TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH TẾ NGOẠI
THƯƠNG.
PORE1GN
mHDl ƠNIVERSITY
/V*
KHÓA
LUẬN
TÓT
NGHIỆP
Đề tài:
HOẠT ĐỘNG BẢO
HIỂM
VÀ
TÁI
BẢO
HIỂM
HÀNG
HÓA
XUẤT
NHẬP KHẨU VẬN
CHUYÊN
BẰNG
ĐƯỜNG
BIÊN
ỏ VIỆT
VỀ BẢO HIỂM VÀ TÁI BẢO HIỂM
HÀNG
HOA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG
BIỂN
3
ì.
Lý
luận
chung về
BH
hàng hoa
XNK
vận chuyển bằng đường
biển
3
1.
Khái
niệm
3
2.
Sự
ra đời
và
vai
trò của
hoạt
động bảo
hiểm
hàng hoa
XNK
đường
biển
8
5. Rủi
ro
tổn
thất
trong
bảo
hiểm
hàng hóa
XNK
vận
chuyển
bằng
đường
biến
12
6.
Bồi
thường
tổn
thất
trong
bảo
hiểm
hàng hóa
XNK
vận
chuyển
hiểm
hàng hóa
XNK
vận
chuyển
bằng
đường
biển
17
3.
Các hình
thc
tái
bảo
hiểm
hàng hoa
XNK
vận
chuyển
bằng
đường
biển
21
3.1
Tái bảo hiếm
tuy
ý
lựa
chọn
21
theo tỉ
lệ
23
4.2
Tái
bảo hiểm
theo
mức
bồi
thường
hay
tái
bảo hiểm
phi
tỉ
lệ
25
4.3
Tái
bảo hiểm
kết
hợp
27
5.
Những
điểu
khoản
cơ
bản
trong
bảo
hiểm
hàng hóa
XNK
vận chuyển
bằng
đường
biển
và
doanh
thu
phí
29
2.
Tinh
hình
tổn
thắt
hàng
hóa
XNK
vận
chuyển
bằng
đường
biển
được
bảo
hiểm
31
động bảo
hiểm
và
tái
bảo
hiểm
hàng hoa
XNK
vận
chuyển
bằng
đường
biển
ở
Việt
nam 34
2.
Tổng
quan
về sự hình thành
và
hoạt
động
của
nghiệp
vụ bảo
hiểm
hàng hoa
XNK
vận chuyển
trên
thị
trường
ở
Việt
nam
hiện
nay
38
2.
Khả
năng
khai
thác
và
tỉ
trọng
hàng
hóa
XNK
vận chuyển
bằng
đường
biển
tham
gia
bảo
hiểm
trong
nước
bằng
đường
biển
toàn
thị
trường
48
IU.
Thực
trạng
Tái bảo
hiểm hàng
hoa XNK vận
chuyển bằng đường
biển
ở
Việt
nam
hiện
nay 53
Ì.
Sự
canh
tranh
trên
thị
trường
tái
bảo
hiểm
giọ
lại
trong
nước của
nghiệp
vụ
tái
bảo
hiểm
hàng
hóa
XNK
vận chuyển
bằng
đường
biển
57
3.1
Doanh
thu phí
58
3.2 Phí
giữ
lại
trong
nước 61
4.
Bồi
thường
và
VIỆT
NAM 66
ì.
Những
thuận
lợi
và khó khăn của
hoạt
đằng bảo
hiểm
và tái bảo
hiểm
hàng hoa XNK bằng đường
biển
ở
Việt
nam
hiện
nay 66
1.
Thuận
lợi
66
2.
Khó
khăn,
hạn
chế
68
li.
thiện
môi
trường
pháp
lí
72
/
.2
Kiểm
soát chặt
chẽ
hoạt
động của văn phòng
đại
diện
của các công
ty
bảo hiểm nước
ngoài
73
Ì
.3
Phát huy
vai trò
của Hiệp
hội
bảo hiềm 74
1.4
Một số
giải
79
2.4.
Đề phòng và hạn chế
tổn
tht
81
2.5.
Nâng cp hệ
thống thông
tin
82
2.6.
