MỤC LỤC
NỘI DUNG Trang
LỜI NÓI ĐẦU 3
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 4
3. Mục đích - Phạm vi nghiên cứu 5
4. Phương pháp nghiên cứu 6
5. Đóng góp mới của luận văn 6
6. Cơ cấu của luận văn 7
CHƯƠNG 1: 8
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DI CHÚC CHUNG 8
CỦA VỢ CHỒNG 8
1.1. Khái niệm, sự khác biệt giữa di chúc chung vợ chồng và di chúc thông
thường 8
1.1.1. Khái niệm di chúc chung của vợ chồng 8
1.1.2. Đặc điểm di chúc chung của vợ chồng 9
1.1.3. Sự tất yếu hình thành di chúc chung của vợ chồng 11
1.1.4. Đặc thù của di chúc chung của vợ chồng 13
1.2. Vài nét về quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về di chúc
chung của vợ chồng 15
1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về di chúc chung của
vợ chồng trên thế giới 15
1.2.2. Quá trình hình thành và phát triển của chế định di chúc chung của vợ
chồng tại Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử 19
CHƯƠNG 2: 23
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ 23
DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG 23
2.1. Điều kiện có hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng 23
2.1.1. Điều kiện về chủ thể lập di chúc 23
2.1.2. Điều kiện về nội dung và mục đích 26
2.1.3. Điều kiện về ý chí tự nguyện thống nhất 30
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Pháp luật công nhận quyền sở hữu tài sản của cá nhân và khẳng định cá
nhân có quyền định đoạt tài sản theo ý của mình,. Điều này đã được ghi nhận và
khẳng định trong rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Tính tự định đoạt, thỏa
thuận là một nét tiêu biểu trong quan hệ pháp luật dân sự. Trong quan hệ thừa
kế, người lập di chúc toàn quyền định đoạt tài sản của mình sau khi chết. Xã hội
phát triển, trình độ dân trí nâng cao, người ta muốn định đoạt tài sản của mình
ngay cả khi chết đi bởi những gì họ đã làm, đã gắng và đang có trong tay. Luật
Việt Nam quy định tài sản vợ chồng là thuộc sở hữu chung hợp nhất và vợ
chồng có quyền ngang nhau trong việc định đoạt tài sản. Thực tế cho thấy không
phải là hiếm những trường hợp vợ chồng lập di chúc chung. Và vì pháp luật quy
định không rõ ràng về vấn đề này, nên dẫn đến những cách hiểu không giống
nhau của những người lập di chúc và ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp
khác của những người thừa kế.
Thực tiễn giải quyết án về di chúc chung của vợ chồng ở các Tòa án tại
các tỉnh, thành phố hiện nay rất ít, thậm chí là không có. Theo thống kê tại Tòa
án nhân dân thành phố Hà Nội cho thấy, trong khoảng 59 vụ án xét xử phúc
thẩm về quan hệ pháp luật thừa kế năm 2008 thì chỉ có hơn 10 vụ liên quan đến
di chúc, trong đó hầu như không có vụ án nào về vấn đề di chúc chung của vợ
chồng
1
. Trong các tranh chấp về thừa kế thì chủ yếu là những tranh chấp về di
sản thừa kế, tranh chấp giữa tài sản chung của những người thừa kế khi một
trong hai vợ chồng chết trước…Phần lớn những tranh chấp nào liên quan đến di
chúc thì cũng bị tuyên hủy hoặc không hợp pháp và chia thừa kế theo pháp luật.
Chỉ có một vài vụ án liên quan đến di chúc của một trong hai bên vợ chồng còn
1
Theo Sổ kết quả xét xử phúc thẩm các vụ án dân sự của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội năn 2008
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng
3
3. Mục đích - Phạm vi nghiên cứu
• Mục đích
Bản chất của pháp luật là công cụ để điều chỉnh xã hội, một trong những
tính chất của nó là tính phổ biến, tường minh. Nhưng không phải quy định nào
của pháp luật cũng được quy định một cách rõ ràng. Người dân rất khó tiếp cận
một vấn đề nào đó mà mình quan tâm. Ngay cả khi người dân biết được pháp
luật quy định vấn đề đó như thế nào cũng chưa chắc đã hiểu được đúng bản chất,
ý nghĩa của điều luật.
Hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng là một vấn đề không hề dễ
hiểu. Dù pháp luật chỉ quy định ở một điều luật duy nhất là Điều 668 Bộ luật
Dân sự 2005 (BLDS 2005), nhưng nội hàm của điều luật ấy lại liên quan đến
nhiều điều luật khác trong cùng Bộ luật và cả những điều luật thuộc văn bản
pháp luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
Di chúc chung của vợ chồng là một loại di chúc đặc biệt. Tính chất đặc
biệt của nó thể hiện trong các quy định về chủ thể, nội dung, ý nghĩa, hình
thức…Nhưng những nội dung ấy lại không được pháp luật quy định rõ. Do đó,
tìm hiểu và làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về di chúc chung của
vợ chồng nói chung và hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng nói riêng
sẽ là mục đích đầu tiên của luận văn.
Tiếp theo, trên cơ sở phân tích, làm rõ các quy định của pháp luật hiện
hành, tác giả bài viết sẽ đưa ra những khúc mắc, những mâu thuẫn, sự chồng
chéo dẫn tới sự bất hợp lý của các quy định này. Những khúc mắc, những mâu
thuẫn, sự chồng chéo, bất hợp lý xoay quanh những nội dung chủ yếu của di
chúc chung vợ chồng và giá trị pháp lý của di chúc. Ví dụ như những quy định
về thời điểm có hiệu lực di chúc chung của vợ chồng, di chúc riêng của vợ
chồng, những quy định về di chúc thông thường …
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng
5
Đồng Thị Thu Sa Khoá luận tốt
nghiệp
tỏ được một số vấn đề mà pháp luật chưa quy định cụ thể. Luận văn đã đưa ra
được khái niệm di chúc chung của vợ chồng, sự khác biệt giữa di chúc thông
thường và di chúc chung của vợ chồng. Bên cạnh đó, luận văn đưa ra được
những điều kiện để di chúc chung của vợ chồng có hiệu lực pháp luật, tính tất
yếu của di chúc chung vợ chồng. Đồng thời, luận văn so sánh di chúc chung của
vợ chồng theo pháp luật Việt Nam với pháp luật của các quốc gia trên thế giới
để từ đó làm sáng tỏ những điểm đặc thù về di chúc chung của vợ chồng, từ đó
đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam.
6. Cơ cấu của luận văn
- Mục lục
- Lời mở đầu
- Chương I: Một số vấn đề lý luận về di chúc chung của vợ chồng
- Chương II: Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về di chúc chung của
vợ chồng
- Chương III: Kiến nghị các giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật
Việt Nam hiện hành về hiệu lực di chúc chung của vợ chồng
- Kết luận
- Tài liệu tham khảo
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng
7
Đồng Thị Thu Sa Khoá luận tốt
nghiệp
CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DI CHÚC CHUNG
CỦA VỢ CHỒNG
1.1. Khái niệm, sự khác biệt giữa di chúc chung vợ chồng và di chúc thông
thường
1.1.1. Khái niệm di chúc chung của vợ chồng
Nghiên cứu bất kỳ một vấn đề khoa học nói chung và vấn đề pháp lý nào
nói riêng trước tiên chúng ta cần phải đi nghiên cứu khái niệm của nó. Bởi nội
niệm di chúc thông thường, ta có thể đưa ra khái niệm di chúc chung của vợ
chồng như sau: “Di chúc chung của vợ chồng là sự thể hiện ý chí đồng thuận,
thống nhất của vợ và của chồng nhằm chuyển dịch tài sản chung của vợ chồng
cho người khác sau khi chết”.
1.1.2. Đặc điểm di chúc chung của vợ chồng
Là một loại di chúc nên di chúc chung của vợ chồng cũng mang những
đặc điểm của di chúc thông thường được nêu như là giao dịch pháp lý đơn
phương, di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm người lập di chúc chết và di
chúc được sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ theo ý chí của người lập di chúc.
Tuy nhiên, xuất phát từ tính chất đặc thù của di chúc chung, di chúc chung của
vợ chồng mang những đặc điểm khác biệt cần được lưu ý sau đây.
