TRƯỜNG THCS TRẦN PHÚ
TẬP SAN
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA PHƯƠNG
TÌM HIỂU VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM
TẠI THỪA THIÊN HUẾ
Nhóm thực hiện: Lớp 9/1
Nguyễn Lê Phương Thảo
Huỳnh Thị Diệu Anh
Trần Gia Lộc
Nguyễn Ngọc San
I/ Các tác giả (nhà thơ, nhà văn) ở Thừa Thiên Huế:
1. TỐ HỮU
Tiểu sử:
- Tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh ngày 4/10/1920 trong một gia đình nhà nho nghèo
thuộc Quảng Điền – Thừa Thiên Huế.
- Gia đình và quê hương có ảnh hưởng sâu sắc đến hồn thơ ngọt ngào tâm tình tha thiết của
ông.
Bước vào tuổi thanh niên đúng vào dịp phong trào Mặt trận dân chủ đang sôi nổi. Ông giác
ngộ hăng hái tham gia hoạt động cách mạng, được kết nạp Đảng năm 18 tuổi. Từng bị bắt và
giam cầm nhiều nhà tù, trốn khỏi nhà tù và ra bắc hoạt động. Năm 1945 trở về Huế tham gia
tổng khởi nghĩa.
- Sau cách mạng tháng 8/1945, Tố Hữu hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, từng
giữ những chức vụ trọng trách của nhà nước.
- Ông một tác gia có vị trí đặc biệt quan trọng, một nhà thơ tiêu biểu của dòng thơ cách mạng
Việt Nam. Ông đã từng giữ các chức vụ quan trọng trong hệ thống chính trị của Việt Nam
như Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó
Chủ tịch thứ Nhất Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
- Ông mất ngày 9/12/2002.
Các tác phẩm
Từ ấy (1946), Việt Bắc (1954), Gió lộng (1961), Ra trận (1962-1971), Máu và Hoa (1977),
Một tiếng đờn (1992), Ta với ta (1999), Xây dựng một nền văn nghệ lớn xứng đáng với nhân
Phong tặng và Giải thưởng văn học chính
- Giải nhất giải thưởng văn học Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-1955 (tập thơ Việt Bắc)
- Giải thưởng Văn học ASEAN của Thái Lan năm 1996 cho tập thơ "Một tiếng đờn".
- Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật (đợt 1, 1996)
- Huân chương Sao Vàng (1994)
2. NGUYỄN KHOA ĐIỀM
Tiểu sử:
- Nguyễn Khoa Điềm (tên khác là Nguyễn Hải Dương) sinh ngày 15/4/1943, trong một gia
đình trí thức, giàu truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng tại thôn Ưu Điềm, xã
Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Học tập và trưởng thành trên miền Bắc, tham gia chiến đấu và hoạt động văn nghệ ở quê
hương.
- Thơ ông giàu chất suy tư , xúc cảm dồn nén, giọng thơ trữ tình chính luận.
- Thân sinh của ông là nhà báo Hải Triều, thuộc dòng dõi quan Nội tán Nguyễn Khoa Đăng
gốc An Dương (tỉnh Hải Dương cũ nay là Hải Phòng). Quê quán: làng An Cựu, xã Thủy An,
thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế.
- Ông là một nhà thơ, nhà chính trị Việt Nam. Ông là ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá IX; Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa X, cựu
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
- Hiện nay, ông nghỉ hưu và sống tại Thành phố Huế.
Tác phẩm
Bếp lửa rừng
Bước chân - Ngọn đèn
Cái nền căm hờn
Cát trắng Phú Vang
Chiều Hương Giang
Con chim thời gian
Con gà đất, cây kèn và khẩu
súng
Thưa mẹ con đi
Tiễn bạn cuối mùa đông
Tình Ca
Tôi lại đi đường này
Trên núi sông
Từ những gì các anh trao?
Tuổi trẻ không yên
Vỗ Hờn
Xanh xanh bóng núi
Xuống đường
Giải thưởng:
- Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam với tập thơ "Ngôi nhà có ngọn lửa ấm".
- Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô (giải B) với tập thơ "Cõi lặng" - năm 2010.