Một số
giải
pháp khác 83
Kết
luận
84
Tài
liệu
tham
khảo
LỜI
MỞ ĐẦU
Kinh tế thế
giới
đang
trong
xu
thế hội
ta
trong
những
năm gần đây
được
mỏ
rộng
cừ phạm
vi lẫn qui
mô. Kim
ngạch
xuất
nhập khẩu
không
ngừng
tăng
lên,
các kỹ
thuật
nghiệp
vụ
trong
hoạt
động
xuất
nhập khẩu
của
chúng
ta
cũng
lợi,
song
với
đặc
điểm
tự
nhiên của trái
đất
3/4 là
biển
nên vận
từi
bằng
đường
biển
vẫn
giữ vị trí
quan
trọng
và được
sử dụng
nhiều nhất,
chuyên chở
hơn 90%
kim ngạch
hàng hóa
xuất
nhập khẩu của
thế
giới.
biển.
Tuy
nhiên,
bên
cạnh
tính ưu
việt
của
nó
là
có
thể tổ
chức
được
nhiều
chuyến
hàng cùng lúc
cho
cừ
hai
chiều,
chuyên
chở
được
nhiều
hàng hóa có
khối
lượng
lớn,
nhiều
mát,
hư
hỏng là
không tránh
khỏi.
Điều
này
làm cho
hoạt
động bừo
hiểm
và
tái
bừo
hiểm
hàng hóa
xuất
nhập khẩu bằng
dường
biển
luôn luôn đòi
hỏi
có
sự
phát
triển
song
song,
mang
tính
nhập khẩu bằng đường
biển Việt
nam, em
nhận
thấy
đây là một vấn đề
rất
quan
trọng
mà các
doanh
nghiệp khi
tham
gia hoạt
Ì
động
ngoại
thương cần
quan
tâm để có
thể
tăng
hiệu quả,
giảm
thiểu
rủi
ro
trong
kinh
doanh
đường
biển
trong
nước nhằm
bựt
kịp
với thế
giói góp
phần
tăng
hiệu
quả của các chính
sách
kinh tế
ngoại
thương. Đề tài khóa
luận tốt
nghiệp
" Hoạt động bảo
hiểm và
tái
bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu hàng hóa vận chuyển ở
Việt
nam hiện nay" được sự hướng dẫn
tận
tình của PGS. TS Vũ Sĩ Tuấn hy
vọng
đã nói lên được
tổng
quan,
phẩn
sau:
- Chương ì: Tổng
quan
về bảo
hiểm
và tái bảo
hiểm
hàng hoa
xuất
nhập
khẩu
vận
chuyển
bằng
đường
biển.
- Chương
li:
Thực
trạng
hoạt
động bảo
hiểm
và tái bảo
hiểm
hàng hoa
xuất
nhập
khẩu
ở
Việt
Nam.
Em
xin
chân thành cảm ơn
thầy
giáo PGS. TS. Vũ Sĩ Tuấn đã
tận
tình
giảng
dạy,
hướng
dẫn,
giúp đỡ em hoàn thành khóa
luận
này.
Hà
Nội,
tháng 11 năm
2005.
Lê Thị Thanh
Trang.
2
Chương:
TONG
QUAN
VỀ BẢO HIỂM VÀ
TÁI
BẢO HIỂM
hiểm cho người tham
gia
bảo hiểm
trong
trường
hợp
xảy
ra
rủi
ro
thuộc
phạm
vi
bảo
hiểm
đối với
hàng hóa chuyên
chở
trên
biển
hoặc
trên
bộ,
trên sông liên
quan
đến hành trình
đường
biển, với
điều
kiện
trong
các
hình
thức
vận
tải
hàng hóa
ra đời
sớm
nhỉt.
Hoạt
động này đã
biết
đến và
diễn ra
khá
sôi
động
từ
nhiều
thế kỉ
trước.
Nhờ vào
những
đặc
điểm
riêng
về
tự
nhiên
Cách đây
nhiều
thế
kỷ vào
thời
Phoenician
và
Phodes,
các nhà buôn
đã
biết
sử
dụng
bảo
hiểm dưới
hình
thức
đồng
bảo hiểm
được
thực
hiện
giữa
các
chủ tàu
và
chủ
hàng,
để
bảo hiểm cho
của bảo
hiểm
hàng
hải.
