CƠ CHẾ ỦY QUYỀN VÀ GIÁM SÁT CÁC ĐẠI DIỆN TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 43

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA CHÍNH TRỊ HỌC

TIỂU LUẬN
Môn: Quyền lực Chính trị

ĐỀ TÀI: CƠ CHẾ ỦY QUYỀN VÀ GIÁM SÁT
CÁC ĐẠI DIỆN TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG - THỰC
TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Học viện thực hiện: Nguyễn Thị Hòa

Hà Nội - 2016
1


CƠ CHẾ ỦY QUYỀN VÀ GIÁM SÁT
CÁC ĐẠI DIỆN - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
TS. Lưu Văn Quảng
Viện Chính trị học
I. CƠ CHẾ ỦY QUYỀN VÀ GIÁM SÁT CÁC ĐẠI DIỆN NHƯ LÀ
CÁCH THỨC ĐỂ NGƯỜI DÂN PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG
Trong các nhà nước dân chủ hiện đại, quyền lực nhà nước không phải là
quyền lực tự thân, mà là quyền lực do người dân uỷ nhiệm thông qua các cuộc
bầu cử.
Với tư cách là những người nhận được quyền lực được uỷ nhiệm, những
người được uỷ quyền cần phải nhận thức được vị trí của họ trong mối quan hệ
với người dân, phải hành động theo cách mà người dân mong đợi. Trong trường
hợp những người được uỷ quyền không làm tròn bổn phận, có hành vi lạm dụng

tham nhũng cũng cao hơn. Đối với bộ máy nhà nước, nguy cơ xảy ra tham nhũng
lại càng cao, bởi vì bên sở hữu quyền lực gốc (người dân, các cử tri) và bên quản
lý quyền lực được ủy nhiệm (các nhà chính trị, các công chức trong bộ máy) – do
những yếu tố đặc thù có sự độc lập, sự tách biệt khá lớn.1
Tham nhũng thường liên quan đến việc sử dụng quyền lực công, tức là
quyền lực không phải tự người đó có, mà do được người dân ủy nhiệm. Như vậy,
có thể nói, sự ủy quyền và tham nhũng là hai mặt của một vấn đề. Nếu không có
ủy quyền sẽ không thể xuất hiện tham nhũng. Đây có thể được xem là các hiện
tượng mang tính nhân quả, bởi những vấn đề mang tính cấu trúc của mối quan hệ
này.
- Thứ nhất, đây chính là hệ quả của mối quan hệ giữa quyền lực gián đoạn
của người dân với tư cách là người sở hữu quyền lực gốc với các công chức trong bộ
máy nhà nước với tư cách là người được ủy quyền – những người sẽ nắm giữ quyền
lực một cách liên tục trong suốt nhiệm kỳ, hoặc thời gian bổ nhiệm. Khi phát hiện
những người đại diện của mình sử dụng quyền lực không đúng với mong đợi, người
dân phải đợi đến cuộc bầu cử lần sau để dùng lá phiếu phế truất người được bầu,
1

Xem: Nguyễn Quang A (2005), Tham nhũng và cạnh tranh,

3


hoặc tiến hành các thủ tục bãi miễn. Tuy nhiên, đây là một việc làm khó khăn và tốn
kém, và cơ hội thành công cũng không nhiều, nếu người dân không liên kết thành
những cộng đồng có tiếng nói thống nhất.
- Thứ hai, những người được ủy quyền luôn có động cơ theo đuổi những
lợi ích của cá nhân mình khi sử dụng quyền lực công. Khi lợi ích cá nhân không
trùng với lợi ích của cộng đồng, lợi ích của những người đã ủy nhiệm quyền lực,
sẽ xuất hiện những xung đột, và thường thì người cầm quyền sẽ lựa chọn phương

