SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MÔN TOÁN Một số giải pháp rèn luyện kĩ năng giải bài toán bằng cách lập phương trình cho học sinh lớp 8A2 Trường TRUNG HỌC CƠ SỞ Thạnh Lợi - Pdf 43

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BÁO CÁO TÓM TẮT
SÁNG KIẾN, CẢI TIẾN ĐỀ NGHỊ XÉT CÔNG NHẬN
DANH HIỆU CHIẾN SĨ THI ĐUA CẤP HUYỆN
_____________
Kính gửi: Ban thi đua – Khen thưởng huyện.
I. SƠ LƯỢC BẢN THÂN
- Họ và tên: NGÔ QUỐC BẢO.
Năm sinh: 1988
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Đại Học Sư Phạm Toán
- Chức năng nhiệm vụ được phân công: Giáo viên dạy lớp
- Đơn vị công tác: Trường THCS Thạnh Lợi.
II. NỘI DUNG
1. Thực trạng:
1.1. Về phía giáo viên
Giáo viên chưa có nhiều thời gian và biện pháp hữu hiệu để phụ đạo học sinh
yếu kém. Giáo viên nghiên cứu về phương pháp giải bài toán bằng cách lập phương
trình song mới chỉ dừng lại ở việc vận dụng các bước giải một cách nhuần nhuyễn
chứ chưa chú ý đến việc phân loại dạng toán, kỹ năng giải từng loại và những điều
cần chú ý khi giải từng loại đó. Trong quá trình giảng dạy nhiều giáo viên trăn trở là
làm thế nào để học sinh phân biệt được từng dạng và cách giải từng dạng đó.
Có thể khẳng định rằng đây là một trong những kiểu bài tương đối khó với giáo
viên. Khó khăn trước hết là khó khăn về kiến thức, về phương pháp. Nhưng với kiểu
bài này giáo viên rất lúng túng về phương pháp. Chỉ trong 4 tiết dạy giải bài toán
bằng cách lập phương trình mà dung lượng kiến thức không ít, có rất nhiều dạng
toán cần giải quyết. Giáo viên phải làm sao để có thể tải hết các nội dung kiến thức
của bài cho học sinh tiếp thu một cách tích cực, tránh được sự giảng giải nhàm chán
đều đều từ đầu đến cuối tiết học; vừa cuốn hút học sinh vào bài giảng và cuối cùng
phải làm cho học sinh có thể tự giải được loại toán giải bài toán bằng cách lập
phương trình.

Trung bình trở lên
HS
Số lượng
Tỉ lệ (%)
Tháng 2/2017
Kết quả chưa áp dụng giải pháp

30

10

33.33%

2. Tên sáng kiến và lĩnh vực áp dụng:
2.1. Tên sáng kiến kinh nghiệm:
Một số giải pháp rèn luyện kĩ năng giải bài toán bằng cách lập phương trình
cho học sinh lớp 8A2 Trường THCS Thạnh Lợi.
2.2. Lĩnh vực áp dụng:
Trong ngành giáo dục và đào tạo huyện Tháp Mười (đó là những giải pháp giúp
giáo viên môn toán trung học cơ sở đạt hiệu quả hơn) và có thể nhân rộng ở phạm vi
lớn hơn như trong tỉnh, khu vực.
3. Mô tả nội dung, bản chất của sáng kiến:
3.1. Hướng dẫn học sinh giải bài toán bằng cách lập phương trình
* Để giải bài toán bằng cách lập phương trình phải dựa vào quy tắc chung
gồm các bước như sau:
Bước 1: Lập phương trình (gồm các công việc sau):
- Chọn ẩn số (ghi rõ đơn vị) và đặt điều kiện thích hợp cho ẩn.
- Biểu diễn các đại lượng chưa biết theo ẩn và các đại lượng đã biết.
- Lập phương trình biểu thị mối quan hệ giữa các đại lượng.
Bước 2: Giải phương trình:

Trong số các bài tập về giải bài toán bằng cách lập phương trình ta có thể
phân loại thành các dạng như sau:
- Dạng toán liên quan đến số học.
- Dạng toán về công việc làm chung, làm riêng.
- Dạng toán về tỉ lệ chia phần.
- Dạng toán có chứa tham số.
* Các giai đoạn giải một bài toán
- Giai đoạn 1: Đọc kỹ đề bài rồi ghi giả thiết, kết luận của bài toán
- Giai đoạn 2: Nêu rõ các vấn đề liên quan để lập phương trình. Tức là chọn
ẩn như thế nào cho phù hợp, điều kiện của ẩn thế nào cho thoả mãn.
- Giai đoạn 3: Lập phương trình. Dựa vào các quan hệ giữa ẩn số và các đại
lượng đã biết, dựa vào các công thức, tính chất để xây dựng phương trình, biến đổi


