Bài tập học kỳ - Môn Luật Môi Trường
ĐẶT VẤN ĐỀ
Pháp luật không khuyến khích các hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp
của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Người có hành vi gây thiệt hại cho các chủ thể
khác thì phải bị xử lý, trừng trị nhằm ngăn ngừa và hạn chế các hành vi vi phạm pháp
luật. Trong lĩnh vực môi trường, bất cứ tổ chức, cá nhân gây tổn hại môi trường và cho
các chủ thể khác do hoạt động của mình đều phải bồi thường thiệt hại theo quy định của
pháp luật. Bài viết này em xin được tìm hiểu về các quy định của pháp luật trong
lĩnh vực môi trường.
NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT VỀ THIỆT HẠI TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG
Thiệt hại trong lĩnh vực môi trường, mà cụ thể là thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái
môi trường được pháp luật ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1993 trong Luật Bảo vệ môi
trường (BVMT) năm 1993. Theo đó “tổ chức, cá nhân gây tổn hại môi trường do hoạt
động của mình phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật”. Trong Điều 624
Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS) cũng quy định cá nhân, pháp nhân và các chủ thể
khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp
luật, kể cả trong trường hợp người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi. Nhưng phải
đến khi Luật BVMT 2005 được ban hành, vấn đề này mới được đề cập một cách rõ
ràng hơn. Với việc dành riêng 5 điều cho các quy định về bồi thường thiệt hại do ô
nhiễm, suy thoái môi trường (từ Điều 130 đến Điều 134), Luật BVMT 2005 đã thể hiện
một bước tiến đáng kể trong quá trình “hiện thực hóa” nguyên tắc người gây ô nhiễm
phải trả giá - nguyên tắc có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp đòi
bồi thường thiệt hại về môi trường.
Trên phạm vi thế giới, hiện đang tồn tại song song hai quan niệm khác nhau về
thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường:
Quan điểm thứ nhất là, thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường chỉ gồm thiệt hại
đối với các yếu tố môi trường tự nhiên, như hệ động vật, thực vật, đất, nước, không
______________________________
______________________________
2
Bài tập học kỳ - Môn Luật Môi Trường
Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của con người được thể hiện qua các chi phí để
cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc, phục hồi các chức năng bị mất của người bị hại và các
khoản thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe có
nguyên nhân từ ô nhiễm, suy thoái môi trường. Thiệt hại về tài sản được thể hiện qua
những tổn thất về cây trồng, vật nuôi, những khoản chi phí cho việc sửa chữa, thay thế,
ngăn chặn và phục hồi tài sản bị thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây nên.
II.
XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG
Tại Việt Nam, cả từ phương diện lý luận và thực tiễn đều cho thấy sự mờ nhạt về
mảng kiến thức này. Hiện tại, chúng ta mới chỉ đúc rút được đôi chút kinh nghiệm từ
thực tiễn tự phát giải quyết các vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tài sản do ô
nhiễm môi trường gây nên. Để Việt Nam có thể tự chủ trong việc xác định thiệt hại do ô
nhiễm, suy thoái môi trường gây nên, đặc biệt là thiệt hại đối với môi trường tự nhiên,
những nội dung sau đây cần phải được làm sáng tỏ trong các văn bản pháp luật hướng
dẫn việc xác định thiệt hại về môi trường.
Về lý thuyết, thiệt hại đối với môi trường tự nhiên được hiểu là thiệt hại đối với tất
cả các yếu tố vật chất tạo thành môi trường, như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh
sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác. Tuy nhiên, tại thời điểm này
việc xác định thiệt hại đối với tất cả các thành phần môi trường nêu trên là điều không
hiện thực. Qua khá nhiều cuộc tranh luận khoa học, việc xác định thiệt hại đối với môi
trường tự nhiên chỉ nên bao gồm thiệt hại đối với đất, nước, không khí và đa dạng sinh
trường bị khai thác, sử dụng quá mức so với trữ lượng tự nhiên của nó; dựa vào mức độ
khan hiếm của thành phần môi trường trên thực tế hay mức độ ưu tiên của Nhà nước
trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển mỗi thành phần môi trường... Tuy nhiên, hiện
tại pháp luật chưa có các quy định để lượng hóa các mức độ suy thoái môi trường nên
việc xác định mức độ suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường do môi trường
bị suy thoái mới chỉ dừng lại ở các mức định tính.
• Các căn cứ để xác định mức độ thiệt hại.
Xác định mức độ thiệt hại môi trường thông qua việc xác định phạm vi, giới hạn
môi trường bị suy giảm chức năng, tính hữu ích có lẽ là quy định bất cập nhất trong số
1
Điều 92 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005.
______________________________
4
Bài tập học kỳ - Môn Luật Môi Trường
các quy định về thiệt hại môi trường. Theo khoản 2 Điều 131 Luật BVMT 2005, việc
xác định phạm vi, giới hạn môi trường bị suy giảm chức năng, tính hữu ích gồm có:
- Xác định giới hạn, diện tích của khu vực, vùng lõi bị suy giảm nghiêm trọng và đặc
biệt nghiêm trọng;
- Xác định giới hạn, diện tích vùng đệm trực tiếp bị suy giảm;
- Xác định giới hạn, diện tích các vùng khác bị ảnh hưởng từ vùng lõi và vùng đệm.
