MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp, được hình thành bởi
nhiều ngành kinh tế, vùng kinh tế hoặc thành phần kinh tế, tuỳ theo cách
tiếp cận để phân nền kinh tế thành những cách khác nhau. Do đặc điểm
địa hình kéo dài từ Bắc tới Nam nên nước ta có các vùng địa lý rất khác
nhau về điều kiện tự nhiên: đất đai, thời tiết, khí hậu cũng như tài nguyên
thiên nhiên và địa hình. Dựa trên các cơ sở điều kiện tự nhiên và kinh tế xã
hội, có thể phân định ra những vùng khác nhau và hợp lý để có thể vừa
khai thác tốt nhất tiềm năng của từng vùng, vừa giúp tăng cường sự hợp
tác, hỗ trợ lẫn nhau giữa các vùng kinh tế. Trên cơ sở đó thúc đẩy sự phát
triển kinh tế của tất cả các vùng, tạo điều kiện nâng cao mức sống của toàn
dân và nhanh chóng đạt được sự công bằng xã hội trong cả nước. ngoài ra
vùng Bắc Trung Bộ có Phía bắc giáp Tây Bắc và Đồng bằng sông Hồng,
phía tây giáp Lào, phía nam giáp Duyên hải miền Trung, phía đông giáp
Biển Đông. Bắc Trung Bộ có diện tích tự nhiên 51,5 nghìn km2; số dân
10,6 triệu người (năm 2006), chiếm 15,6% diện tích và 12,7% số dân cả
nước. Dãy núi Bạch Mã là ranh giới tự nhiên giữa Bắc Trung Bộ và Duyên
hải Nam Trung Bộ. Bao gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh,
Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế.
Vùng Bắc Trung Bộ có điều kiện tự nhiên phong phú giữ vị trí chiến
lược quan trọng trong phát triển kinh tế và quốc phòng an ninh của đất nước.
vì vậy tác giả chọn chủ đề “Vai trò của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội vùng
Bắc Trung Bộ đối với phát triển kinh tế xã hội” làm nội dung thu hoạch môn
Địa lý kinh tế.
2
NỘI DUNG
1. Tiềm năng và hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội
1.1.Vị trí địa lý
Bắc Trung Bộ là lãnh thổ có tính chất chuyển tiếp giữa các vùng kinh tế
lãnh thổ là núi, đồi, hướng ra biển, có độ dốc, nước chảy xiết, thường hay gây
lũ lụt bất ngờ gây khó khăn cho sản xuất và đời sống nhân dân.
1.2.Về tài nguyên thiên nhiên:
Đất nông nghiệp chiếm 91% diện tích tự nhiên của vùng. Hiện nay mới sử
dụng 54,4%, trong đó sử dụng vào nông nghiệp là 13%, Lâm nghiệp 36,5%,
đất chuyên dùng 4,4%. Đất lâm nghiệp của toàn vùng là 3.436.860 ha, chiếm
63% tự nhiên và 45% đất lâm nghiệp của vùng.
Bắc Trung Bộ rất đa dạng về chủng loại và diện tích đất chưa sử dụng còn
khá nhiều. Có 3 loại đất chính: - đất đỏ vàng trung du miền núi: gồm đất đỏ
feralit, đất đỏ bazan...thích hợp cho trồng cây công nghiệp dài ngày hoặc khai
thác nông nghiệp, trồng cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, - đất phù sa bồi tụ ven
sông hoặc đồng bằng ven biển thích hợp với trồng cây lương thực, hoa màu,
cây công nghiệp ngắn ngày.
Đất cát hoặc đất cát pha ven biển chất lượng kém chỉ sử dụng để trồng
một số loại cây hoa màu, trồng rừng phi lao, bạch đàn chống gió và cát bay
ven biển. Quỹ đất tự nhiên của vùng hơn 5 triệu ha,trong đó đã sử dụng 2.8
triệu ha (chiếm 54.4 %), đất chưa sử dụng là 2.3 triệu ha (chiếm 45.6 %).
Trong 2.3 triệu ha đó có đất đồng bằng, đồi núi chiếm 1.9 triệu ha, đây chính
là quỹ đất còn lại để khai thác cho các mục tiêu phát triển sản xuất lâm
nghiệp, phủ xanh đất trống đồi trọc. Ngoài ra toàn vùng còn có 45.4 nghìn ha
mặt nước chưa sử dụng. Đây là điều kiện để phát triển nuôi trồng thủy sản
nước ngọt trong tương lai.
4
Rừng của Bắc Trung Bộ đứng thứ hai sau Tây Nguyên, cung cấp nguyên
vật liệu cho đồng bằng Bắc Bộ và xuất khẩu. Xét về cơ cấu, rừng sản xuất có
1583,6 nghìn ha: trong đó hiện có 747,5 nghìn ha có rừng; rừng đặc dụng
314,6 nghìn ha, trong đó hiện có 213,6 nghìn ha có rừng. Tài nguyên rừng: là
một trong những thế mạnh to lớn để vùng phát triển ngành lâm nghiệp. tổng
Về tài nguyên khí hậu và nguồn nước:
Khu vực Bắc Trung Bộ (bao gồm toàn bộ phía Bắc đèo Hải Vân).
