BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ …
CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VƠ CHỒNG
TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN – MỘT SỐ VÂN ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ THƯC TIỄN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Dân sư
Mã số: 60380103
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị ………
HÀ NỘI - NĂM 2017
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VƠ CHỒNG TRONG
THỜI KỲ HÔN NHÂN 8
1.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ
HÔN NHÂN 8
1.1.1. Khái niệm tài sản chung 8
1.1.2. Khái niệm thời kỳ hôn nhân 9
1.1.3. Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 12
1.2. Ý NGHĨA CỦA VIỆC CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN
NHÂN 15
HÔN NHÂN 59
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 62
Chương 2
VƯỚNG MẮC TRONG THƯC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG
TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN CỦA VƠ CHỒNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 63
3.1. VƯỚNG MẮC TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG
CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN 63
3.1.1. Vướng mắc trong quy định về các trường hợp vô hiệu khi chia tài sản chung vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân 63
3.1.2. Vướng mắc về chủ thể có quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân 67
3.1.3. Vướng mắc về xác định trách nhiệm của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân 68
3.1.4. Vướng mắc trong phương thức chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân 75
3.1.5. Vướng mắc về nghĩa vụ thông báo của vợ chồng khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn
nhân 77
3.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ
CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN 78
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 85
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
3
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan, đề tài: “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân – Một sô
vấn đề lý luận và thực tiễn” là công trình nghiên cứu của riêng em, có sự hỗ trợ và giúp đỡ của
giảng viên hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Lan. Các nội dung nghiên cứu trong đề tài này là trung thực
được trình bày dựa trên sự hiểu biết của bản thân, cộng với việc tra cứu, cập nhật, tìm hiểu nguồn
Trong quá trình xã hội hoá và hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, Việt Nam đã thực sự chuyển
mình và có những thay đổi toàn diện, sâu sắc về mọi mặt của đời sống. Dưới ảnh hưởng của nền
kinh tế mở đó đã tạo cho mọi người đều có cơ hội làm giàu cũng như tự khẳng định mình. Đời
sống gia đình được cải thiện đồng nghĩa với khối tài sản vợ chồng tăng lên, nhu cầu riêng cũng
nhiều hơn, đa dạng hơn, theo đó nhu cầu chia tài sản chung của vợ chồng là rất cần thiết và hữu
ích, có nhiều ưu điểm.
Trên cơ sở kế thừa Luật HN&GĐ 2000, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân của vợ chồng tại Luật HN&GĐ 2014 có những bước thay đổi tích cực, phù hợp với
sự phát triển của xã hội. Các quy định về chia tài sản chung của vợ chồng đã từng bước đi vào
5
cuộc sống, phát huy được hiệu quả điều chỉnh, Luật HN&GĐ 2014 có nhiều quy định mở hơn
so với luật Hôn nhân và Gia đình 2000, giúp cho việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân đạt được kết quả tốt nhất.
Bởi lẽ đó, việc nghiên cứu về chế định chia tài sản chung của vợ chồngtrong thời kỳ hôn nhân là
hết sức cần thiết. Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân – Một sô vấn đề lý luận và thực tiễn” làm luận văn thạc sỹ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực HN&GĐđã có nhiều công trình,
bài viết về tài sản của vợ chồng nói chung và chia tàisản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân nói riêng, chẳng hạn như luậnán tiến sỹ “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và
Gia đình ViệtNam” đã được tác giả Nguyễn Văn Cừ bảo vệ thành công năm 2005; “Hậuquả pháp
lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hônnhân” của tác giả Nguyễn Phương
Lan đăng trên Tạp chí Luật học số 6 năm2002; “Chế độ tài sản theo thoả thuận của vợ chồng trong
pháp luật cộnghoà Pháp và pháp luật Việt Nam” của tác giả Bùi Minh Hồng đăng trên Tạpchí Luật
học số 11 năm 2009… và rất nhiều công trình nghiên cứu khác. Đây thật sự là những công trình
khoa học có giá trị rất lớn trong khoa học, lý luận và thực tiễn.