tương đương để đưa phương trình đã xây dựng về phương trình ở dạng đã biết, đã
giải được.
- Giai đoạn 4: Giải phương trình. Vận dụng các kỹ năng giải phương trình đã
biết để tìm nghiệm của phương trình.
- Giai đoạn 5: Nghiên cứu nghiệm của phương trình để xác định lời giải của
bài toán. Tức là xét nghiệm của phương trình với điều kiện đặt ra của bài toán, với
thực tiễn xem có phù hợp không? Sau đó trả lời bài toán.
- Giai đoạn 6: Phân tích biện luận cách giải. Phần này thường để mở rộng cho
học sinh tương đối khá, giỏi sau khi đã giải xong có thể gợi ý học sinh biến đổi bài
toán đã cho thành bài toán khác bằng cách: Giữ nguyên ẩn số thay đổi các yếu tố
khác. Giữ nguyên các dữ kiện thay đổi các yếu tố khác. Giải bài toán bằng cách
khác, tìm cách giải hay nhất.
3.3. Tập trung rèn kỹ năng giải toán bằng cách lập phương trình đảm
bảo tính hiệu quả phù hợp với học sinh thông qua các dạng toán thường gặp
3.3.1. Dạng toán liên quan đến số học
Bài toán: (SGK đại số 8). Một số tự nhiên có hai chữ số, tổng các chữ số bằng . Nếu

abc = 100a + 10b + c.
....................
- Khi đổi chỗ các chữ số hàng trăm, chục, đơn vị ta cũng biểu diễn tương tự
như vậy. Dựa vào đó ta đặt điều kiện ẩn số sao cho phù hợp.
3.3.2. Dạng toán chuyển động
Bài toán SGK toán 8 tập 2 - trang 27
Một xe máy khởi hành từ Hà Nội đi Nam Định với vận tốc 35 km/h. Sau đó
24 phút, trên cùng tuyến đường đó, một ô tô xuất phát từ Nam Định đi Hà Nội với
vận tốc 45 km/h. Biết quãng đường Nam Định - Hà Nội dài 90 km. Hỏi sau bao lâu,
kể từ khi xe máy khởi hành, hai xe gặp nhau?
Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích bài toán :
Hai đối tượng tham gia vào bài toán là ô tô và xe máy, còn các đại lượng liên
quan là vận tốc (đã biết), thời gian và quãng đường đi (chưa biết). Đối với từng đối
tượng, các đại lượng ấy quan hệ với nhau theo công thức s = v.t.
Nếu chọn một đại lượng chưa biết làm ẩn, chẳng hạn, gọi thời gian từ lúc xe
máy khởi hành đến lúc hai xe gặp nhau là x giờ, ta có thể lập bảng để biểu diễn các
đại lượng trong bài toán như sau (trước hết đổi 24 phút thành
Xe máy

Vận tốc (km/h)
35

Ô tô

45

Thời gian đi (h)
x
x-


- Trong thời gian đó, xe máy đi được quãng đường là 35x (km)
Vì ô tô xuất phát sau xe máy 24 phút (tức là
là x -

2
giờ) nên ô tô đi trong thời gian
5

2
2
(h) và đi được quãng đường là 45(x - ) (km)
5
5

Đến lúc hai xe gặp nhau, tổng quãng đường chúng đi được đúng bằng quãng
đường Nam Định - Hà Nội (dài 90 km) nên ta có phương trình
35x + 45(x ⇔


2
) = 90
5

35x + 45x - 18 = 90
80x
= 108






x
35
90 − x
45

x 90 − x 2

=
35
45
5

Qua đó ta thấy rằng khi chọn ẩn là quãng đường thì phương trình khó giải hơn
so với khi chọn ẩn là thời gian. Do đó khi giải cần chú ý đến việc chọn ẩn.
Như vậy, khi giải bài toán bằng cách lập phương trình, thông thường bài toán
yêu cầu tìm đại lượng nào thì nên chọn đại lượng đó làm ẩn (chọn ẩn trực tiếp)
nhưng cũng có khi chọn một đại lượng khác làm ẩn (chọn ẩn gián tiếp) nếu cách
chọn ẩn này giúp ta giải bài toán một cách thuận lợi hơn.
4. Khả năng và phạm vi áp dụng sáng kiến:
4.1. Khả năng áp dụng:
Nếu làm tốt các giải pháp trên một cách đồng bộ, đặc biệt phải lồng ghép vào
những giờ học trên lớp và các tiết học phụ đạo cho học sinh, thì bước đầu đã đem lại
cho học sinh các kiến thức căn bản, giúp học sinh tự tin hơn và đa phần học sinh
đều giải được các bài tập, góp phần hạn chế được học sinh yếu kém môn toán.
4.2. Phạm vi áp dụng:
Những giải pháp trên được thực hiện với đối tượng là 30 học sinh lớp 8A2
Trường THCS Thạnh Lợi năm học 2016–2017. Chương trình thực nghiệm là:
chương III Đại Số 8.
5. Những lợi ích và hiệu quả mang lại khi nhân rộng sáng kiến:

Tỉ lệ (%)
26

86,67%

5.2 Hiệu quả khi nhân rộng.
Đề tài được triển khai phổ biến và áp dụng rộng rãi trong chương trình đại số
lớp 8, cho các năm học sau. Có thể nhân rộng và áp dụng cho các trường bạn trong
huyện góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
Trên đây là những sáng kiến, cải tiến giải pháp mới, kỹ thuật mới (gọi tắt là
sáng kiến) các đề án, dự án của bản thân tôi trong năm 2016 – 2017.
Kính đề nghị Hội đồng xét duyệt sáng kiến xem xét, công nhận đề tài sáng kiến
cấp huyện./.

Thủ trưởng đơn vị
(ký tên, đóng dấu)

Thạnh lợi, ngày 10 tháng 03 năm
2017
Người báo cáo
(ký, ghi rõ họ tên)

NGÔ QUỐC BẢO




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status