với những người mà người dân có rất ít thông tin. Tất nhiên, một người đến thời
điểm được bầu được cho là người tốt, trung thực, luôn hành động vì lợi ích công,
cũng không phải là đảm bảo chắc chắn rằng anh ta sẽ hành động tương tự khi
nhận lãnh một vai trò mới với tư cách là người đại diện. Khả năng xấu vẫn có thể
xảy ra, nhưng ít nhất xác suất sẽ thấp hơn nhiều so với một người đã từng có
“thành tích” lạm dụng quyền lực công, hoặc có hành vi gây hại cho cộng đồng.
Sau khi được bầu, các đại diện sẽ tiếp tục chịu sự giám sát của người dân thông
qua các phương thức khác nhau. Nếu họ không đảm nhận tốt vị trí đại diện, có
hành vi lạm quyền, tham nhũng, họ có thể sẽ bị bãi miễn khỏi chức vụ đang nắm
giữ.
Như vậy, thông qua cơ chế ủy quyền và giám sát quyền lực, người dân có
kiểm soát được các hành vi lạm quyền, tham nhũng của các đại diện. Nếu có một
cơ chế ủy quyền và giám sát quyền lực được ủy nhiệm tốt sẽ giảm thiểu được
nguy cơ tham nhũng của các đại diện.
II. THỰC TRẠNG NGƯỜI DÂN PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG
THÔNG QUA CƠ CHẾ ỦY QUYỀN VÀ GIÁM SÁT CÁC ĐẠI DIỆN
2.1. Sự tham gia phòng, chống tham nhũng của người dân thông qua
cơ chế ủy quyền
Có thể nói, một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng tham nhũng
trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng là cơ chế ủy quyền chưa được
thiết kế một cách hợp lý. Hình thức ủy quyền ở đây có thể được xem xét từ hai
góc độ: (1) người dân trực tiếp lựa chọn các đại diện thông qua các cuộc bầu cử;
và (2) người dân lựa chọn một cách gián tiếp các công chức trong bộ máy thông
qua hệ thống tuyển dụng cán bộ.
Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để người dân có thể lựa chọn được
những người “có tài” - có khả năng biểu đạt lợi ích của nhân dân, thay mặt nhân
dân đưa ra những quyết định “đúng” và vừa có “đức” – sẽ không sử dụng quyền
lực công phục vụ cho mục đích cá nhân, không tham nhũng? Ở đây xuất hiện
vấn đề “bất đối xứng thông tin” giữa người ủy quyền và người được ủy quyền.
Chỉ các ứng cử viên mới biết rõ họ là ai? Khả năng của họ đến đâu? Họ có thể

nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng trong mỗi thời kỳ. Các cuộc bầu cử cũng cho
phép nhân dân thể hiện quyền dân chủ thông qua lá phiếu lựa chọn người đại diện
vào các cơ quan quyền lực nhà nước.

6


Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, công
tác bầu cử ở nước ta vẫn còn tồn tại những hạn chế, chưa hoàn toàn đảm bảo
được quyền dân chủ của người dân trong việc lựa chọn những người đại diện
cũng như giám sát quyền lực đã uỷ nhiệm. Các biểu hiện của tình trạng dân chủ
hình thức trong quá trình bầu cử, từ khâu giới thiệu ứng cử viên, tiếp xúc cử tri
đến khâu bỏ phiếu vẫn diễn ra. Quá trình hiệp thương bầu cử còn nặng về hợp
thức hoá sự chỉ đạo, định hướng từ cấp trên, nên có thể có người được bầu mà
chưa thực sự xứng đáng, chưa phát huy được tính tích cực chính trị của người
dân.
Do vấn đề cơ cấu thành phần các đại biểu trong quốc hội và các cơ quan
dân cử, nên các cuộc bầu cử quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta
hiện vẫn chưa thực sự thể hiện được tính dân chủ và tính cạnh tranh. Theo quy
định của luật bầu cử, danh sách ứng cử viên phải nhiều hơn số người được bầu,
nhưng nhiều hơn bao nhiêu lại không được lượng hoá khiến cho việc vận dụng
tại mỗi địa phương không có sự thống nhất. Việc áp dụng hình thức đơn vị bầu
cử đa đại diện để bầu ra các đại biểu quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp
cũng bộc lộ những khuyết điểm, đặc biệt là vấn đề trách nhiệm của đại biểu
trước cử tri.
Ở nước ta hiện nay, việc tuyên truyền vận động bầu cử còn hạn chế cả về
nội dung và hình thức. Các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài phát
thanh, đài truyền hình… chủ yếu mới dừng lại ở mức độ tuyên truyền, phổ biến
pháp luật về bầu cử cho nhân dân, chứ ít quan tâm đến việc cung cấp thông tin
về các ứng cử viên. 3 Những thông tin chính thức được cơ quan phụ trách bầu cử