Bên cạnh đó phải kể đến một số công trình nghiên cứu như: “Bàn thêmvề chia tài sản chung của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” của tác giả Nguyễn Hồng Hải; “Một số vấn đề chia tài sản của
quy định của pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân kể từ khi Luật
HN&GĐ 2014 có hiệu lực, từ đó thấy được tầm quan trọng của việc chia tàn sản chung của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
4. Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề về chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân: căn cứ chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; phương
thức chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; hệ quả pháp lý của chia tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân; chỉ ra những vướng mắc, bất cập và đưa ra những kiến nghị về việc xây
dựng và hoàn thiện pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Luận văn nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau:
- Khái quát chung về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật hiện
hành, làm rõ khái niệm chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân; sơ lược pháp luật Việt Nam về
căn cứ, phương thức chia tài sản và hậu quả pháp lý khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân.
7
- Xác định hiệu lực pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân;
phương thức chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và hệ quả pháp lý của chia tài
sản chung của vợ chồng trongthời kỳ hôn nhân.
- Tìm hiểu thực trạng về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; những vướng
mắc phát sinh từ thực tiễn vấn đề này và tìm ra phương hướng giải quyết, góp phần hoàn thiện
pháp luật.
5. Câu hỏi nghiên cứu
Với các mục tiêu hướng tới như đã nên ở trên, luận văn đi vào giải quyết các câu hỏi sau:
1. Thế nào là chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân?
2. Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có ýnghĩa gì?
3. Luật HN&GĐ 2014 khác gì so với Luật HN&GĐ năm 2000?
4. Pháp luật một số nước trên thế giới quy định như thế nào về chia tài sản chung của vợ chồng
nhữngvấn đề phát sinh sau đó, góp phần giải quyết những vấn đề khó khăn, vướngmắc trong sản
xuất, kinh doanh, quản lý cũng như các vấn đề về chăm sóc,nuôi dưỡng, giáo dục con cái và các
thành viên khác trong gia đình.
8. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Khái quát chung về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Chương 2: Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật hiện hành.
Chương 3: Vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn
nhân của vợ chồng và một số kiến nghị.
9
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VƠ CHỒNG TRONG THỜI KỲ
HÔN NHÂN
1.1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ
HÔN NHÂN
1.1.1. Khái niệm tài sản chung
Tài sản theo nghĩa từ điển học là “của cải, vật chất dùng vào mục đíchsản xuất và tiêu dùng” trong
khi đó theo quy định tại BLDS 2005: “tài sảnbao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài
sản” (Điều 163). Nhìn nhận trên phương diện khách quan, tài sản chung của vợ chồng có thể hiểu
là toàn bộ những quy định của pháp luật về việc hình thành khối tài sản chung của vợ chồng,
quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với khối tài sản chung. Trong quan hệ hôn nhân, vợ chồng
cùng chung sức, chung ý chí tạo dựng khối tài sản chung nhằm đảm bảo nhu cầu đời sống chung
của vợ chồng, tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất - sở hữu chung mà trong
đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung…
(Khoản 1 Điều 217 BLDS 2005). Sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng là sở hữu chung có thể
phân chia khi vợ chồng có lý do chính đáng hay khi quan hệ hôn nhân chấm dứt.
Theo Điều 33 Luật HN&GĐ 2014 thì tài sản chung bao gồm: Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu
giải quyết yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết
hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân đó.
Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn
theo quy định của Luật này”. Như vậy, nếu tại thời điểm có yêu cầu huỷ mà các bên kết hôn trái
pháp luật không còn vi phạm điều kiện kết hôn, cuộc sống chung bình thường, hạnh phúc, có con
chung, tài sản chung thì không nhất thiết phải áp dụng máy móc là xử huỷ.
Như vậy, trường hợp này thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân được tính từ ngày đăng ký kết hôn,
hay chính là từ thời điểm các bên không còn vi phạm điều kiện kết hôn.
11
Trường hợp kết hôn không đúng thẩm quyền, theo quy định tại Điều 13 Luật HN&GĐ 2014
thì trong trường hợp việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền khi có yêu cầu, cơ quan nhà
nước có thẩm quyền thu hồi, huỷ bỏ giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật
về hộ tịch và yêu cầu hai bên thực hiện lại việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm
quyền. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ ngày đăng ký kết hôn trước. Như
vậy, thời kỳ hôn nhân trong trường hợp kết hôn không đúng thẩm quyền được xác định kể từ ngày
đăng ký kết hôn trước, vì kể từ thời điểm đó đã tồn tại quan hệ hôn nhân.
Trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng theo quy định tại Điều 14 Luật HN&GĐ
2014 và hướng dẫn xử lý tại Khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTCVKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật HN&GĐ thì
nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật HN&GĐ 2014 chung sống với nhau
như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và
chồng. Vì vậy, quan hệ hôn nhân trong trường hợp này được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn,
tức là thời kỳ hôn nhân của vợ chồng trong trường hợp này được xác định từ thời điểm đăng ký kết
hôn.
Thời kỳ hôn nhân trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng chết hoặc có quyết định của Toà án
tuyên bố vợ, chồng chết mà sau đó người bị tuyên bố chết trở về và theo yêu cầu của người này
hoặc người có quyền, lợi ích liên quan mà việc người đó còn sống là xác thực thì Toà án ra quyết
định huỷ bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết (theo quy định tại Điều 83 BLDS 2005) và
kháng cáo, viện kiểm sát nhân dân không kháng nghị hoặc cho đến khi có bản
án ly hôn tại cấp phúc thẩm.
1.1.3. Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Ở Việt Nam, qua mỗi giai đoạn phát triển, chế độ tài sản của vợ chồng
đều thể hiện những nét đặc thù riêng. Trên cơ sở nền kinh tế thị trường, sự
phát triển của xã hội và gia đình, Luật HN&GĐ 2014 đã có quy định về chế
độ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân gồm chế độ tài sản chung và
chế độ tài sản riêng. Như một tất yếu của cuộc sống chung, sau khi kết hôn
đòi hỏi vợ chồng phải cùng đồng lòng, chung ý chí để vun đắp hạnh phúc gia
đình. Do đó, tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng đều cần được khai
thác nhằm đảm bảo cho sự phát triển và tồn tại của gia đình. Trong điều kiện
kinh tế thị trường hiện nay, cùng với việc hội nhập quốc tế, mở rộng thị
trường, đẩy mạnh quan hệ giao thương với các nước trong khu vực và trên thế
16
giới đã làm phát sinh nhiều nghĩa vụ về tài sản mà vợ chồng phải gánh vác.
Theo đó, nhu cầu có tài sản riêng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ riêng là rất
13
cần thiết. Vậy chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là gì?
Để hiểu thế nào là chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì trước
tiên cần hiểu như nào là chia, chia theo định nghĩa tại từ điển Tiếng Việt là
“phân ra, san ra từng phần từ một chỉnh thể” vậy chia tài sản chung của vợ
chồng hiểu đơn giản là phân tài sản ra thành hai phần từ khối tài sản chung
của vợ chồng. Vậy, theo quy định của pháp luật thì chia tài sản chung trong
thời kỳ hôn nhân được hiểu như nào?
Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân lần đầu tiên được nhắc
tới trong Luật HN&GĐ 1986. Trước đó, do phong tục tập quán cũng như tư
duy của gia đình Việt là “của chồng công vợ” sự phân chia rạch ròi tài sản
trong thời kỳ hôn nhân là không hề có. Trước đó Luật HN&GĐ 1959 vấn đề
pháp luật do nhà nước ban hành điều chỉnh việc vợ chồng thỏa thuận hoặc
yêu cầu Tòa án nhân dân quyết định các trường hợp chia tài sản chung của vợ
chồng. Việc chia tài sản chung của vợ chồng dựa trên điều kiện và nguyên tắc
Luật định nhằm bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng đối với tài
sản chung. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn
bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của
pháp luật. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc
chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định của Luật này về nguyên tắc
giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn.
Khái niệm chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân chưa được ghi nhận
trong bất kỳ văn bản pháp luật nào nhưng qua phân tích ở trên có thể hiểu:
Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là việc vợ
chồng thoả thuận hoặc yêu cầu Toà án chuyển một phần hoặc toàn bộ tài sản
15
thuộc sở hữu chung của vợ chồng cho mỗi bên vợ, chồng dựa trên các căn cứ
luật định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên vợ, chồng và
18
người thứ ba có liên quan mà không làm chấm dứt quan hệ giữa vợ và chồng
trước pháp luật.
1.2. Ý NGHĨA CỦA VIỆC CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
Pháp luật HN&GĐ 1986 bắt đầu có quy định về chia tài sản chung của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tại Điều 18: “Khi hôn nhân tồn tại, nếu một
bên yêu cầu và có lý do chính đáng, thì có thể chia tài sản chung của vợ
chồng theo quy định ở Điều 42 của Luật này”. Kế thừa và phát huy quy định
này, Luật HN&GĐ 2000 tiếp tục hoàn thiện quy định trường hợp chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Việc pháp luật thừa nhận vấn đề
chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có ý nghĩa hết sức to
chồng. Đáp ứng nhu cầu này của vợ chồng và nhằm xây dựng hạnh phúc gia
đình êm ấm, hòa thuận, pháp luật cho phép chia tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân.
