Quy định của Pháp luật hiện hành về công nghệ thông tin và truyền thông đối với người khuyết tật. Thực tiễn thực hiện ở Việt Nam - Pdf 45

MỤC LỤC

I – MỞ ĐẦU :......................................................................................................2
II – NỘI DUNG :.................................................................................................2
1.Quy định của Pháp luật hiện hành về công nghệ thông tin và truyền thông
đối với người khuyết tật. Thực tiễn thực hiện ở Việt Nam...............................2
a.Quy định của pháp luật hiện hành về công nghệ thông tin và truyền thông
đối với người khuyết tật :..............................................................................3
b.Thực tiễn thực hiện ở Việt Nam :...............................................................6
2.Có một gia đình có con bị khuyết tật. Nhưng họ đối xử tệ với người con
này, biểu hiện bằng các hành vi : không cho đi học, cho ăn mặc rách rưới, chô
ở tồi tàn so với những người con khác, dấu diếm không cho người khác biết,
gạt người khuyết tật ra khỏi những quyết định quan trọng trong gia đình…...8
III – KẾT LUẬN...............................................................................................12

1


I – MỞ ĐẦU :
Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể
hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động,
sinh hoạt, học tập gặp khó khăn. Hiện nay trên thế giới có khoảng 10% dân số là
người khuyết tật. Số người khuyết tật ở Việt Nam đang chiếm tỉ lệ cao trên khu
vực và trên thế giới. Người khuyết tật luôn cần đến sự trợ giúp, hô trợ của nhà
nước và xã hội. Để tìm hiểu các vấn đề về quy định của pháp luật hiện hành về
công nghệ thông tin và truyền thông đối với người khuyết tật, cũng như quyền
và nghĩa vụ của người khuyết tật cũng như trách nhiệm của gia đình đối với
người khuyết tật, em xin chọn đề bài số 5 làm nội dung bài tập lớn học kỳ.
Đề bài :
1. Quy định của Pháp luật hiện hành về công nghệ thông tin và truyền thông
đối với người khuyết tật. Thực tiễn thực hiện ở Việt Nam.

công cụ làm tăng khả năng phục hồi, khắc phục khiếm khuyết ở người khuyết
tật. Với người chậm phát triển về não, các trò chơi trên máy tính giúp cho sự
phát triển của trí óc do kích thích sự tư duy,vận động suy nghĩ,…
Bên cạnh công nghệ thông tin, các phương tiện truyền thông một mặt phản
ánh thông tin cần thiết về người khuyết tật trên mọi lĩnh vực đến cộng đồng,
mặt khác cũng cung cấp thông tin từ đời sống cộng đồng đến với người khuyết
tật, nếu họ có khả năng tiếp nhận hoặc được hô trợ phuong tiện tiếp cận thuận
tiện. Chất lượng đời sống tinh thần của người khuyết tật qua đó được nâng lên.
Xuất phát từ vai trò đó của công nghệ thông tin và truyền thông, pháp luật đã
xác định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc khuyến khích các
hoạt động nhằm hô trợ sự tiếp cận công nghệ thông tin của người khuyết tật.
Theo đó, Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong
3


lĩnh vực công nghệ thông tin ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin dành
cho người khuyết tật. Nhà nước có chính sách miễn, giảm thuế, cho vay vốn với
lãi suất ưu đãi và hô trợ khác cho hoạt động nghiên cứu, sản xuất, cung cấp dịch
vụ, phương tiện hô trợ người khuyết tật tiếp cận công nghệ thông tin và truyển
thông ; hô trợ việc thu nhập, biên soạn và xuất bản tài liệu in chữ nổi Bralle
dành cho người khuyết tật nhìn, tài liệu đọc dành cho người khuyết tật nghe, nói
và khuyết tật trí tuệ. Theo Điều 43 Luật người khuyết tật :
“ Điều 43. Công nghệ thông tin và truyền thông
1. Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân hoạt
động trong lĩnh vực công nghệ thông tin ứng dụng và phát triển công nghệ
thông tin dành cho người khuyết tật.
2. Cơ quan thông tin đại chúng có trách nhiệm phản ánh đời sống vật chất
và tinh thần của người khuyết tật.
Đài truyền hình Việt Nam có trách nhiệm thực hiện chương trình phát sóng
có phụ đề tiếng Việt và ngôn ngữ ký hiệu dành cho người khuyết tật theo quy