Vào
thời
đó,
chủ tàu và
chủ
hàng
tự
thỏa
thuận
với
nhau rằng
nếu
tàu
ở
trong
tình
trạng
nguy hiểm buộc
phải
ném
hàng
xuống
biển
để cứu cả
con tàu, thì chủ
tàu và
này.
Đây
chỉ là
hình
thức
tự
bảo
hiểm của chủ
tàu và
chủ
hàng mà chưa
xuất
hiện
nhà
bảo hiểm.
Bảo
hiểm
hàng hóa XNK
bằng
đường
biển
ra đời
vào
thời
gian
nào,
như
thế
nào không
rõ.
sau đó phát
triển
sang
Anh.
Nước
Anh là nước có nền
ngoừi
thương phát
triển
nên bảo
hiểm
cũng
phát
triển
sớm và đầy đủ
hơn.
Ngay
từ thế kỉ
17,
Anh đã có mẫu đơn bảo
hiểm
tàu
và hàng
(LloycTs
SG
form)
vẫn được áp
dụng
cho đến ngày
nay.
ra đời
và
hoàn
thiện
hơn. Khi
các
tổ
chức,
các công
ty
bảo
hiểm
hàng hóa XNK
ra
đời,
loừi
hình
bảo hiểm
này chính
thức
tồn
từi
trên
thị
trường
bảo hiểm
thế
giới
như
một
trò
quan
trọng trong
ngành
bảo hiểm.
* Vai trò:
Như chúng
ta
đã
biết,
dịch
vụ
vận chuyển
nói
chung
và
vận chuyển
hàng
hóa XNK nói riêng ngày càng đóng
vai
trò
quan
trọng trong
thương mừi
quốc
tế.
Có
nhiều
phương
thức
với
biển
cũng
phải
thông qua
cảng
của nước khác để vận
chuyển
hàng hóa
bằng
đường
biển.
Bởi vì vận
chuyển
bằng
đường
biển
có
rất
nhiều
ưu
điểm:
-4-
- Có
thể
chuyên chở được
nhiều
hàng hóa có
khối
lượng
nguyên
vật
liằu,
sức
lao
động để xây
dựng.
- Góp
phần
phát
triển
tốt
mối
quan
hằ
kinh tế
vói các nước.
Với
những
ưu
điểm
dó làm cho giá thành vận
chuyển
bằng
đường
biển
thấp
hơn so
với
các phương
giúp.
- Mỗi
chuyến
tàu chuyên chở giá
trị
và
khối
lượng hàng hóa
lớn
bao gồm
giá
trị tàu,
hàng hóa chở trên tàu và
thủy thủ
đoàn nên
khi rủi
ro xảy ra
sẽ
gây
tổn
thất
rất lớn
về
tài sản,
trách
nhiằm
và con
người.
- Hàng hóa do
người
vai
trò
rất
lớn :
+ Là
biằn
pháp hữu
hiằu
nhất
để
khắc
phục
những
nhược
điểm
của
viằc
vận
chuyển
hàng hóa
bằng
đường
biển,
đáp ứng nhu cầu đảm bảo an toàn cho
chủ
hàng.
+
Trong
nền
kinh tế
nước
xuất
và
nhập.
+ Bảo
hiểm
hàng hóa XNK vận
chuyển
bằng
đường
biển
cung
cấp vốn
đầu
tư cho
hoạt
động
kinh
doanh
XNK
từ
các quỹ mà
lẽ ra phải giữ
lại
làm dự
phòng cho
những
tổn
thất
tương
hiểm
giảm
thiểu tổn thất,
tiết
kiệm
chi
phí
kinh
doanh
.
+
Đối với
tác động vĩ mô đến nền
kinh
tế
việc
phát
triển
của Bảo
hiểm
hàng hóa XNK sẽ đem
lại
cho ngân sách nhà nước các
khoản
thu,
giảm
ti lệ
thất
nghiệp
Với
trẽn
thê
giới.
Nước
Anh có một nền bảo
hiểm
Hàng
hải
ra
đời
sớm và
rất
phát
triển.
Trong
lịch
sử
của
ngành bảo
hiểm
hàng
hải,
mửu đơn
thực
sự đửu tiên đã được
sử
dụng
vào năm 1562 và đến năm 1779 ở Anh mẫu đơn
Lloyd's
SG Form
Luật
bảo
hiểm
Hàng
hải
1906
(Marine
Insurance
Act,
1906 - M.I.A
1906)
của Anh đến nay vẫn được
nhiều
nước áp
dụng.
