nhạy cảm của các công
ty Nhật Bản đối với rủi ro lợi nhuận như thế nào?” – “Bằng chứng từ việc nắm giữ
tiền mặt”dã nghiên cứu giả thuyết rằng số dư tiền mặt có động cơ phòng ngừa và
phục vụ để giảm thiểu sự biến động của lợi nhuận hoạt động. Ông đã thu nhập một
mẫu quan sát gồm 9168 công ty tại thị trường chứng khoán Tokyo trong giai đoạn
1992-2003.
Thông qua phân tích hồi quy, Nguyen nhận thấy rằng nắm giữ tiền mặt tương

cao hơn công ty đã trưởng thành. Đối với các công ty đang phát triển, có một mối
tương quan âm giữa nắm giữ tiền mặt và các đặc điểm sau đây của công ty: quy mô,
tài sản lưu động và nợ ngắn hạn. Mức tiền mặt của các công ty trưởng thành tăng
lên cùng với quy mô công ty, mức độ đầu tư, và thanh toán cho cổ đông dưới dạng
cổ tức hoặc mua lại cổ phiếu; và nắm giữ tiền mặt giảm ứng với tín dũng thương
mại và các chi phí cho nghiên cứu và phát triển.
Nghiên cứu của Li Wenyao (2007)
Tíêp theo các nghiên cứu trên, Li Wenyao (2007) khảo sát các yếu tố quyết
định đến việc giữ tiền của 465 công ty Trung Quốc giai đọan 1998-2003 trong bài
nghiên cứu “The determinations of Cash Holdings: Evidence from Chinese Listed
Companies” – “Các yếu tố quyết định việc nắm giữ tiền mặt: Bằng chức từ công ty
niêm yết của Trung Quốc”
Kết quả cho thấy dòng tiền, cơ hội tăng trưởng và quy mô của các công ty
tác động cùng chiều lên việc nắm giữ tiền mặt, trong khi tài sản không chuyển thành
tiền mặt và nợ tác động ngược chiều đối với nắm giữ tiền mặt.


16

Nghiên cứu của Drobetz và Grüninger, (2007)
Drobetz và Grüninger, 2007 trong bài nghiên cứu “Corporate cash holding
Evidence from Switzerland” – “Nắm giữ tiền mặt của công ty: Bằng chứng từ Thụy
Sỹ” cũng đã nghiên cứu yếu tố quyết định nắm giữ tiền mặt với một mẫu toàn diện
gồm 156 công ty phi tài chính Thụy Sỹ từ năm 1995 đến năm 2004.
Thông qua phân tích hồi quy, họ thấy rằng, tài sản hữu hình và quy mô công
ty đều có tương quan âm với nắm giữ tiền mặt của công ty. Chi trả cổ tức và lưu
chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh có tương quan dương đến dự trữ tiền mặt.
Ngoài ra, Drobetz và Grüninger nhận thấy một mối tương quan dương giữa Giám
đốc điều hành kiêm nhiệm (Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm nhiệm chức vụ giám
đốc điều hành) và nắm giữ tiền mặt của công ty, mối quan hệ không đáng kể giữ

xu hướng nắm giữ tiền mặt nhiều hơn. Đồng thời, các công ty, nhà hàng lớn, nắm
giữ tài sản không bằng tiền có tính thanh khỏan cao nhiều hơn tiền mặt; các công ty
với chi phí vốn cao hơn, và các công ty chi trả cổ tức nắm giữ ít tiền mặt hơn. Kim
và các cộng sự mô tả rằng cả hai động cơ phòng ngừa và động cơ giao dịch đóng
vai trò quan trọng trong việc giải thích các yếu tố quyết định nắm giữ tiền mặt của
các công ty, nhà hàng.
Nghiên cứu của Basil Al-Najjar, (2012)
Và gần đây vào năm 2012, Basil Al-Najjar với bài nghiên cứu “The financial
determinants of corporate cash holdings: Evidence from some emerging markets” –
“Các yếu tố tài chính quyết định việc nắm giữ tiền mặt của công ty: Bằng chứng từ
một số thị trường mới nổi” với dữ liệu là 1.992 công ty phi tài chính từ các quốc gia
Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Anh và Mỹ, trong giai đoạn 2002-2008, nghiên
cứu về các yếu tố tác động đến việc nắm giữ tiền mặt của công ty.
Kết quả đã cho thấy rằng các công ty nhỏ có xu hướng nắm giữ nhiều tiền
mặt hơn các đối tác lớn bởi vì họ phải đối mặt với chi phí cao khi huy động vốn từ
bên ngoài. Các công ty lớn được đa dạng hóa nhiều hơn công ty nhỏ, vì thế công ty
lớn ít có nhu cầu nắm giữ nhiều tiền mặt. Kết quả nghiên cứu cũng đưa ra kết luận
sự tác động ngược chiều giữa tỷ lệ thanh khỏan và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt, tác động
cùng chiều giữa tỷ lệ tiền mặt được nắm giữ và lợi nhuận mà công ty nhận được, tác



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status