Thứ tư, quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có ý
nghĩa trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba, trường hợp
do vợ chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng (những khoản nợ mà vợ
chồng vay từ trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân mà sử dụng vào
mục đích riêng) trong trường hợp này nếu tài sản riêng không có hoặc không
đủ mà vợ chồng không thỏa thuận được về việc lấy tài sản chung để trả nợ
riêng cho một bên thì vợ chồng có quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời
17
kỳ hôn nhân để vợ chồng dùng phần tài sản đã chia đó thực hiện nghĩa vụ riêng.
Những quy định này tạo điều kiện cho vợ chồng được tự do tham gia
vào các quan hệ xã hội, nâng cao đời sống gia đình. Tuy nhiên, ngoài những
lợi ích đạt được vợ, chồng cũng phải có nghĩa vụ tài sản đối với bên thứ ba có
quan hệ giao dịch liên quan đến tài sản của vợ, chồng; bên cạnh đó, chế định
chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân còn tạo cơ sở pháp lý
để phân định rõ trách nhiệm của vợ chồng trong quản lý, sử dụng và định đoạt
20
tài sản phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội và xây dựng gia đình hạnh phúc,
hòa thuận. Chính nhờ có quy định này mà giảm thiểu được tối đa các mâu
thuẫn phát sinh xuất phát từ khối tài sản chung của vợ chồng.
Thứ năm, quan hệ vợ chồng là một quan hệ thiêng liêng và nhạy cảm, có
lúc êm đềm, có lúc sóng gió. Đôi khi vì những lý do cá nhân nào đó mà vợ
chồng chia tài sản chung. Vì vậy việc quy định về chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân khi chia sẽ giúp tránh được một số tranh chấp phát sinh giữa vợ và
chồng. Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, mỗi bên vợ chồng
cần xác định được quyền và nghĩa vụ của mình đối với gia đình, tránh tình
sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân mà chỉ quy định về chế độ ly
thân và dự liệu về chế độ tài sản khi vợ chồng ly thân. Luật HN&GĐ 1959
quy định một chế độ tài sản duy nhất là chế độ tài sản chung. Khi một bên vợ,
chồng chết hoặc khi hai vợ chồng ly hôn tài sản chung sẽ được chia “căn cứ
vào sự đóng góp về công sức của mỗi bên, vào tình hình tài sản và tình trạng
cụ thể của gia đình” (Điều 29), Luật HN&GĐ 1959 không quy định về chia
tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân mà chỉ quy định về chia tài
19
sản khi ly hôn. Sắc luật 15/64 chỉ dự liệu chia tài sản chung khi vợ, chồng ly
thân hoặc ly hôn. Như vậy tính cho đến thời điểm này, pháp luật chỉ mới có
những quy định sơ đẳng đầu tiên về chia tài sản chung khi vợ chồng ly thân,
ly hôn, tức là khi quan hệ hôn nhân không tồn tại hoặc chỉ tồn tại theo pháp
luật, vợ chồng không còn muốn cùng chung sức xây dựng gia đình, cùng
chung kinh tế, cùng nhau nuôi dạy con cái. Trường hợp chia tài sản chung của
vợ chồng trong thời kì hôn nhân khi mà cả hai bên vợ chồng muốn việc chia
tài sản chỉ tác động thuần túy đến tài sản chứ không phải quan hệ hôn nhân
không được quan tâm đến và không hề xuất hiện trong bất cứ quy định nào
của pháp luật.
Khi BLDS 1972 ra đời dưới chế độ Miền nam Cộng hòa, lần đầu tiên
trong lịch sử pháp luật Việt nam, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong
22
thời kỳ hôn nhân được nhắc đến. Bộ Luật này đã dự liệu cả ba trường hợp
chia tài sản đó là khi vợ, chồng chết; khi vợ chồng ly thân và ly hôn. Trong
thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có thể làm đơn yêu cầu Toà án tuyên phán sự biệt
sản trong một số trường hợp được luật dự liệu. Các quy định về chia tài sản
chung trong thời kỳ hôn nhân bước đầu được nhắc đến nhưng rất ít, rất sơ sài
và chỉ quy định một số rất nhỏ các trường hợp vợ chồng được chia tài sản
trong thời kỳ hôn nhân mà không có thêm hướng dẫn khác, bó buộc vợ chồng
những tài sản theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng).