Thứ nhất, về ý chí đơn phương của di chúc: Ngay cả khi vợ chồng cùng
lập di chúc thì tính chất một bên của giao dịch vẫn không mất đi. Điều đó có
nghĩa là khi vợ chồng đã thỏa thuận, thống nhất định đoạt tài sản chung của
mình thì pháp luật hoàn toàn tôn trọng. Tài sản ấy có thể định đoạt một phần
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng
9
Đồng Thị Thu Sa Khoá luận tốt
nghiệp
hoặc toàn bộ. Người thụ hưởng có thể là cá nhân hoặc tổ chức bất kỳ mà không
phụ thuộc vào quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng. Vợ chồng lập di chúc chung có
thể gắn nghĩa vụ hoặc không gắn nghĩa vụ đối với người thụ hưởng và cũng
không cần quan tâm người thụ hưởng ấy có đồng ý, có muốn nhận di sản hay
không. Đây là sự chuyển giao không có đền bù và hoàn toàn phụ thuộc ý chí của
vợ chồng lập di chúc chung. Tính chất một bên ở đây không phải là khi vợ
chồng lập di chúc chung thì chỉ có một bên hoặc vợ hoặc chồng thể hiện ý chí.
Mà một bên ở đây là sự xác lập giữa một bên lập di chúc để định đoạt tài sản của
mình, cụ thể ở đây là cả vợ và chồng với một bên là người thụ hưởng. Tính chất
một bên là xuất phát từ ý chí của người lập di chúc.
Tóm lại, không có sự ràng buộc hoặc căn cứ nào bắt buộc vợ chồng phải
quan đến phần tài sản của người đã chết trong di chúc chung thì những sự thay
đổi đó sẽ không có giá trị, không được pháp luật công nhận.
1.1.3. Sự tất yếu hình thành di chúc chung của vợ chồng
Tại sao pháp luật lại quy định chủ thể có quyền lập di chúc chung để định
đoạt tài sản của mình sau khi chết chỉ có thể là vợ chồng mà không trao quyền
này cho những trường hợp khác. Điều này có thể được lý giải bởi các lý do sau
đây:
Thứ nhất, về mối quan hệ vợ chồng: chồng vợ là khái niệm chỉ hai cá
nhân nam nữ độc lập trong xã hội, gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân hợp
pháp. Khi là vợ chồng, vợ chồng phải “chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm
chỉ, giúp đỡ nhau, cùng xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh
phúc, bền vững” (Điều 18 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000). Xuất phát từ bản
chất của hôn nhân là vợ chồng cùng chung tay xây dựng mái ấm, cùng nghĩa vụ
yêu thương chăm sóc nhau, chăm nom gia đình, giáo dục nuôi dưỡng các con.
Trong gia đình ấy, vợ chồng cùng phải nhìn về một phía, vì sự phát triển chung.
Thứ hai, về tài sản: Bên cạnh đời sống tình cảm vợ chồng còn phải quan
tâm tới vấn đề vật chất, tài sản của vợ chồng. Cuộc sống chung của vợ chồng
cùng với tính chất của quan hệ hôn nhân đã xác lập đòi hỏi vợ chồng phải có
khối tài sản chung. Và khối tài sản ấy sẽ là cơ sở kinh tế của gia đình, đáp ứng
các nhu cầu thiết yếu của gia đình để từ đó thực hiện tốt các chức năng xã hội.
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng
11
Đồng Thị Thu Sa Khoá luận tốt
nghiệp
Tài sản chung của vợ chồng là vấn đề có ý nghĩa quan trọng như vậy. Điều 27
Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 quy định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm
tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh
doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân;
tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những
tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung”. Tài sản chung của vợ
lầu đời và ngày càng trở nên phổ biến trong đời sống xã hội hiện đại. Nó thể
hiện truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta, thể hiện đạo lý tình nghĩa vợ
chồng. Và chế định này đã được BLDS 2005 quy định để tôn trọng ý chí của họ.
Đó cũng là sự tất yếu hình thành di chúc chung của vợ chồng.