“trả ơn” những người đã có tiếng nói quyết định trong việc đưa họ vào các cơ
cấu. Do thiếu áp lực của “người chủ”, nên người đại diện cũng thiếu động cơ
hành động vì lợi ích chung. Đây cũng là một lý do giải thích tại sao trước những
bức xúc của người dân đối với tình trạng tham nhũng, một số quan chức được
bầu lại tỏ ra “thiếu quyết tâm chính trị” trong việc áp dụng các biện pháp phòng
chống tham nhũng.
2.1.2. Hệ thống tuyển dụng công chức:
Đối với hệ thống tuyển dụng công chức, các yêu cầu như tính công khai,
minh bạch, cạnh tranh bình đẳng giữa các ứng cử viên, tính khách quan của hội
đồng tuyển chọn …cũng là khá hiển nhiên. Những quy tắc này làm hạn chế thấp
nhất khả năng chọn nhầm người vào các vị trí quyền lực, và do vậy, có thể giảm

8


thiểu khả năng rủi ro những người được tuyển lựa có thể tham nhũng trong tương
lai.
Từ các nguyên tắc trên nhìn vào cách thức tuyển dụng cán bộ, công chức ở
nước ta cho thấy, chúng ta đang phải đối mặt với nhiều vấn đề cần giải quyết.
Tình trạng các công chức bộ máy nhà nước cố ý làm sai, dùng quyền lực công
vào các mục đích riêng, trục lợi, tham nhũng được nhiều nghiên cứu đánh giá là
khá nghiêm trọng và mang tính hệ thống. Điều này có thể do một số nguyên nhân
cụ thể:
- Cơ chế tuyển lựa công chức theo nhiệm kỳ “suốt đời”: Ở nước ta, đã
thành lệ, khi một người được tuyển vào biên chế có nghĩa là anh ta có thể yên
tâm công tác suốt đời. Trừ trường hợp phải chịu kỷ luật hay truy tố, còn thì hiếm
khi xảy ra chuyện người này bị sa thải. Nhưng vấn đề còn ở chỗ, để chuyển từ
ngạch bậc thấp lên một ngạch bậc cao hơn, một người thường phải trải qua một
kỳ thi, mà dường như những nội dung thi chẳng mấy có liên quan đến công việc
mà anh ta đang và sẽ phải làm sau khi vượt qua kỳ thi. Và thường thì dù là ngạch

động cơ lạm quyền, tham nhũng cũng điều có thể hiểu được. Do phải bỏ ra một
khoản tiền lớn để mua cơ hội vào làm việc trong bộ máy, nên khi trở thành công
chức, họ sẽ tìm cách để “thu hồi vốn” đối với khoản “đầu tư” ban đầu, và sau đó
là phải có lãi để “tái đầu tư” ở những cuộc thi tuyển cao hơn.
Trên thực tế, vai trò của người dân trong quá trình phòng, chống tham
nhũng thông qua cơ chế ủy quyền là tương đối hạn chế do các quy định hiện tại
của chế độ bầu cử và tuyển dụng công chức chưa được được thiết kế một cách
thực sự khách quan và khoa học. Người dân với tư cách là chủ thể gốc của quyền
lực nhà nước không có nhiều lựa chọn khi dùng lá phiếu để quyết định ai sẽ là
người đại diện cho mình.
2.2. Giám sát quyền lực của các đại diện và các điều kiện để người dân
thực hiện sự giám sát nhằm ngăn ngừa nguy cơ tham nhũng
Trong một xã hội dân chủ, người dân sau khi đã uỷ nhiệm quyền lực cho
các đại diện có quyền được biết những người họ đang thực thi quyền lực của
mình như thế nào. Thường thì các công dân bao giờ cũng mong đợi các công
chức được bầu, được lựa chọn làm việc trong bộ máy nhà nước sẽ hoạt động vì
lợi ích của toàn dân. Người dân cũng sẽ hy vọng rằng, các công chức sẽ không sử
dụng quyền lực của mình để làm lợi cho bản thân giới lãnh đạo, các quan chức
10


