TIỂU LUẬN
TIỂU LUẬN
Đề ba
̀
i :
CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI NGHÈO VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Hà nội - 2011
2
MỤC LỤC
HỆ THỐNG CÁC TỪ VIẾT TẮT......................................................................3
1. Chăm sóc sức khỏe cho người nghèo và những thách thức đặt ra cho các
hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người nghèo..................................................4
2. Vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người nghèo hiện nay....................................7
3. Một số giải pháp về chính sách cho vấn đề CSSK người nghèo...................12
3.1 Những khó khăn trong việc thay đổi chính sách chăm sóc sức khỏe cho
người nghèo...................................................................................................12
3.2 Một vài giải pháp về chính sách CSSK cho người nghèo.......................15
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................20
HỆ THỐNG CÁC TỪ VIẾT TẮT
CSSK Chăm sóc sức khỏe
KCB Khám chữa bệnh
BHYT Bảo hiểm y tế
3
1. Chăm sóc sức khỏe cho người nghèo và những thách thức đặt ra
cho các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người nghèo
Ngành y tế Việt Nam từ khi thành lập đến nay đã chủ trương định hướng
phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Định hướng này góp phần xứng
y tế chống hiện tượng tiêu cực. Nỗ lực duy trì hoạt động bình thường của hệ
thống y tế chính là nhằm thực hiện CSSK nhân dân và định hướng phòng bệnh.
Biện pháp để thực hiện các mục tiêu này dựa vào chủ trương đa dạng hoá và xã
hội hoá (huy động xã hội ) công tác y tế.
Năm 1989, Bộ Y tế đưa ra quyết định thu một phần viện phí để duy trì
hoạt động thường xuyên của các cơ sở y tế và cho phép hành nghề y dược tư
nhân để đáp ứng yêu cầu CSSK đa dạng. Việc thu một phần viện phí cho KCB
cũng giúp ngành y tế có thêm Ngân sách Nhà nước thực hiện các mục tiêu
phòng bệnh. Mặt khác, Nhà nước cũng đã có nhiều chủ trương để duy trì hệ
thống Trạm y tế xã, trong đó có những nỗ lực bảo đảm lương cho cán bộ y tế
xã Phí thu được tại các bệnh viện được dành 1 phần (25% - 30 %) làm tiền
thưởng cho cán bộ y tế, nâng cao đời sống của cán bộ y tế. Cũng trong tinh
thần huy động thêm nguồn lực cho y tế, Bảo hiểm y tế được xây dựng vào năm
1993 .
Tuy nhiên, việc thu một phần viện phí, thực hiện Bảo hiểm y tế và phát
triển y tế tư nhân ngoài mặt tích cực là huy động thêm nguồn lực cho y tế, còn
có những khía cạnh phải giải quyết như KCB cho người nghèo không có Bảo
hiểm y tế không có tiền trả viện phí tại cơ sở y tế công cũng như tư, hay việc
khám chữa bệnh thiếu chất lượng, dùng thuốc và xét nghiệm không hợp lý vì
lợi ích của người cung ứng.
5
Như vậy, những năm đầu đổi mới đã đặt ra nhiều vấn đề y tế công cộng,
trong đó còn có vấn đề y học dự phòng, vấn đề dịch tễ qúa độ, vấn đề nâng cao
sức khoẻ…
Hiện nay, Việt Nam vẫn đang tiếp tục thực hiện chương trình xóa đói
giảm nghèo một cách nhanh chóng và hiệu quả. Riêng ngành y tế cũng đã và
đang góp phần vào quá trình nâng cao chất lượng cuộc sống bằng cách thực
hiện một số cải cách quan trọng nhằm phát triển chất lượng các dịch vụ.
Đề cập đến vấn đề này, nhân ngày Thầy Thuốc Việt Nam 27-2, Thủ
Tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã nói chuyện với các giáo sư, bác sĩ,
người nghèo càng khó khăn hơn trong KCB. Thậm chí ở Việt Nam hiện nay
khi ốm đau nếu không có tiền mua thuốc chỉ có chết, có người còn đi đến kết
luận là y tế hiện nay phục vụ người giàu, người có tiền. Câu trả lời là hệ thống
y tế Việt Nam bây giờ cũng như trước đây luôn luôn đảm bảo công tác chăm
sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, mọi người dân đều được chăm sóc thiết yếu,
được KCB khi cần thiết. Vấn đề ở đây là công bằng hay ngang bằng, bình đẳng
trong CSSK.
Lý tưởng nhất là một hệ thống y tế bảo đảm CSSK ngang bằng (bình
đẳng) cho mọi người, ai cần thiết chăm sóc đến đâu sẽ được chăm sóc đến đó,
mọi người được CSSK, được KCB với chất lượng và hiệu quả cao, không mất
tiền. Tuy nhiên, vẫn đề đặt ra là trong xã hội có sự phân tầng kinh tế khác
nhau, có nhóm nghèo, nhóm trung bình và nhóm giàu, trong những nhóm đó,
người giàu dễ dàng có thể tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cao, trong
trường hợp nguồn lực y tế trong nước không thể chữa trị được họ có thể tự chi
phí để ra nước ngoài, đối với những người nghèo, nhà nước khó có thể đài thọ
họ làm được việc này. Nhà nước chỉ thực hiện được điều này khi nguồn lực dồi
dào, quỹ phúc lợi xã hội lớn, chính vì vậy, để làm được điều đó cần thực hiện
các bước trung gian để đi đến mục tiêu này.
7
Kinh nghiệm của Việt Nam trước đây, một hệ thống y tế bao cấp bình
đẳng, CSSK cho mọi người trong một nền kinh tế phát triển thấp với ngân sách
y tế thấp chỉ có được các dịch vụ CSSK và KCB với chất lượng, hiệu quả thấp,
kỹ thuật y tế lạc hậu. Trong điều kiện hiện nay, người nghèo thường chỉ nhận
được các dịch vụ CSSK, KCB ở mức chi phí cho phép nếu chỉ có Nhà nước
bao cấp. Đổi mới y tế ở Việt Nam đã phải huy động thêm nguồn lực đóng góp
của xã hội thông qua viện phí, Bảo hiểm y tế và y tế tư nhân. Ngành y tế đã
được cải thiện hơn nhiều nhờ có sự đóng góp này. Chất lượng và hiệu qủa
KCB của các bệnh viện được tăng lên. Có điều là, điều kiện phục vụ khác nhau
giữa người có tiền và người không có tiền. Tuy nhiên, ngay người nghèo nhất
cũng được hưởng chất lượng và hiệu qủa chăm sóc tốt hơn do điều kiện phục