Trong
luật
này có
nhiều
điều
khoản
qui
định có liên
quan
đến
hoạt
động bảo
hiểm
hàng hóa XNK vận
chuyển
gia
khác
nhau,
do đó đòi
hỏi
các
qui
định,
các
luật lệ
và các điều
khoản
phải
thống
nhất
trong
một phạm
vi
nhất
định.
Sau này hửu
hết
các nước
trên
thế giới
đã
thống
nhất
vận
dụng
London
Undervvriters
-
ILU) soạn
thảo
và được phòng Thương mại
London
ấn hàng
vào ngày
01/01/1963
(Institute
Cargo
Clauses
-
gọi
tắt
là
ICC
1963).
Theo
tinh
thần
nội
dung
các điều
khoản
bảo
hiểm
chính của ICC 1963
được
• Bảo
hiểm
mất
cắp.
Ngoài
ra,
ICC 1963
qui
định
áp
dụng
mẫu đơn SG(
Ship
&
Good).
Các
điều
kiện
này
từng
được áp
dụng
rộng rãi
trong
các hợp đụng thương
mại.
Qua
thực
tế
áp
khoản
bảo
hiểm tự
nó
vẫn
không nói lên được đầy đủ
những
quy
định
và
những
cam
kết bụi
thường cho
đối
tượng bảo
hiểm.
Dễ gây nhầm
lẫn
giữa
tên
gọi
các
điều
kiện
và phạm
vi
bảo
hiểm:
theo
mọi
rủi
ro
nhưng
lại
có một
loạt
các
rủi
ro
loại
trừ
riêng.
* ICC 1963 có phân
biệt
giữa tổn
thất
bộ
phận
và
tổn
thất
toàn bộ nhưng
khi
ra đời container
thì
việc
phân
biệt
hai tổn
Qui
định áp
dụng
mẫu đơn SG mà mẫu đơn này
là
mẫu đơn cho cả tàu
và hàng
trong khi
ICC 1963
chỉ qui
định
riêng
cho hàng
hóa.
Điều này khó
chấp
nhận
và quá bảo
thủ.
Nhằm
khắc
phục
những
bất cập
trên,
đến năm
1982,
ILU đã ban hành
ICC 1982,
thay
hiểm
mới được
sắp
xếp
theo
thứ tự
theo
vần
chữ cái A, B, c. Ngoài
ra,
tinh
thẩn
của các điều
kiện
bảo
hiểm
chiến
tranh,
bảo
hiểm
đình công không có
gì
khác
so
với
ICC 1963.
Đây
là
bước
chuyển
Tuy
nhiên,
do
tập
quán thói
quen
hay
do
những
qui
định đã được đi vào Bộ
luật,
không
thể
một sớm một
chiều
có
thể từ
bỏ
ngay
được nên ở một
số
nước
các
điều
kiện
ICC 1963
vẫn
được áp
dụng
chuyển
bằng
đường
biến"
năm 1965
(Bộ tài
chính),
năm 1990 (Bộ
tài
chính),
năm 1995
(Bảo
Việt),
năm 1998
(Bảo
việt).
Trong
các bản QTC nói
trên,
bản
QTCB-
98
của
Bảo
Việt
là hoàn
thiện
hơn cả và có
tinh
thần
tổn
thất
của
hàng hóa
theo
các điều
kiện
đã
kí
kết,
còn
người
dược bảo
hiểm
cam
kết
trả
phí bảo hiểm.
-8-
-
Một số
nội
dung chính:
* Giá
trị
bảo
hiểm
(V):
là
giá
bằng
giá
trị
hàng
tại
cảng đi (C) cộng
với
phí bảo
hiểm
(ì)
và cước phí
vận chuyển
đến cảng
đến
(F),
tức
là
bằng
giá
CIF
hoặc
giá CIP
của
hàng bảo
hiểm.Thởc
tế
nhà bảo
hiểm
còn
nhận
do
người
bảo hiểm
yêu
cầu
và được bảo
hiểm.
Số
tiền
bảo
hiểm
được xây
dởng
trên cở
sở giá
trị
bảo hiểm.