đang làm việc trong bộ máy, hoặc là làm lợi các nhóm lợi ích đặc biệt nào đó với
sự trả giá của đông đảo các công dân.
Có hai điều kiện để người dân giám sát quyền lực được ủy nhiệm là: (1)
Bộ máy nhà nước phải công khai, minh bạch trong các hoạt động của mình; và
(2) Người dân có thể phế truất những người đại diện không đủ năng lực hoặc bị
tha hóa, biến chất.
+ Công khai minh bạch trong hoạt động của bộ máy nhà nước là một
điều kiện để người dân giám sát quyền lực của các đại diện:
Để tạo điều kiện cho người dân giám sát quyền lực của các đại diện cần

tham nhũng cũng sẽ bị đẩy lùi tới đó. Trong quá trình này, việc tạo điều kiện cho
các công dân được tiếp cận với hồ sơ của chính quyền cũng là yếu tố quan trọng
của việc bảo vệ quyền tự do của người dân. Những quy định này là điều kiện cần
thiết để thúc đẩy quá trình công khai, minh bạch.
Một thách thức có thể dự báo đối với quá trình công khai, minh bạch các
hoạt động của bộ máy nhà nước, đó là động cơ để các công chức nhà nước bưng
bít thông tin là rất lớn, và cơ hội để họ vi phạm bất kỳ quy định nào về việc cung
cấp thông tin cũng không hề nhỏ.
Ở nước ta trong thời gian qua, chúng ta đã tiến hành các cải cách hành
chính, đặc biệt là các thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho người dân giám sát
các hoạt động của các công chức nhà nước. Trên cơ sở xác định công khai, minh
bạch là trụ cột đặc biệt quan trọng trong công tác phòng, chống tham nhũng, tạo
điều kiện cho người dân giám sát bộ máy nhà nước, Chính phủ đã ban hành Luật
phòng chống tham nhũng và nhiều quy định pháp luật về vấn đề này. Luật phòng,
chống tham nhũng năm 2005 là đạo luật quy định một cách đầy đủ, hệ thống và
toàn diện nhất về vấn đề công khai, minh bạch từ trước tới nay.
Về nội dung cần công khai, minh bạch trong các hoạt động của cơ quan, tổ
chức, đơn vị, Luật quy định “cơ quan, tổ chức, đơn vị phải công khai hoạt động
của mình, trừ nội dung thuộc bí mật nhà nước và những nội dung khác theo quy
định của chính phủ” (Điều 11).
Ngoài việc nêu các nguyên tắc quy định nội dung, hình thức đảm bảo công
khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị nói chung, Luật
phòng, chống tham nhũng quy định cụ thể về công khai, minh bạch trong một số
lĩnh vực mà thực tế cho thấy xảy ra nhiều hành vi tham nhũng gây thất thoát lớn
12


về tiền, tài sản của nhà nước cũng như tồn tại nhiều sự phiền hà, sách nhiễu, đòi
hối lộ từ phía công chức nhà nước.
Các lĩnh vực phải công khai, minh bạch (từ Điều 13 dến Điều 30) như:

người dân là kín, trong khi lá phiếu của những người được ủy quyền khi đưa ra
các quyết định chính sách cần phải được công khai để người dân được biết, để
kiểm soát xem những người đại diện có thực hiện những điều họ đã hứa khi vận
động bầu cử hay không, và họ có đưa ra quyết định dựa trên lợi ích của người dân
hay không.
Ở nước ta hiện nay hồ sơ phát biểu, tranh luận của đại biểu quốc hội vẫn
chưa được chú ý đúng mức, và người dân cũng chưa có điều kiện để tiếp cận với
các nguồn tài liệu liên quan đến vấn đề này.
Trong trường hợp người dân nhận thấy những người đại diện đưa ra các
quyết định đi ngược lại mong đợi của họ, phạm những sai lầm nghiêm trọng, sử
dụng quyền lực công sai mục đích, người dân có thể sử dụng quyền bãi nhiệm
các đại diện. Ở nước ta, quyền này của người dân đã được ghi nhận trong Hiến
pháp. Theo điều 7 của Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001 thì: “Đại
biểu Quốc hội bị cử tri hoặc Quốc hội bãi nhiệm và đại biểu Hội đồng nhân dân
bị cử tri hoặc Hội đồng nhân dân bãi nhiệm khi đại biểu đó không còn xứng đáng
với sự tín nhiệm của nhân dân”.
Tuy nhiên, cho đến nay, các thủ tục để người dân thực hiện quyền bãi nhiệm
các đại diện vẫn chưa rõ ràng và cụ thể. Theo quy định, cử tri bãi nhiệm đại biểu quốc
hội chỉ khi có đề nghị của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cách
thức lại do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định. Nhưng những quy định cụ thể
như thế nào thì vẫn chưa được làm rõ. Với các quy định còn chung chung như vậy,
người dân vẫn chưa thể thực hiện được quyền hiến định của mình, và trong một số
trường hợp, có những đại diện không còn đủ tư cách nhờ đó vẫn tiếp tục nắm giữ các
cương vị quyền lực cho dù người dân không còn tín nhiệm họ nữa.
III. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC NGƯỜI DÂN THỰC
HIỆN PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG THÔNG QUA CƠ CHẾ ỦY QUYỀN
VÀ GIÁM SÁT CÁC ĐẠI DIỆN
Có thể nói, sự tham gia phòng chống tham nhũng của người dân thông qua
cơ chế ủy quyền ở nước ta cũng đang xuất hiện một số nan giải. Những vấn đề
này xuất hiện cả trong cơ chế ủy quyền và giám sát quyền lực của nhân dân.