Việc Luật BVMT 2005 sử dụng các thuật ngữ vùng lõi, vùng đệm để chỉ mức độ
khác nhau của sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường rất có thể sẽ gây cho
người đọc sự nhầm lẫn giữa nội dung pháp lý của những thuật ngữ này với thuật ngữ
vùng lõi, vùng đệm trong các văn bản pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn đa
Thứ nhất, môi trường cần được xem là một loại “tài sản đồng nhất” 3, được xác
định bởi các giá trị khoa học, kinh tế và môi sinh. Người gây thiệt hại phải có trách
nhiệm bồi thường những tổn thất gây ra đối với môi trường. Trách nhiệm này trước hết
được hiểu là trách nhiệm đối với cộng đồng, với xã hội của người gây hại cho môi
trường vì họ đã xâm hại tới các điều kiện sống chung của con người. Tiếp đến mới là
trách nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân bị xâm hại, thể hiện qua việc bồi thường thiệt
hại đối với tính mạng, sức khỏe, tài sản của người bị hại. Hai khía cạnh trên của trách
nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường được xác định bởi yếu tố khách thể của quan
hệ pháp luật môi trường. Trong các quan hệ pháp luật môi trường, lợi ích mà các bên
tham gia quan hệ hướng tới vừa có tính chất công vừa có tính chất tư. Trong mọi trường
hợp lợi ích công cộng, lợi ích cộng đồng phải được ưu tiên bảo vệ. Điều này cũng có
nghĩa là cần phải có sự phân định giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với môi
trường tự nhiên với trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe, tài
sản con người. Sự phân định này nên được thể hiện qua các quy định về mức bồi
thường, hình thức và phương thức bồi thường. Chẳng hạn như đối với những thiệt hại
về sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
do gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, giữa bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại có thể
thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường. Còn
thiệt hại đối với môi trường tự nhiên, người gây thiệt hại chỉ được lựa chọn các mức bồi
thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, do quan hệ pháp luật trong lĩnh vực môi trường có thể phát sinh giữa các
chủ thể mà không cần đến các cơ sở pháp lý làm tiền, nên bồi thường thiệt hại trong
trường hợp vi phạm nghĩa vụ bảo vệ môi trường là trách nhiệm bồi thường thiệt hại
3
Viện Khoa học Pháp lý Bộ Tư pháp, CIDA Canada, Bản tin Luật so sánh, số 1/2004.
______________________________
những giá trị sinh thái đã bị mất. Trách nhiệm áp dụng các biện pháp khắc phục ô
nhiễm môi trường mang tính chất là một biện pháp cưỡng chế hành chính, do người có
thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quyết định, còn bồi thường thiệt hại lại là một
______________________________
7
Bài tập học kỳ - Môn Luật Môi Trường
loại trách nhiệm dân sự có thể thỏa thuận và xác lập theo ý chí của các bên. Tuy nhiên,
trong lĩnh vực môi trường hai loại trách nhiệm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và
trong một số trường hợp có thể thay thế cho nhau, đặc biệt là khi chỉ xuất hiện thiệt hại
đối với môi trường tự nhiên mà không xuất hiện thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe,
tài sản của tổ chức, cá nhân. Nếu việc khắc phục tình trạng môi trường bị ô nhiễm, suy
thoái do chính người bị hại tiến hành thì những chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và
khắc phục thiệt hại sẽ được tính trong tổng giá trị thiệt hại để đòi bồi thường. Còn trong
trường hợp người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã tự mình thực hiện các biện
pháp khắc phục tình trạng môi trường bị ô nhiễm thì họ sẽ được giải phóng hoặc giảm
trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường.
Thứ năm, nhiều người cùng gây thiệt hại cũng là tình trạng khá phổ biến trong lĩnh
vực môi trường. Luật BVMT 2005 quy định trong trường hợp có nhiều tổ chức, cá nhân
cùng gây ô nhiễm môi trường thì cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường có
trách nhiệm phối hợp với các bên liên quan để làm rõ trách nhiệm của từng đối tượng
trong việc khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường. Tuy nhiên, trên thực tế không dễ
dàng xác định chính xác mức độ gây hại đến môi trường của từng đối tượng. Bồi
thường thiệt hại theo phần bằng nhau là giải pháp đã được pháp luật dân sự tính đến
trong trường hợp này. Tuy nhiên, để đảm bảo sự công bằng trong áp dụng trách nhiệm
bồi thường thiệt hại về môi trường chúng tôi cho rằng nếu người gây thiệt hại chứng
minh được mức độ mà mình gây thiệt hại đối với môi trường là không đáng kể thì họ
vùng tràn dầu... cần được Việt Nam tham khảo trong quá trình ban hành các quy định
về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường.
KẾT LUẬN
Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường tại Việt Nam là vấn đề còn
rất mới cả từ phương diện lý luận và thực tiễn. Nhận thức một cách đầy đủ về những
nội dung liên quan tới thiệt hại về môi trường, bồi thường thiệt hại về môi trường là yếu
tố quan trọng cho việc ban hành và áp dụng trách nhiệm này trong tương lai. Tuy nhiên,
cần phải lưu ý rằng cho dù chế định này có phát triển đến mức nào, chi phí bỏ ra để xử
lý, cải tạo môi trường có lớn đến đâu cũng không thể khắc phục được hết những hậu
quả do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra. Do vậy, xác định thiệt hại đối với môi
trường và áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường trong mọi trường hợp
đều không phải là mong muốn hàng đầu được áp dụng trong lĩnh vực môi trường.
______________________________
10
Bài tập học kỳ - Môn Luật Môi Trường
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993.
Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005.
Bộ Luật Dân sự năm 2005.