Hóa đơn hàng là
tài
liệu
chắc chắn
nhất
để xác định giá
trị
bảo
hiểm
của
hàng.
Nếu A = V, đó
là bảo hiểm
nộp cho
người bảo hiểm
để hàng hóa được
bảo hiểm.
Phí
bảo hiểm
đối với
hàng hóa XNK được tính toán
trên
cơ
sở
tỉ
lệ
phí
bảo
hiểm
và
phụ
thuộc
vào
số
tiền
bảo hiểm
hoặc
giá
trị
bảo
hiểm.
Như
vậy:
CIP
thì:
ì
= R X
110%.CIF (hay CIP).
* Các
điểu kiện
bảo
hiểm
:
- Khái
niệm:
Điều
kiện
bảo
hiểm
hàng hóa XNK
là
những
qui
định phạm
vi
trách
nhiệm của người
bảo
hiểm
đối với
tổn
thất
của
Nhóm
Ì:
Mắc
cạn,
đắm,
cháy,
đâm
va.
2:
Dỡ hàng
tại
cảng
lánh nạn
3: Phương
tiện
đường bứ
bị
lật
đỗ,
trật
bánh
4: Tổn
thất
chung
và
chi
phí
5: RR
vứt
hàng
khỏi
tàu
10:
Nước
biển,
nước
sông,
nước hồ
tràn
vào
nơi chứa
hàng
11:
Tổn
thất
toàn bứ
của
bất
kì
kiện
hàng nào do
rơi
khỏi
tàu
hoặc
rơi
trong khi
xếp
dỡ hàng hóa
12:
không
giao,
móc
cẩu
hoặc
RR tương
tự
*Nếu mua
bảo hiểm
theo
điều
kiện:
C: Được
bảo hiểm
từ
nhóm
Ì
đến nhóm 7
B: Được bảo
hiểm
từ
nhóm
Ì
đến nhóm 11
A: Được
bảo hiểm
từ
nhóm
Ì
đến nhóm 12
bồi
thường
những
mất
mát,
hư
hỏng
hàng
hoa
do:
-10-
-
Chiến
tranh,
nội
chiến,
cách mạng,
nổi
loạn
hoặc xung đột
dân sự xảy ra
từ
những
biến
cố đó
hoặc bất
kỳ hành động thù địch nào.
-
Chiếm
đoạt,
mất
mát,
hư
hỏng
của
hàng hoa được bảo
hiủm
do :
-
Người
đình công, công nhân bị cấm xưởng
hoặc
những
người tham gia
gây
rối loạn lao
động,
bạo động
hoặc nổi
dậy.
- Hành động
khủng
bố
hoặc
mục đích chính
trị.
- Tổn
thất
chung
và
bảo
hiủm
A có phạm
vi
rộng
nhất
gần như bảo
hiủm
mọi
rủi
ro
về
Hàng
hải
kủ cả
rủi
ro
cướp
biủn.
Điều
kiện
bảo
hiủm
B có phạm
vi
bảo
hiủm
hẹp
hơn, thủ
hiện
hẹp
nhất
thủ
hiện
ở chỗ không bảo
hiủm
thêm một số
rủi
ro
như thiên
tai
động
đất,
núi
lửa
phun,
sét
đánh,
nước
cuốn
trôi,
nước
biủn
sông hồ
tràn vào hầm
hàng,
tổn thất
toàn bộ kiên hàng
rơi
khỏi
ra.
- Trách
nhiệm chứng minh tổn
thất
thuộc
rủi
ro
bảo
hiủm
thuộc
về
người
được
bảo
hiủm.
-
Giữ
nguyên
điều
khoản
vận
chuyủn
của ICC 1963.
- Không bắt
buộc
phải
đề cập đến mức
miễn
đền bù có
khấu trừ
những
tai
nạn,
tai
họa,
sự cố xảy
ra
một cách
bất
ngờ,
ngẫu
nhiên
hoớc
là mối
đe
dọa
nguy
hiểm
gây
ra
làm hư
hỏng
hàng hóa.