Từ sự tất yếu trên, có thể nhận thấy quy định hiệu lực pháp luật di chúc
chung của vợ chồng có ý nghĩa rất quan trọng. Thứ nhất, hiệu lực pháp luật di
chúc chung giúp chia thừa kế theo di chúc chung một lần, nhằm tránh chia di sản
nhiều lần; vì điều luật quy định di chúc chung của vợ chồng chỉ có hiệu lực từ
hai thời điểm xác định là người sau cùng chết hoặc vợ chồng cùng chết. Thứ hai,
đảm bảo quyền sở hữu và quyền sử dụng di sản thừa kế của người sống; vì tài
sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là loại tài sản chung hợp nhất;
khi nó được định đoạt bằng một chúc thư chung thì phần nào đó các quyền của
người thừa kế sẽ được đảm bảo một cách ưu việt hơn so với việc không có di
chúc hoặc di chúc riêng. Thứ ba, việc quy định như vậy, phần nào đó ngăn chặn
sự mất ổn định của gia đình; bởi một khi động chạm đến vấn đề lợi ích, tài sản
tiền bạc…thì rất dễ xảy ra mâu thuẫn giữa những người trong gia đình với nhau,
đặc biệt khi một người chết trước, người còn sống quản lý di sản chưa chia,
những người thừa kế theo di chúc chưa thể nhận di sản từ di chúc chung của vợ
chồng mà người vợ hoặc người chồng còn sống. Di sản đang được quản lý đó
cần luôn đảm bảo sự minh bạch rõ ràng.
1.1.4. Đặc thù của di chúc chung của vợ chồng
Trên cơ sở khái niệm, đặc điểm di chúc chung của vợ chồng đã nêu ra ở
trên, ta thấy cùng là di chúc, di chúc chung của vợ chồng có những đặc điểm
giống di chúc thông thường. Nhưng vì là một loại di chúc đặc biệt, di chúc
chung của vợ chồng so với di chúc thông thường có một số điểm đặc thù sau:
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng
13
Đồng Thị Thu Sa Khoá luận tốt
nghiệp
Vấn đề Di chúc thông thường Di chúc chung của vợ chồng
nhưng vợ chồng có thể lập di
chúc chung bằng văn bản hoặc
bằng miệng nếu đáp ứng đủ các
điều kiện của pháp luật.
Sửa đổi,
bổ sung,
thay thế,
huỷ bỏ di
chúc
Cá nhân lập di chúc có quyền
tuyệt đối.
Vợ chồng có quyền tuyệt đối khi
cả hai người còn sống và đồng
thuận với nhau. Nhưng chỉ có ý
nghĩa tương đối với riêng vợ
hoặc chồng trong trường hoặc
một trong hai người chết trước.
Người
hưởng
thừa kế
Không bao giờ là người lập ra di
chúc.
Phần di chúc chung liên quan đến
người chết trước có hiệu lực pháp
luật thì người còn sống luôn là
một trong những người thừa kế
của người chết trước.
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng
14
Đồng Thị Thu Sa Khoá luận tốt
1.2. Vài nét về quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về di chúc
chung của vợ chồng
Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về di chúc chung của vợ
chồng là phần nội dung nghiên cứu tiến trình lịch sử được sắp xếp theo thời gian
của chế định di chúc chung của vợ chồng trên thế giới và tại Việt Nam; trong đó
chủ yếu tập trung tìm hiểu quá trình đó tại Việt Nam.
Đây là phần tìm hiểu giúp chúng ta có cái nhìn mở rộng và toàn diện hơn
về chế định di chúc chung của vợ chồng.
1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về di chúc chung
của vợ chồng trên thế giới
Trước khi đi tìm hiểu pháp luật của các nước trên thế giới về quyền lập di
chúc chung của vợ chồng, chúng ta đi xem xét pháp luật của những quốc gia
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng
15
Đồng Thị Thu Sa Khoá luận tốt
nghiệp
không ghi nhận quyền này trong hệ thống pháp luật của họ. Tiêu biểu đó là Luật
La Mã và pháp luật Cộng hòa Pháp. Sở dĩ chọn hai hệ thống pháp luật này vì vị
trí, ý nghĩa và vai trò của nó có tác động lớn tới sự hình thành phát triển hệ
thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Đặc biệt từng là thuộc địa của Pháp, Việt Nam chịu ách thống trị nặng nề cả về
kinh tế, văn hóa. Pháp luật của Việt Nam thời kỳ đó cũng bị chi phối, ảnh hưởng
rất nhiều của Bộ luật Dân sự Pháp.