Về nguyên tắc, khi hôn nhân tồn tại thì vẫn còn chế độ tài sản chung, chế độ
tài sản này chỉ chấm dứt khi hôn nhân chấm dứt về mặt pháp lý (ly hôn; một
bên vợ, chồng chết).
21
Căn cứ chia tài sản trong thời kì hôn nhân được quy định tại khoản 1
Điều 29 Luật HN&GĐ 2000:
“1. Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh
doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác
thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung
phải lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu
Tòa án giải quyết”.
Theo đó, các căn cứ để chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân theo
Luật này bao gồm: Vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân
sự riêng và các lý do chính đáng khác. Trong trường hợp vợ chồng đầu tư
kinh doanh riêng, việc kinh doanh buôn bán cần tận dụng thời cơ để đạt hiệu
quả cao nhất. Tuy nhiên, việc đầu tư cần có vốn lớn mà mà người vợ hoặc
người chồng không muốn mạo hiểm toàn bộ tài sản chung của cả gia đình,
hoặc một trong hai vợ hoặc chồng muốn đầu tư kinh doanh nhưng vì rủi ro
cao nên người còn lại không đồng ý… Khi đó vợ hoặc chồng hoặc cả vợ và
chồng có quyền thỏa thuận để chia tài sản trong thời kì hôn nhân, nếu không
thể thỏa thuận thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết với mục đích lấy phần
24
tài sản của mình trong khối tài sản chung để làm vốn đầu tư kinh doanh.
Trong trường hợp vợ hoặc chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng, nếu tài
sản riêng không có hoặc không đủ mà vợ chồng không thỏa thuận được về
việc dùng tài sản chung để trả nợ thì vợ, chồng có quyền yêu cầu chia tài sản
chung trong thời kỳ hôn nhân để lấy phần tài sản riêng của mình thực hiện
quy định rõ ràng về căn cứ chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
23
nhân lại vô hình chung hạn chế vợ chồng khi quyết định chia tài sản chung.
Vợ hoặc chồng chỉ được phép chia tài sản chung khi có một trong các căn cứ
nói trên, nếu thuộc trường hợp lí do chính đáng khác thì phải chứng minh
được tính chính đáng khi thỏa thuận hay yêu cầu Tòa án chia tài sản chung.
Hơn nữa, pháp luật cũng chưa có hướng dẫn cụ thể thế nào là lý do chính
đáng và trong những trường hợp nào thì được chia tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân khi có lý do chính đáng? Và có phải trường hợp nào có lý do chính
đáng cũng được chia theo quy định của luật này?
Ngày 19 tháng 06 năm 2014, Quốc hội chính thức thông qua Luật
HN&GĐ mới, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015. Luật
HN&GĐ 2014 đã khắc phục hạn chế của Luật HN&GĐ 2000 về các căn cứ
chia tài sản trong thời kì hôn nhân khi bỏ đi quy định về các trường hợp chia
tài sản cố định mà luật dự liệu, mở ra nhiều sự lựa chọn hơn cho các cặp vợ
chồng khi có nguyện vọng chia tài sản trong thời kì hôn nhân. Thay vào đó,
quy định các giới hạn cần thiết để đảm bảo gia đình vẫn phát triển bền vững
và hạnh phúc, quyền và lợi ích hợp pháp của con cái vẫn được thực hiện đầy
đủ, quyền và lợi ích của người thứ ba không bị xâm phạm được quy định
bằng các trường hợp dẫn đến vô hiệu của việc chia tài sản chung tại Điều 42
Luật này. Các quy định khác về hậu quả pháp lí và phương thức chia tài sản,
cách thức chia khối lượng tài sản chung của vợ chồng cũng có nhiều thay đổi
nhằm khắc phục các hạn chế của Luật cũ, và đảm bảo tốt hơn cho quyền và
26
lợi ích của người có quyền và lợi ích liên quan. Như vậy Luật HN&GĐ 2014
đã có những tiến bộ đáng kể so với Luật HN&GĐ 2000. Tính đến nay, đây là
Luật có những quy định đầy đủ nhất, hoàn thiện nhất về chế định chia tài sản
24