tiếp cận, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông được quy định áp dụng
theo hai hình thức : bắt buộc áp dụng và khuyến nghị áp dụng.
Trong lĩnh vực truyền thông, cơ quan thông tin đại chúng có trách nhiệm
phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của người khuyết tật để cộng đồng nắm
bắt được thông tin về bộ phận cư dân đặc biệt này. Ngược lại, để người khuyết
tật có thể tiếp cận được thông tin, Đài truyền hình Việt Nam có trách nhiệm thực
hiện chương trình phát sóng có phụ đề tiếng Việt và ngôn ngữ kí hiệu cho người
khuyết tật. Các Đài truyền hình trung ương được cấp phép phủ sóng toàn quốc
có trách nhiệm áp dụng công nghệ hô trợ người khiếm thính tiếp cận chương
trình thời sự chính trị tổng hợp phát hành hàng ngày tối thiểu trên một kênh. Đối
với các đài truyền hình thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đài
truyền hình có diện phủ sóng khu vực, nhà nước khuyến khích áp dụng công
nghệ hô trợ người khiếm thính.
5


Tóm lại, công nghệ thông tin nói chung dù được phát triển khá mạnh mẽ
nhưng vẫn là lĩnh vực tương đối mới mẻ ở nước ta. Tuy vậy, ở mức độ nhất
định, pháp luật đã có những quy định cụ thể nhằm tạo điều kiện để người
khuyết tật có thể tiếp cận với lĩnh vực hiện đại này, đảm bảo quyền hòa nhập
cộng đồng của họ.
b. Thực tiễn thực hiện ở Việt Nam :
Thời gian vừa qua, thực hiện Thông tư số 28/2009/TT-BTTTT ngày
14/9/2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông, tất cả các ngành, các cấp và cả
các doanh nghiệp đã và đang triển khai tích cực các biện pháp giúp người
khuyết tật hòa nhập với cuộc sống, trong đó có việc tiếp cận và ứng dụng công
nghệ thông tin vào cuộc sống.
Hàng năm Bộ Thông tin và truyền thông đều tổ chức giải thưởng Hiệp sỹ
công nghệ thông tin để vinh danh những người khuyết tật có đóng góp cho việc
đưa công nghệ thông tin đến với người khuyết tật và những người khuyết tật có

nghệ thông tin nhằm tạo các cơ hội hô trợ người khuyết tật tiếp cần gần
hơn với cộng đồng.
- Duy trì và phát triển các công cụ trung gian để hô trợ những người khuyết
tật, bổ sung và tìm tòi thêm các phần mềm tiên tiến.
- Cung cấp thông tin cho các tổ chức có liên quan, các nhà khoa học và cá
nhân quan tâm đến chương trình phát triển người khuyết tật
- Tập huấn cho người tàn tật về cách sử dụng Internet và về các phần mềm
hô trợ tìm kiếm thông tin trên cổng thông tin dành cho người khuyết tật
và về nhân quyền.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình thúc đẩy công nghệ thông tin
– truyền thông cho người khuyết tật vẫn còn vấp phải nhiều hạn chế. Như việc
chọn việc làm cho người khuyết tật yêu thích công nghệ thông tin rất khó khăn
bởi đa số việc làm liên quan đến lĩnh vực này đều đòi hỏi sự linh hoạt, đây là
7