3. THANH HẢI
Tiểu sử:
- Thanh Hải sinh ngày 4/11/1930 tại xã Phong Bình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên
Huế, tên thật là Phạm Bá Ngoãn, là một nhà thơ hiện đại Việt Nam.
- Ông xuất thân trong một gia đình trí thức, nhưng nghèo. Cha ông làm nghề dạy học, mẹ
ông là nông dân.
- Thuở nhỏ, ông đi học tại quê nhà. Năm 17 tuổi, Thanh Hải tham gia cách mạng ở huyện
Hương Thủy, làm Chính trị viên Đoàn Văn công Thừa Thiên.
- Vào năm 1954 - 1964, ông ở lại quê hương hoạt động, làm cán bộ tuyên huấn tỉnh. Trong
các năm 1964 - 1967, ông phụ trách báo Cờ giải phóng của thành phố Huế. Sau đó, ông làm
Ủy viên chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Chi hội phó chi Hội văn nghệ giải phóng Bình
Trị Thiên.
- Từ sau năm 1975, ông làm Tổng thư ký Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, đồng thời là Ủy viên
thường vụ Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn
Việt Nam.
- Sống được 5 năm trong hòa bình thì ông bị bệnh hiểm nghèo xơ gan cổ trướng, phải nằm
Bệnh viện Trung ương Huế. Khi đó, ông viết bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”. Chẳng bao lâu
Nai con và dòng suối (truyện thiếu nhi, 1987)
Phần thưởng muôn đời (truyện thiếu nhi, 1987)
Hái tuổi em đầy tay (thơ, 1989)
Mẹ và con (thơ, 1994)
Đề tặng một giấc mơ (thơ, 1998)
Hồn đầy hoa cúc dại (thơ, 2007)
Một tập thơ gồm 56 bài do bà tự tuyển chọn trong những tập thơ đã xuất bản của mình được
Nhà xuất bản Curbstone dịch sang tiếng Anh và phát hành năm 2005.
5. THANH TỊNH
Tiểu sử:
- Thanh Tịnh sinh ngày 12/12/1911 tại xóm Gia Lạc, ven sông Hương, ngoại ô Huế, tên thật
là Trần Văn Ninh (6 tuổi được đổi là Trần Thanh Tịnh), là một nhà thơ Việt Nam thời tiền
chiến. Các bút danh khác của ông là: Thinh Không, Pathé (trước 1945), Thanh Thanh, Trinh
Thuần (sau 1945).
- Thuở nhỏ, ông theo học chữ Hán đến năm 11 tuổi, thì theo học chữ Quốc ngữ tại trường
tiểu học (trường Đông Ba) và trung học (trường Pellerin của giáo hội Thiên Chúa giáo) ở
Huế.
- Đỗ bằng Thành chung, năm 1933, ông đi làm ở các sở tư rồi sau đó làm nghề dạy học. Thời
gian này, ông bắt đầu viết văn, làm thơ và cộng tác với các báo Phong hóa, Ngày nay, Hà
Nội báo, Tiểu thuyết thứ Năm, Thanh Nghị, Tinh Hoa Sáng tác đầu tay của ông là truyện
"Cha làm trâu, con làm ngựa" đăng trên Thần kinh tạp chí (1934).
- Năm 1936, Thanh Tịnh cho xuất bản tập thơ Hận chiến trường.
- Năm 1941, ông và hai bài thơ của ông ("Mòn mỏi" và "Tơ trời với tơ lòng") được Hoài
Thanh- Hoài Chân giới thiệu trong quyển Thi nhân Việt Nam (1942).
Sau Cách mạng tháng Tám (1945), Thanh Tịnh làm Tổng thư ký Hội Văn hóa cứu quốc
Trung Bộ.
- Năm 1948, ông gia nhập bộ đội. Sau đó, ông tham gia phụ trách đoàn kịch Chiến Thắng
của Bộ Tổng tư lệnh Quân đôi nhân dân Việt Nam.
- Năm 1945, ông tham gia phụ trách rồi làm Chủ nhiệm tạp chí Văn nghệ quân đội. Về sau,
ông thôi làm lãnh đạo, để chuyên sáng tác.