- Về cơ chế tuyển dụng và đề bạt cán bộ:
Cách thức tuyển lựa công chức cho các cơ quan nhà nước hiện nay vẫn
chưa thực sự khoa học, thiếu tính công khai, minh bạch, nên chưa chắc đã chọn
được những người giỏi làm việc cho bộ máy.
Ngoài ra, hệ thống thể chế chưa gắn quyền lực với trách nhiệm cá nhân của
người cầm quyền, chưa vạch ra được những giới hạn và trách nhiệm cụ thể của
15


người sử dụng quyền lực. Thực tế này dẫn đến việc người có quyền lạm dụng
quyền lực, tham nhũng, nhưng khi bị phát hiện và xử lý họ lại đổ lỗi cho cơ chế,
cho tập thể.
3.2. Đối với cơ chế giám sát và phế truất đại diện:
Về mặt pháp lý các quyền của dân trong việc giám sát các chủ thể quyền
lực chưa được xác định một cách rõ ràng. Các điều luật thường chỉ đưa ra những
điều khoản chung chung rằng, người dân có quyền này, nhưng làm thế nào để
thực hiện quyền đó, các thủ tục tiến hành ra sao lại chưa được cụ thể hóa. Do vậy,
trên thực tế, nhiều quyền theo luật định người dân chưa thể thực hiện.
Như chúng ta đã biết, các hoạt động giám sát người đại diện đều phải chi
phí. Trong trường hợp người dân tự mình thực hiện việc giám sát, cũng đồng
nghĩa với việc họ phải tự bỏ tiền bạc và công sức của mình cho hoạt động này. Ở
đây xuất hiện vấn đề “kẻ ăn theo” (Free - rider). Nếu việc giám sát thành công,
lợi ích của hành vi giám sát sẽ được người dân cả nước, hoặc một khu vực bầu cử
nào đó cùng hưởng, nhưng chi phí thì chỉ một mình cá nhân công dân tham gia
phải gánh chịu. Xét từ góc độ lý thuyết, những người “vác tù và hàng tổng” như
vậy sẽ không nhiều, và đa số người dân sẽ chọn cách “khoanh tay đứng nhìn”
thay vì phải hành động, vì ai cũng chờ đợi người khác làm, nếu thành công thì
mình ăn theo. Do vậy, về dài hạn, sự giám sát của người dân đối với các đại diện
cần được tập hợp trong các tổ chức để các thành viên cùng chia sẻ chi phí, và
cũng làm tăng thêm tính hiệu quả của hoạt động tập thể.

Để có thể tiến hành các cuộc bầu cử dân chủ thực sự, chúng ta cũng cần
có một quy chế rõ ràng và công khai về qui trình giới thiệu nhân sự. Các quy
chế này tạo điều kiện cho những người có khả năng có thể tự ứng cử và trúng cử
nếu họ được người dân lựa chọn.
- Áp dụng hình thức đơn vị bầu cử một đại diện
Trong điều kiện một đảng cầm quyền như ở nước ta, bên cạnh việc đổi
mới hình thức đơn vị bầu cử đa đại diện hiện có theo hướng dân chủ, trong một
phương án xa hơn, chúng ta cần tính đến việc chuyển sang sử dụng một hình
thức bầu cử phù hợp hơn với điều kiện thực tế của đất nước. Một trong những
lựa chọn khả dĩ là hình thức đơn vị bầu cử một đại diện, theo đa số hai vòng.
Đây cũng là một biện pháp để tăng cường khả năng lựa chọn của người dân và
tính trách nhiệm của những người được bầu. Phương pháp này sẽ làm cho tính
17