- Phân
loại:
* Theo nguyên nhân:
- RR thiên
tai:
là RR do thiên
tai
dộng
của con
người(
chiến
tranh,
đình
công,
tròm,
cướp )
*Theo
nghiệp
vụ bảo hiểm
hàng hóa XNK
vận chuyển
bằng
đường
biển:
- RR thông thường được bảo
hiểm:
Đây là
những
RR được bảo
hiểm
trong
các
điều
kiện
bảo hiểm
thông thường
(bão,
bạo
loạn, ).
-
RR
loại trừ:
là
loại rủi
ro
không được bảo
hiểm
trong
mọi
trường hợp.
5.2
Tốn
thất:
- Khái
niệm:
TT được
bồi
thường
trong
bảo
hiểm
hàng hóa XNK là
những
thiệt
hại,
mất
mát,
nguyên nhân
phải
do các RR được
bảo hiểm
gây nên.
-12-
- Phân
loại:
* Căn cứ vào mức độ TT:
- TT bộ
phận:
là một
phần
của
đối
tượngđược bảo
hiểm
bị mất mát, hư
hỏng,
thiệt hại.
TT bộ
phận
có
thể
là TT về
trọng
lượng,
số
lượng,
thể
hỏng
mất mát
hết
hay bị mất
đi,
tước
đoạt
không
lấy lại
được.
• TT toàn bộ ước
tính:
hàng hóa được bảo
hiểm
bị
tổn
thất
và xét
thấy
TT
toàn bộ
thực
tế
là không tránh
khỏi
hoục
chi
phí dùng để cứu
chữa
khôi
ngờ gây nên và TT của
quyền
lợi
nào thì
quyền
lợi
đó tự
gánh
chịu.
TT riêng bao gồm 2
phần:
Giá
trị
TT riêng và
Chi
phí TT riêng
(chi
phí bỏ
ra
để ngăn
ngừa,
bảo
tồn
hàng hóa đó).TT riêng có
thể
là TT bộ
phận hoục
TT
toàn bộ.
- TT
hành trình
chung
trên
biển.
Theo qui
tắc
York- Antwerp
(
Ra đời thế
kỉ
18,
có hiệu lực năm 1994):
- Hành động TT
chung
phải
thỏa
mãn 5
điều
kiện:
•
Phải
là hành động cố ý của
thuyền
bộ.
•
Phải
là hành động hợp
lí.
•
Phải
hoặc
chi
phí do hậu quả
trực
tiếp
của
hành động TT
chung.
•
Chi
phí TT
chung: là
những
chi
phí
phải trả
cho
người thứ
ba
trong việc
cứu tàu
và hàng
thoái
nạn hoặc
chi
phí
làm
cho tàu
tiếp
tục
Phải
mời chuyên
gia
phân bằ TT
chung.
•
Phải
giữ
bản
cam đoan đóng góp TT
chung cho
tất
cả
các
quyền
lợi.
6. Bồi
thường
tằn
thất
trong
bảo
hiểm
hàng hóa XNK vận chuyên
bằng
đường
biển.
- Nguyên
tắc
chung:
có
quyền khấu
trừ
số
tiền
mà
người
được bảo
hiểm
đã đòi
từ
người
khác.
• Người bảo hiểm có quyền
thế
quyền người
được
bảo hiểm để đòi người
khác.
- Cách
thức
bồi
thường:
• Cách
bồi
thường
trong truồng
họp
TT
riêng
chung)
Với
mọi
diều kiện
bảo
hiểm
khi
TT
chung
xảy
ra người
bảo
hiếm
đểu
chịu
trách
nhiệm
bồi
thường về mức đóng góp TT
chung
của các chủ hàng.
Vấn
đề ở đây mức đóng góp TT
chung của
các chủ hàng khác
nhau,
nên
khi
trong
bảo
trị
ÍT
chung
(TTQ:
G, = Giá
trị
hàng
hoặc
tàu
thiệt
hại trong
Tre +
Chi phí
Tre.
Bước
2:
Xác định
giá
trị
chịu
phân bổ TTC
của
các bên G
ci
G
ci
= Giá
trị
hàng và tàu trước
khi rời
Tre
Bước
3:
Xác
định
tỷ
lệ
phân bổ TTC:
G,
T = X 100
ZG
C
Bước
4:
Xác
định
mức
phải
đóng góp Tre
của
các bên M
đi:
M
di
=TxG
ci
(EM
đi
= G
t
VỀ
TÁI
BẢO HIỂM
HÀNG
HÓA XNK VẬN CHUYỂN
BẰNG ĐƯỜNG
BIỂN.