Thứ nhất, Luật La Mã là một Bộ luật cổ xưa nhất trong văn minh nhân
loại. Nó có vai trò và vị trí vô cùng lớn đối với sự phát triển pháp luật của tất cả
các nước trên thế giới từ cổ chí kim. Nhiều chế định của Luật La Mã có giá trị
như một nguồn tri thức chung của nhân loại về cấu trúc lập pháp và trình độ lập
pháp. Những quy định của Luật La Mã đã đặt nền móng vững chắc có ảnh
hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hầu hết tất cả luật thành văn của các nước trên
thế giới trong quá trình xây dựng luật dân sự hiện đại. Đặc biệt có thể thấy các
nhau”. Điều đó có nghĩa là mặc dù tôn trọng sự tự định đoạt tài sản của chủ sở
hữu nhưng pháp luật Pháp lại hạn chế một số trường hợp định đoạt tài sản này,
thể hiện qua việc không cho phép vợ chồng lập di chúc chung mà không phân
biệt vợ chồng đó theo chế độ cộng đồng tài sản hay chế độ phân sản trong hôn
nhân.
Hai hệ thống pháp luật tiêu biểu trên đều là những công trình đồ sộ, nơi
tập hợp trí tuệ của các luật gia lỗi lạc thời đó. Nhưng cả hai hệ thống pháp luật
đó đều không quy định di chúc chung của vợ chồng cũng là một điều đáng phải
suy nghĩ. Ta biết việc xây dựng pháp luật của mỗi quốc gia phụ thuộc nhiều vào
tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, trình độ lập pháp của quốc gia đó.
Khó có thể áp dụng nguyên vẹn một hệ thống pháp luật nào vào điều kiện thực
tế của một quốc gia khác. Việc quốc gia này quy định một vấn đề nào mà quốc
gia khác không quy định là điều dễ hiểu và đương nhiên. Vậy nên có những
quốc gia vẫn quy định di chúc chung của vợ chồng trong hệ thống pháp luật của
mình. Chúng ta sẽ đi tìm hiểu hai hệ thống pháp luật tiêu biểu, đó là hệ thống
pháp luật Cộng hòa liên bang Đức và hệ thống pháp luật của Quebec (Canada).
Thứ nhất, pháp luật của Cộng hòa liên bang Đức cũng như pháp luật
Cộng hòa Pháp đều được hình thành trên cơ sở kết hợp luật tập quán địa phương
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng
17
Đồng Thị Thu Sa Khoá luận tốt
nghiệp
và Luật La Mã nhưng lại có sự khác biệt giữa hai hệ thống pháp luật này trong
vấn đề di chúc chung của vợ chồng. Ở Đức, các đế chế Đức tồn tại thời kỳ giữa
năm 962 và năm 1806 tự cho mình là kế thừa của đế chế La Mã. Luật La Mã
được nghiên cứu tại các trường đại học của Đức và các nước lục địa châu Âu và
được coi là nguồn luật bổ sung, được áp dụng trực tiếp nếu luật pháp thành văn
và tập quán pháp luật của họ chưa có quy định đối với quan hệ xã hội cần thiết
phải điều chỉnh pháp luật.
Bộ luật Dân sự Đức năm 1896 được gọi là “professorenrecht”, tức là luật
chồng nói riêng có tính chất nước ngoài. Đặc biệt nó đã hài hòa được phần nào
những khác biệt giữa các hệ thống pháp luật trên thế giới.
1.2.2. Quá trình hình thành và phát triển của chế định di chúc chung của vợ
chồng tại Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử
Đây là phần tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của chế định di
chúc chung của vợ chồng qua các thời kỳ lịch sử trong pháp luật Việt Nam từ cổ
luật, thời kỳ Pháp thuộc, thời kỳ 1954 – 1975, thời kỳ 1975 – nay. Có sự phân
định như vậy là vì mỗi thời kỳ đó ở Việt Nam gắn với điều kiện chính trị, kinh
tế, xã hội, phong tục tập quán nhất định; mà pháp luật lại là sản phẩm của trí tuệ
con người phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể ấy. Thời kỳ sau không hoàn
toàn giống thời kỳ trước mà nó có sự biến đổi, kế thừa và phát triển cho phù hợp
với tình hình thực tế.