cạnh tranh của các ứng cử viên trong một đơn vị bầu cử được thể hiện một cách
rõ nét.4
- Đổi mới phương thức vận động bầu cử, tiếp xúc cử tri
Làm thế nào để cử tri có thể tiếp cận được với các thông tin trung thực,
chính xác, khách quan về các ứng cử viên?
Cần áp dụng các biện pháp sau: (1) Nghiên cứu cơ chế cho phép các ứng
cử viên được vận động bầu cử trong một khuôn khổ nhất định; (2) Các phương
tiện thông tin đại chúng cần có vai trò tích cực hơn trong quá trình bầu cử, đặc
biệt là trong việc cung cấp thông tin về các ứng cử viên; (3) Tăng cường sự đối
thoại trực tiếp giữa ứng cử viên với cử tri; xoá bỏ tình trạng gặp gỡ “đại diện cử
tri” vốn diễn ra một cách khá phổ biến như hiện nay; (4) Ứng cử viên đại biểu
quốc hội cần đầu tư thời gian và trí tuệ cho việc xây dựng chương trình hành
động của mình.
- Chống gian lận, bệnh hình thức trong bầu cử
Để khắc phục hiện tượng này, chúng ta có thể áp dụng một số giải pháp sau:

làm) và làm cho công chức luôn luôn đứng trước ‘áp lực” phải tích cực hoàn
thành trách nhiệm, đề cao đạo đức công vụ.
Cần phải sửa đổi pháp lệnh cán bộ công chức theo hướng không tuyển
dụng suốt đời mà thực hiện chế độ hợp đồng lao động linh họat đối với đội ngũ
công chức để có cơ chế, chính sách quản lý mang lại hiệu quả cao. Cụ thể, pháp
lệnh công chức ở nước ta nên được sửa đổi theo hướng công chức phải ký hợp
đồng lao động, cho phép thủ trưởng cơ quan chấm dứt hợp đồng nếu công chức
mắc khuyết điểm trong công tác, hoặc không đủ năng lực thực thi công việc. Đây
là việc làm có ý nghĩa quyết định, nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ công
chức nói chung, góp phần đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính và chống
tham nhũng.
Do phải làm việc trong một môi trường “mở” và mang tính cạnh tranh, nên
các công chức phải thường xuyên nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu công
việc một cách tốt nhất. Không ai có thể chắc chắn rằng, một khi đã được tuyển
dụng vào làm việc trong bộ máy thì sẽ được giữ vị trí đó mãi mãi, suốt đời. Nếu
không nỗ lực vươn lên, không vượt qua được các thử thách của những kỳ thi
tuyển, thì người đó có thể bị những người xuất sắc hơn thế chỗ. Môi trường đó sẽ
tạo ra một sự thay đổi hết sức năng động, tạo ra một cơ chế “sàng lọc”, giúp chọn
được những người có tài năng thực sự.
Việc xây dựng được các tiêu chí cho các vị trí công việc cũng có ý nghĩa
quan trọng, theo đó việc thiết kế mỗi chức vụ có độ khó, độ rộng xác định đối với
mỗi công việc; độ rộng để tạo cho công việc của mỗi chức vụ có nội hàm tương
19


đối rộng khuyến khích mọi người phấn đấu. Những người được đề cử cần phải có
dự án, chương trình hành động đối với công việc sẽ đảm nhiệm; công bố công
khai để mọi người so sánh, lựa chọn.
- Minh bạch hóa việc bổ nhiệm cán bộ
Có thể nói, hoạt động tuyển chọn và bổ nhiệm cán bộ là cơ sở ban đầu để