một đòi hỏi khó khăn đối với người khuyết tật, mặt khác nhiều cơ quan của Nhà
nước vẫn còn e ngại tiếp nhận lao động khuyết tật, có những phần việc có thể
ưu tiên cho người khuyết tật nhưng người khuyết tật vẫn chưa được tiếp nhận…
Vì vậy, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và các doanh nghiệp, cá nhân cần tạo
mọi điều kiện khắc phục tình trạng này, giúp người khuyết tật có cơ hội tiếp cận
CNTT – TT nhiều hơn nữa trong tương lai.
2. Có một gia đình có con bị khuyết tật. Nhưng họ đối xử tệ với người con
này, biểu hiện bằng các hành vi : không cho đi học, cho ăn mặc rách
rưới, chỗ ở tồi tàn so với những người con khác, dấu diếm không cho
người khác biết, gạt người khuyết tật ra khỏi những quyết định quan
trọng trong gia đình…
Trả lời :
a. Ý kiến của bạn với tình huống trên :
Hành vi đối xử tệ với người con bị khuyết tật của gia đình này là hoàn toàn

tật cho thấy gia đình này đã có sự phân biệt đối xử, kì thị, không tôn trọng
người khuyết tật, hạn chế quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật một cách trầm
trọng. Đây chính là nguyên nhân cản trở người khuyết tật hòa nhập với cuộc
sống cộng đồng.
b. Hãy phân tích và bình luận quy định của pháp luật hiện hành liên quan
đến tình huống trên.
Qua tình huống trên, có thể thấy một số quy định của pháp luật liên quan đến
vấn đề này như sau :
Tại Công ước về quyền của người khuyết tật quy định người khuyết tật có
quyền được đối xử bình đẳng, được tự do biểu đạt chính kiến, quyền được bảo
vệ, không bị bóc lột, bạo hành và lạm dụng.
Theo điều 4 Luật người khuyết tật cũng quy định :
9


Điều 4. Quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật
1. Người khuyết tật được bảo đảm thực hiện các quyền sau đây:
a) Tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội;
b) Sống độc lập, hòa nhập cộng đồng;
c) Được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội;
d) Được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề,
việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao
thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ
khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật;
đ) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
2. Người khuyết tật thực hiện các nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp
luật.
Pháp luật Việt Nam cũng ghi nhận trách nhiệm của gia đình đối với người
khuyết tật như sau :
Điều 8. Trách nhiệm của gia đình

của người khuyết tật.
3. Lôi kéo, dụ dỗ hoặc ép buộc người khuyết tật thực hiện hành vi vi phạm
pháp luật, đạo đức xã hội.

11


4. Lợi dụng người khuyết tật, tổ chức của người khuyết tật, tổ chức vì người
khuyết tật, hình ảnh, thông tin cá nhân, tình trạng của người khuyết tật để trục
lợi hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
5. Người có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật không thực
hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc theo quy
định của pháp luật.
6. Cản trở quyền kết hôn, quyền nuôi con của người khuyết tật.
7. Gian dối trong việc xác định mức độ khuyết tật, cấp giấy xác nhận khuyết
tật.
Việc quy định những hành vi bị cấm là hành vi người nuôi dưỡng, chăm sóc
không thực hiện đúng trách nhiệm của mình cũng nhằm tạo điều kiện sống tốt
nhất cho người khuyết tật, họ là những người kém may mắn, vì vậy họ phải
được gia đình quan tâm, giúp đỡ để bù đắp sự khiếm khuyết về cơ thể, từ đó
mới có thể hòa nhập cộng đồng xã hội.
III – KẾT LUẬN
Bằng việc phân tích nội dung của đề bài số 5. Em đã hiểu phần nào nội dung
các vấn đề về quy định của pháp luật hiện hành về công nghệ thông tin và
truyền thông đối với người khuyết tật, cũng như quyền và nghĩa vụ của người
khuyết tật cũng như trách nhiệm của gia đình đối với người khuyết tật. Bên
cạnh đó giúp nâng cao nhận thức về người khuyết tật, có thái độ tôn trọng cũng
như giúp đỡ họ trong cuộc sống nhiều hơn.
Trên đây là toàn bộ nội dung bài tập học kì của em. Trong quá trình làm bài
không thể tránh khỏi những thiếu sót không đáng có. Rất mong nhận được ý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status