- Bản di chúc của cỏ lau (truyện ký, 1984)
- Hoa trái quanh tôi (1995)
- Huế - di tích và con người (1995)
- Ngọn núi ảo ảnh (2000)
- Trong mắt tôi (bút ký phê bình, 2001)
- Rượu hồng đào chưa uống đã say (truyện ký, 2001)
- Trịnh Công Sơn và cây đàn lya của hoàng tử bé (bút ký văn hóa, 2005)
- Miền cỏ thơm (2007)
- Ai đã đặt tên cho dòng sông. Tinh tuyển bút ký hay nhất, Nxb Hội nhà văn, 2010
* Thể loại thơ :
- Những dấu chân qua thành phố (1976)
- Người hái phù dung (1992)
- Thể loại nhàn đàm:
- Nhàn đàm, Nxb Trẻ, 1997
- Người ham chơi, Nxb Thuận Hóa, 1998
- Miền gái đẹp, Nxb Thuận Hóa, 2001 (Tặng thưởng Văn học Hội Nhà văn Việt Nam 2001)
* Tuyển tập :
- Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, 4 tập, Nxb Trẻ, 2002
* Trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và tính trữ tình, giữa
nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học,
văn hoá, lịch sử, địa lý Tất cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm
và tài hoa.
Giải thưởng:
- Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, 1980.
- Tặng thưởng Văn học Ủy ban toàn quốc LH các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, 1999,
2008.
- Giải A giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô (1998-2003).
- Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, 2007.
7. VÕ QUÊ
Tiểu sử:
- Mười thương em bé (thơ, 1992).
- Hoa Đêm (1969)
- Khúc Tri Âm (Lời ca Huế, 2000)
- Thơ Một Thuở Xuống Đường (tập thơ
2001)
- Lửa Đường Phố (hồi ký, 2003)
- Hoa & Phong Vị Huế (tập thơ 2010)
- Ngược Xuôi thế Sự (tập thơ 2011)
Giải thưởng:
- Giải C Giải Văn học Nghệ thuật Cố đô lần thứ I (1994).
- Giải Khuyến khích Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam (1997).
- Giải C - UBTQLHCHVHNT Việt Nam (2001).
- Giải thưởng đặc biệt UBTQLHCHVHNT Việt Nam (2002).
- Huy Chương Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Huy chương Vì sự nghiệp Trẻ
em. Huy chương Vì sự nghiệp Công Đoàn, Huy Chương Vì sự nghiệp Mỹ thuật, Huy
Chương Vì sự nghiệp Nhiếp Ảnh. Huy Chương Chiến sĩ Văn Hóa.
8. MAI VĂN HOAN
Tiểu sử:
- Mai Văn Hoan sinh 20-1-1949, quê Thanh Trạch, Bố
Trạch, Quảng Bình.
- Anh tốt nghiệp khoa Văn, Đại học Sư phạm Vinh và
từng dạy ở các trường: Cấp 3 Minh Hoá (1971-1973), Sư
phạm 10+3 Quảng Bình (1973-1979), Hai Bà Trưng
(1979-1985), Quốc Học (1985-2009).
- Anh từng tham gia bồi dưỡng hàng chục học sinh giỏi
văn tỉnh Bình Trị Thiên (1979-1989), tỉnh Thừa Thiên
Huế (1989-2009) đoạt giải Quốc gia. Một số học sinh
của anh đã trở thành phó giáo sư, tiến sĩ, cán bộ quản lý,
nhà văn, nhà báo nhưng vẫn “mãi mãi không thể nào
1965 – 1987 : cán bộ văn nghệ ở Hội Văn nghệ Nghệ An (Nghệ Tĩnh), Uỷ viên thường trực
Hội Văn nghệ Nghệ Tĩnh.
1987- 1998 : cán bộ văn nghệ ở Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, rồi Thừa Thiên Huế, Phó Chủ
tịch Hội VHNT Thừa Thiên Huế, Bí thư Đảng Đoàn Văn nghệ tỉnh, Tổng Biên tập Tạp chí
Sông Hương nhiều năm.
1998 : về hưu, viết ở nhà cho đến nay.