* Cổ luật
Hệ thống văn bản pháp luật của nước ta thời kỳ này khá rời rạc. Những
vấn đề về thừa kế đã không còn được lưu giữ kể từ trước thời kỳ nhà Lê (1428 –
1527). Chỉ dưới thời vua Lê Nhân Tông và Lê Thánh Tông mới ban hành một số
điều luật về thừa kế. Quan điểm của các nhà làm luật thời này khá gần với quan
điểm hiện đại về thừa kế.
Khi ban hành Bộ Quốc Triều Hình Luật, hay còn gọi là Bộ Luật Hồng
Đức, các vấn đề về thừa kế theo di chúc được quy định tại các Điều 354, Điều
388. Ở đây, người con gái có quyền thừa kế ngang bằng người con trai và Bộ
luật đã phân định nguồn gốc tài sản của vợ chồng là tài sản riêng của mỗi người
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng
19
Đồng Thị Thu Sa Khoá luận tốt
nghiệp
và tài sản chung của vợ chồng. Đây là một điểm được đánh giá là rất tiến bộ, tuy
nhiên bộ luật lại không có quy định về di chúc chung của vợ chồng.
Bộ Hoàng Triều Luật Lệ, tức Luật Gia Long dưới thời nhà Nguyễn so với
Bộ Luật Hồng Đức thì hà khắc hơn rất nhiều; cụ thể những vấn đề về bình đẳng
nghiệp
Tuy nhiên, có một điểm đáng lưu ý, đó là luật đã ghi nhận quyền lập di
chúc chung của vợ chồng. Tại Điều 321 Dân luật Bắc kỳ và Điều 313 Dân luật
Trung kỳ quy định: “Người cha được lập chúc thư để xử trí tài sản chung của
gia đình tuỳ theo ý mình, nhưng phải có vợ chính đồng ý… Trừ tài sản của vợ
chính ra thì người chồng được làm chúc thư để xử trí tài sản của gia đình tùy
theo ý mình, không có vợ chính thuận tình cũng được”.
* Thời kỳ 1954 - 1975
Dưới chính thể ngụy quyền Sài Gòn, các quy định về thừa kế được quy
định tại Bộ Dân luật Sài Gòn 1972, quyển 3 từ Điều 489 - đến Điều 649. Và vấn
đề di chúc chung của vợ chồng cũng được công nhận tại Điều 572: “Chúc thư
chỉ có thể do một người lập ra; hai người không thể cùng chung một chúc thư
lợi tha hay lưỡng tương đắc lợi. Đặc biệt, trong trường hợp chúc thư do hai vợ
chồng cùng làm để sử dụng tài sản chung, chúc thư được thi hành riêng về phần
di sản của người chết trước, người sống vẫn có quyền huỷ bãi hay thay đổi chúc
thư về phần mình”.
Còn hai văn bản khác là Luật gia đình 1959 và Sắc luật 64 lại không đề
cập đến vấn đề di chúc chung của vợ chồng.
* Thời kỳ 1975 – nay
Trước khi có Pháp lệnh thừa kế ngày 30-8-1990, thì chỉ có Thông tư 81
của Tòa án nhân dân tối cao ban hành ngày 24-7-1981 đề cập một cách tương
đối toàn diện về chế định thừa kế, trong đó có đề cập đến vấn đề di chúc chung
của vợ chồng. Sau khi Pháp lệnh thừa kế ban hành, chương II của Pháp lệnh đã
quy định trình tự thừa kế theo di chúc và dù không trực tiếp quy định về di chúc
chung của vợ chồng nhưng cũng gián tiếp thừa nhận hiệu lực của di chúc chung,
và những quy định này đã được pháp điển hoá tại phần thứ tư Bộ luật dân sự 1995.
Mặt khác, luật Hôn nhân và gia đình 1986, Luật Hôn nhân và gia đình
2000 hiện hành đều khẳng định “Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng
21
CHƯƠNG 2:
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ
DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
2.1. Điều kiện có hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng
Di chúc chung của vợ chồng cũng giống di chúc thông thường muốn có
hiệu lực trước hết phải được thừa nhận là hợp pháp. Và một di chúc hợp pháp thì
phải đảm bảo những điều kiện của pháp luật về chủ thể, về ý chí, về hình thức,
về nội dung và một số điều kiện khác. Tuy nhiên, xuất phát từ tính chất đặc biệt,
di chúc chung sẽ phải đảm bảo những điều kiện cụ thể khác nữa mà nếu không
tuân theo thì di chúc chung ấy cũng không được công nhận.