1.
Khái niệm chung:
Tái bảo
hiểm
là quá trình phân tán
rủi
ro
đã
được bảo
hiểm
của công
ty
bảo hiểm
gốc cho các công
ty
nhận
tái bảo
hiểm.
Nói cách khác, tái bảo
hiểm
là bảo
hiểm
cho các nhà bảo
ty
tái bảo
hiểm
và công
ty
bảo
hiểm
gốc
phải
chuyển
phí cho các công
ty
tái bảo
hiểm
và
nhận
được
từ
họ yếu
tố
đảm bảo
và ổn định
kinh
doanh
của mình.
- Tái bảo
hiểm nhận:
là ngược
lại
quá trình
vụ bảo
hiểm;
bảo vệ các
dịch
vụ
khới
ảnh
hưởng
của các sự cố
lớn
có
tính
thảm họa;
đảm
bảo
tài
chính cho các công
ty
bảo
hiểm.
- Nhược
điểm:
Tái bảo
hiểm
có
thể
làm
tăng
hoặc
giảm
dụng
tương tự cho
hợp
đồng tái bảo
hiểm
giữa
công ty nhượng
và
công ty
nhận
tái bảo
hiểm
.
- Nguyên
tắc
tín
nhiệm
tuyệt đối:
công
ty
bảo
hiểm
phải
cung
cấp đầy
đủ mọi thông
tin
liên
quan
tới
hiểm
được
quyền
hành động
trong việc
giải
quyết
khiếu
nại,
trừ khi
có
qui
định khác
trong
hợp đồng
tái
bảo
hiểm.
2.
Sự
ra đời
và
vai
trò của
tái
bảo
hiểm
hàng hóa XNK vận
chuyển
bằng
của
thị
trường bảo
hiểm thế
giới
nói
chung.
Sự
xuốt
hiện
của
tái bảo
hiểm
trong
lĩnh
vực tái bảo
hiểm
Hàng
hải
đã đánh dốu sự
ra
đời
của
hoạt
động tái bảo
hiểm
trên
thị
trường bảo
hiểm.
chung
gắn bó
với
tái bảo
hiểm
hàng hóa XNK nói riêng.
Vào
giai
đoạn
cuối
cùng của
thời
đại
trung
cổ, khi
ngành bảo
hiểm bắt
đầu
phát
triển
và mở
rộng
ở châu Âu thì nhu cầu tái bảo
hiểm
đã
xuốt
hiện
và
ngày càng tăng
nhanh
đã được kí
kết
tại
thành phố Genoa vào năm 1370
giữa
một bên là
hai
thương nhân
hoạt
động
với
tư cách như nhà
tái
bảo
hiểm
và một bên là
đại
diện
cho một nhà bảo
hiểm.
Bản
giao
ước này
chỉ ra rằng
vào
thời
điểm
đó các
nhà bảo
hiểm
và các
nước
Bác Âu, đặc
biệt
là nước Anh,
dịch
vụ tái bảo
hiểm
đã phát
triển
hơn.
Do
những
tiêu cực xảy
ra
trong
thời
kì này, nước Anh đã cốm
hoạt
động tái bảo
hiểm
Hàng
hải
trong
một
thời
gian
dài dặc bịêt
từ
năm 1746 đến năm 1804.
đó là
tái
bảo
hiểm
tùy ý
lựa chọn
cho
tững
rủi
ro
riêng
rẻ.
Đến
giữa
thế
kỉ
19,
nền
kinh
tế
của các nước Tư bản chủ
nghĩa
đã có
những
bước
tiến
nhảy
vọt
do áp
dụng
hiểm
như trên không còn đáp ứng được nhu
cầu.
Điều
kiện
này
dẫn
đến sự
tất
yếu khách
quan
cho
việc
thành
lập
các công ty tái bảo
hiểm
chuyên
nghiệp.
Năm 1846
tại
Koln
(Đức)
công
ty
tái bảo
hiểm
chuyên
nghiệp
đầu
Sĩ:
SwissRe
ra đời
năm 1863.