định trách nhiệm của người giới thiệu, đề bạt cán bộ cũng là công việc quan trọng
để nâng cao chất lượng công tác cán bộ.
4.3.Về các điều kiện cho người dân thực hiện quyền giám sát các đại
diện và thực hiện quyền bãi nhiệm các đại diện
Cần nhấn mạnh rằng, để chống tham nhũng một cách hiệu quả, điều quan
trọng nhất vẫn là phải thiết kế một cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các chủ thể
trong bộ máy nhà nước. Bởi vì, chỉ nhà nước mới có độc quyền cưỡng chế hợp
pháp và mới đủ sức mạnh và nguồn lực để vô hiệu hóa các hành vi tham nhũng
của các công chức trong chính bộ máy của mình. Sự tham gia của người dân
thông qua các kênh khác nhau dù là quan trọng, cũng chỉ có ý nghĩa bổ sung cho
sự giám sát giữa các cơ quan quyền lực nhà nước, chứ nó không mang tính quyết
định.
- Về cơ chế giám sát các đại diện: Để tạo điều kiện cho người dân tham
gia phòng, chống tham nhũng một cách hiệu quả, cần xây dựng những cơ chế nền
tảng để họ có thể thực hiện quyền giám sát của mình đối với các đại diện. Các
giải pháp cụ thể cần xem xét có thể như sau:
- Ban hành Luật về tự do thông tin: Như đã phân tích, giữa người dân và các
công chức trong bộ máy nhà nước luôn có sự “bất đối xứng thông tin”. Chính sự
khác biệt này tạo nên những lợi ích “độc quyền” cho các công chức trong bộ máy
và do đó làm tăng chi phí kiểm soát, giám sát của người dân. Để giảm bớt sự bất
cân xứng này phải thiết lập những quy định, luật lệ để tăng cường sự minh bạch,
công khai về thông tin, cũng như hoạt động của bộ máy nhà nước.
Luật về tự do thông tin cần phải quy định rõ các loại thông tin được công
khai, theo đó chỉ những thông tin thuộc bí mật nhà nước ảnh hưởng đến an ninh,
quốc phòng, bí mật đời tư, bí mật kinh doanh là miễn trừ tiết lộ. Người dân có
quyền tiếp cận tất cả các loại thông tin không thuộc phạm vi miễn trừ và tương
ứng với nó là quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan nhà nước phải cung cấp
thông tin. Nhà nước phải tạo ra hành lang pháp lý rõ ràng, đồng bộ. Đó là những
21



22


động của bộ máy nhà nước nói chung. Cần có một quy chế cung cấp thông tin,
đặc biệt là những thông tin liên quan đến các vụ án tham nhũng.
- Xây dựng Luật bảo vệ người chống tiêu cực, tham nhũng. Luật này khuyến
khích người dân tố cáo các hành vi sai trái, tham nhũng của các đại diện, các
công chức trong bộ máy. Hệ thống bảo mật thông tin cần được thiết lập, trong đó
cần phải đảm bảo rằng, cơ quan phòng, chống tham nhũng sẽ không tiết lộ bí mật
về người đã cung cấp tin, có các biện pháp bảo vệ khi họ gặp nguy hiểm do các
hành vi trả thù từ phía những người bị tố cáo.
- Củng cố các nền tảng cần thiết để chống tham nhũng như xây dựng cơ chế
đăng ký và công khai tài sản của quan chức chính phủ. Đối với các chức danh
này cần có sự kiểm tra, giám sát tài sản thường xuyên, khi cần thiết họ phải có
trách nhiệm giải trình, cung cấp các bằng chứng về sở hữu tài sản bất minh. Họ
phải giúp các cơ quan chức năng chứng minh được sự trong sạch của bản thân.
- Hạn chế thanh toán bằng tiền mặt, kiểm soát các tài khoản ngân hàng
cũng khiến cho các tài khoản đen (giả danh), các quỹ đen, tiền hối lộ dễ bị phát
hiện hơn.
- Về cơ chế bãi nhiệm:
Cơ chế ủy quyền và cơ chế bãi nhiệm quyền lực luôn phải gắn bó với
nhau. Người dân sử dụng lá phiếu của mình để lựa chọn các đại diện, nhưng
họ cũng có thể thực hiện quyền bãi miễn các đại diện khi những người này
không thể hiện được vai trò của mình, hoặc có các hành vi lạm quyền, tham
nhũng, đi ngược lại với lợi ích của người chủ. Ở cấp cao nhất, chúng ta cần có
quy định rõ ràng về các thủ tục bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với Chính phủ khi
cơ quan này hoạt động kém hiệu quả, nhằm tạo ra một sự nhất quán đối với hệ
thống ủy quyền.
Hiện ở nước ta đã có những quy định về vấn đề này, nhưng trên thực tế,

Xem: Ngô Huy Đức (2008), Hiệu quả chống tham nhũng qua khảo sát mô hình một số nước trên thế
giới, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: “Nhận diện tham nhũng và các giải pháp phòng chống tham nhũng ở Việt
Nam hiện nay”, PGS, TSKH Phan Xuân Sơn (Chủ nhiệm)

24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status