Tác phẩm
20 tập văn xuôi, 5 tập thơ ở các NXB Trung ương và địa phương:
- Ý nghĩ mùa thu – Tập truyện ngắn – 1971
- Tiếng nói chìm sâu – Tập truyện ngắn – 1976
- Cây tâm hồn trắng – Tập truyện ngắn – 1984
- Vẫn chuyện phiêu lưu – Truyện dài – 1985
- Ngẫu hứng về chiều – Tập thơ -1988
- Nước mắt đàn ông – Tập thơ – 1992
- Chiếc tàu cau – Tập thơ – 1995
- Rêu đá – Tập thơ – 1998
- Thơ chọn lọc – Tuyển thơ – 2006
- Thuyền đi trong mưa ngâu – Tập truyện ngắn – 1995
- Lễ hội ăn mày – Tập truyện ngắn – 2001
- Trà thiếu phụ - Tập truyện ngắn – 2003
- Vịt trời lông tía bay về - Tuyển truyện – 2006
- Chuyện một tình yêu – Tập truyện ngắn – 2007
Giải thưởng:
- Giải 3 Văn nghệ Quân đội – 1958.
- Giải 2 Văn nghệ Quân đội – 1994.
- Giải A 15 năm Văn nghệ Nghệ An 1965 – 1980.
- Giải Chính thức VHNT Nguyễn Du (Nghệ Tĩnh) 1985.
- Giải A VHNT Cố đô 3 lần liên tiếp (1987 - 1992; 1993 - 1997; 1998 - 2003).
- Giải Văn học UBTQ Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam - 3 lần: 1 lần giải A – 1995; 1 lần
giải B - 2001; 1 lần giải cao tuổi – 2006.
và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức với tiểu thuyết Chỗ đứng người kỹ sư.
- Giải thưởng Bông sen trắng hạng A do UBND tỉnh Bình Trị thiên tặng năm 1988 với tiểu
thuyết Những cánh cửa đã mở.
- Giải thưởng Cố đô hạng B do UBND tỉnh Thừa Thiên Huế tặng năm 1994 với tác phẩm
“Nếu được chết thay em”.
- Giải thưởng hạng B do UB toàn quốc Liên hiệp VHTT Việt Nam tặng 1995 với tác phẩm
Lê Văn Miến - người họa sĩ đầu tiên, người thầy đầu tiên.
II/ Tác phẩm viết về Huế hay, ấn tượng nhất:
NHỚ HUẾ QUÊ TÔI
Sông núi vươn dài tiếp núi sông
Cò bay thẳng cánh nối đồng không
Có người bảo Huế xa, xa lắm
Nhưng Huế quê tôi ở giữa lòng.
Mười một năm trời mang Huế theo
Đèo cao nắng tắt bóng cheo leo
Giọng hò mái đẩy vờn mây núi
Man mát sông Hương lướt đỉnh đèo
Tôi gặp bao người xứ Huế xa
Đèn khuya thức mãi chí xông pha
Mở đường giải phóng về quê mẹ
Dựng khắp non sông bóng xóm nhà
Có bao người Huế không về nữa.
Gửi đá ven rừng chép chiến công
Có mồ liệt sỹ nâng lòng đất.
Buồm phá Tam Giang gió thổi lồng.
Nặng trĩu trăm năm bóng cổ thành
Bao lần máu đỏ nhuộm đồng xanh
Cờ sao ngày ấy buồn cung cấm
Sông nước xôn xao núi chuyển mình
- Nhà văn Nguyễn Khải, nhân nói về việc làm thơ quá ít và không mấy hiệu quả của Thanh
Tịnh, đã cho rằng: "Văn chương đối với anh chưa phải là niềm say mê nhất, anh chưa hết
lòng phục vụ nó, sống vì nó. Anh có quá nhiều sự đam mê. Nghề dạy học cũng là một cái mê,
nghề hướng dẫn du lịch cũng rất mê, làm báo cũng mê, biểu diễn độc tấu và đóng kịch hình
như anh mê hơn cả" (sách "Nghề văn cũng lắm công phu" - NXB Trẻ, 2003)
- Tố Hữu - tác giả hai tập trường ca "Bài thơ Hắc Hải" và "Theo chân Bác", đều viết về đề
tài lãnh tụ, tập trường ca của Thanh Tịnh quá nệ vào hiện thực, kể chuyện tỉ mỉ kiểu con cà
con kê, thiếu sự thăng hoa làm say lòng người đọc. Tuy thể thơ được dùng là lục bát song
Thanh Tịnh còn để lọt nhiều câu non lép, chất thơ không vang.