- Công
ty
tái bảo
hiểm
London:
London
Guarantee Reins
Co.Ltđ
ra
đời
năm 1869
- Công
ty
tái bảo
hiểm
MunichRe của Đức
ra đời
năm 1880.
Trong
thời
kì này có
nhiều
hình
thức
và phương pháp tái bảo
hiểm
đến sự phát
triển
của tái bảo
hiểm
nói
chung
và tái
bảo hiểm
Hàng
hải
nói
riêng.
Mọi
hoạt
động cả bảo
hiểm
gốc và tái bảo
hiểm
đều
ngững
hoạt
động,
thậm
chí một số nước còn sử
dụng
quỹ bảo
hiểm,
tái
bảo hiểm
phục
như công
ty
tái bảo
hiểm
Thụy
Sỹ đã
phất
triển
thành một công
ty
tái bảo
hiểm
đồ
sộ.
Ngoài
ra,
trong
thời
gian
này
cũng
có
rất
nhiều
công ty tái bảo
hiểm ra
dời,
nhất
là ở Mỹ,
Thụy
được
thể
hiện
thông qua
những
thay
đổi lớn
sau:
- Các công
ty
tái bảo
hiểm
chuyên
nghiệp
cũ
phục
hồi
nhanh
chóng, đặc
biệt
là các công
ty tái
bảo
hiểm
của Cộng hòa liên
bang
Đức.
- Các công
ty
bảo
công
ty
tái bảo
hiểm
mới được thành
lằp
và ngày càng có
nhiều
công
ty
bảo
hiểm
tiến
hành đồng
thời
dịch
vụ
tái
bảo
hiểm.
- Hình
thức
tái bảo
hiểm phi tỉ lệ
là hình
thức
tối
ưu
nhất
đáp ứng được
tế
chính
trị,
xã
hội thế
giới.
Hiện
nay,
tái bảo
hiểm
đã
trở
nên
hết
sức
quen
thuộc
và phổ
biến trong
hoạt
dộng
kinh
doanh.
Khi quá trình
hội
nhằp
kinh
tế
quốc
tế
chuyển
bằng
đường
biển
là
rất
cao nhưng nếu
rủi
ro xảy
ra
thì
tổn
thất
cũng
rất
lớn.
Vì
vằy,
các công
ty
bảo
hiểm
đã tìm đến các nhà tái bảo
hiểm
để đảm
bảo
khả năng tài chính cho mình. Bảo
hiểm
hàng hóa XNK thường có giá
trị
triệt
để khả năng tài chính mà họ không
bỏ lỡ
cơ
hội kinh
doanh.
Đầc
biệt
trong
điều
kiện hiện
nay
khi
nền
kinh tế
các
nước
đang phát
triển
thì giá
trị
lô hàng bảo
hiểm
rất lớn,
do đó tái bảo
hiểm
là
nghiệp
vụ cần
thiết,
gian
ngắn.
Rủi
ro
ở đây thường là
những
tai
nạn, tai
họa
bất ngờ,
ngẫu
nhiên không lường trước được như: đắm tàu, hàng mất,
hàng bị dỗ
vỡ,
hư
hỏng
Đối
tượng
tham
gia
bảo
hiểm
lại
ở trên
biển
quá xa
công
ty
bảo
hiểm
bảo
hiểm
gốc sẽ
nhận
được sự hỗ
trợ
về mầt kĩ
thuật
nghiệp
vụ,
con
người
từ
phía các nhà tái bảo
hiểm.
Đây
là
nghiệp
vụ
hết
sức
phức
tạp
có liên
quan
đến
nhiều
nước trên
thế
giới
xác định phí
cũng
vô cùng
quan
trọng,
nếu không chính xác
tất
yếu sẽ dẫn đến
thua
lỗ.
Các nhà tái bảo
hiểm
sẽ
trợ thủ
đắc
lực
cho công
ty
bảo
hiểm
gốc cho
việc
đưa
ra
một mức phí hợp
nhất.
Trong
bảo
hiểm
nói
những
ảnh hưởng
lớn
phá vỡ
giới
hạn này. Các
biến
động
nhỏ,
có
thể
do:
sự
biến
động
trong
bảng
tính toán
tổn
thất,
phí bảo
hiểm
so
với thực tế;
những
bất
lợi
trong
đầu tư
hoầc