2.1.1. Điều kiện về chủ thể lập di chúc
Di chúc nói chung và di chúc chung của vợ chồng nói riêng là một giao
dịch pháp lý đơn phương. Nó cũng phải đảm bảo các điều kiện có hiệu lực của
giao dịch dân sự. Một trong những điều kiện đầu tiên mà người lập di chúc cần
phải có đó là năng lực hành vi dân sự. Khoản 1 Điều 122 quy định: “Người
tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự”. Đó là khả năng của vợ, chồng
thông qua hành vi của mình để thực hiện các quyền và gánh vác các nghĩa vụ.
Theo quy định của pháp luật, một người được coi là có năng lực hành vi dân sự
đầy đủ khi người đó đủ mười tám tuổi mà không mắc các bệnh không thể nhận
thức và làm chủ được hành vi của mình. Về nguyên tắc chỉ những người đủ
mười tám tuổi trở lên mới có quyền lập di chúc. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 647
BLDS 2005 quy định: “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi
có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý”. Điều đó có
nghĩa là, những người này khi họ có tài sản nhất định thì vẫn có quyền lập di
chúc để định đoạt tài sản của mình. Tuy nhiên, ở độ tuổi này, cá nhân mới chỉ
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng
23
Đồng Thị Thu Sa Khoá luận tốt
nghiệp
đạt được sự nhận thức nhất định, chưa thể coi là hoàn thiện, chưa thể kiểm soát
nghiệp
người vợ cùng chồng vẫn lập di chúc chung thì di chúc ấy có giá trị pháp lý, có
được pháp luật công nhận hay không?
Pháp luật không đề cập vấn đề này, phải chăng các nhà làm luật cho rằng:
Thứ nhất, những người từ mười tám tuổi đối với nữ mà kết hôn không phải là
nhiều, đặc biệt trong xã hội hiện đại; Thứ hai, các nhà làm luật đã loại trừ khả
năng vợ chồng mới cưới có khối tài sản chung nhất định để định đoạt những tài
sản ấy trong di chúc chung. Sự lý giải như vậy hoàn toàn không hợp lý. Không
phải vì ít xảy ra mà pháp luật lại không quy định. Mặt khác, không thể nói vợ
chồng mới cưới chưa thể có khối tài sản chung nhất định được. Vì có khả năng,
nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng đã lâu, đợi đến khi đủ tuổi họ mới
đăng ký kết hôn, chính thức trở thành vợ chồng trước pháp luật. Khối tài sản mà
họ đã có với nhau có thể được họ thỏa thuận làm tài sản chung. Hơn nữa, những
tài sản mà hai vợ chồng nhận được trong lễ cưới cũng không hẳn là không có giá
trị.
Thiết nghĩ, nam nữ khi đến tuổi kết hôn, tức là họ đã đạt được sự phát
triển nhất định về thể xác lẫn trí tuệ. Người con gái sau khi đi lấy chồng trở
thành người phụ nữ biết lo toan, thu vén mọi chuyện trong gia đình nhà chồng,
không còn sống cuộc sống phụ thuộc nhà mẹ đẻ và cũng không thể coi người vợ
trong trường hợp này không có đủ sự kiểm soát đối với sự định đoạt của mình
được nữa. Cho nên, không phải chuyện gì cũng phải có sự tham gia, đồng ý,
đóng góp của cha, mẹ hoặc người giám hộ. Trong trường hợp lập di chúc chung
này cũng vậy. Mặc dù pháp luật quy định người chưa thành niên muốn lập di
chúc phải có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ. Nhưng thật phi lý khi
đây là di chúc chung mà người vợ muốn lập với người chồng của mình, định
đoạt những tài sản mà vợ chồng có trong đời sống chung. Vậy nên có thể coi
đây là trường hợp ngoại lệ của khoản 2 Điều 647 BLDS 2005.
Tiếp nữa, đây là một giao dịch pháp lý đơn phương được thực hiện bởi
hai chủ thể là vợ và chồng cùng thỏa thuận thống nhất lập di chúc chung. Điều
kiện cần thiết phải có đối với di chúc chung nữa là phải còn tồn tại tình trạng