Vào mùa đông, do gió mùa thổi theo hướng Đông Bắc mang theo hơi nước từ
biển vào nên toàn khu vực chịu ảnh hưởng của thời tiết lạnh kèm theo mưa.
Đây là điểm khác biệt với thời tiết khô hanh vào mùa Đông vùng Bắc Bộ.
Đến mùa Hè không còn hơi nước từ biển vào nhưng có thêm gió mùa Tây
Nam (còn gọi là gió Lào) thổi ngược lên gây nên thời tiết khô nóng, vào thời
điểm này nhiệt độ ngày có thể lên tới trên 40độC, trong khi đó độ ẩm không
khí lại rất thấp.
Bắc Trung Bộ là vùng có điều kiện khí hậu khắc nghiệt nhất trong cả
nước. Hàng năm thường xảy ra nhiều thiên tai như bão, lũ, gió Lào, hạn hán,
mà nguyên nhân cơ bản là do vị trí, cấu trúc địa hình tạo ra. Vùng này cũng
chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc lạnh, tuy nhiên không nhiều như ở Bắc
Bộ. Điều kiện khí hậu của vùng gây khó khăn cho sản xuất đặc biệt là sản xuất
nông nghiệp.Tài nguyên nước: Bắc Trung Bộ là vùng có hệ thống sông ngòi .
khá dày đặc,nguồn cung cấp nước dồi dào, với trữ lượng thủy sản và môi trường
thủy sản lớn, có nhiều cửa sông đổ ra biển với mực nước sâu thuận lợi để xây
dựng cảng sông, cảng biển, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản. Sông ngòi ở đây
ngắn và dốc thuận lợi để phát triển ngành công nghiệp thủy điện.
Tài nguyên khoáng sản:
Tài nguyên khoảng sản của vùng khá phong phú và đa dạng. So với cả
nước, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung chiếm 100% trữ lượng crômit,
6
20% trữ lượng sắt, 44% trữ lượng đá vôi xi măng. Các khoáng sản có giá trị
kinh tế trong vùng gồm:
Đá vôi xây dựng 37,5 tỷ tấn có ở hầu hết các tỉnh.
Quặng sắt 552,22 triệu tấn chủ yếu là ở mỏ Thạch Khê.
Cát thuỷ tinh 573,2 m3, có nhiều ở 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa
Quỳnh Lưu ( Nghệ An). Ngoài ra còn có dâu tằm, thuốc lá...
Về cây công nghiệp lâu năm đáng chú ý là hồ tiêu trồng nhiều ở Quảng
Trị, Quảng Bình; cây ăn quả nhiều nhất là cam trồng ở Tân Kỳ, Nghĩa Đàn
(Nghệ An), Hà Trung, Vân Du ( Thanh Hóa).
Cây lương thực chiếm diện tích lớn nhất trong ngành trồng trọt của
vùng, nhưng chủ yếu là để tự túc lương thực.
Về chăn nuôi, thế mạnh của vùng là chăn nuôi trâu, bò, dê chiếm
29,5% tổng số đàn của cả nước; đàn hươu số lượng tuy ít nhưng giá trị xuất
khẩu lớn, phát triển chủ yếu ở Hương Sơn (Hà Tĩnh), Quỳnh lưu (Nghệ An).
Ngoài ra còn có lợn, đàn vịt phát triển ở vùng đồng bằng ven biển.
Về lâm nghiệp, gỗ tre, luồng là những lâm sản hàng hóa chủ yếu sản
lượng gỗ khai thác là 323,400 m3 chiếm 11,5% cả nước, tập trung ở Thanh Hóa.
Bắc Trung Bộ có truyền thống về ngư nghiệp. Trong vùng đã xây dựng
nhiều cơ sở đánh bắt và chế biến hải sản, lớn nhất là Cửa Hội (Nghệ An), Sầm
Sơn (Thanh Hóa), Thuận An (Huế), Cửa Sót, Cửa Nhượng (Hà Tĩnh). Năm
1991 sản lượng cá biển đã khai thác được là 73,995 tấn chiếm 10% của cả
nước. Ngoài ra còn có tôm, mực, cua...việc nuôi trồng đã được phát triển
trong các bãi triều, đầm phá; đáng chú ý là nuôi tôm, trồng rong tảo.
Công nghiệp, các cơ sở tiểu thủ công nghiệp các hợp tác xã công
nghiệp phần lớn mới được phát triển. Công nghiệp hiện đại nhất trong vùng là
các cơ sở vật liệu xây dựng, sản xuất xi măng Bỉm Sơn, xí nghiệp đá Thanh
Hóa, gạch ngói Hưng Nguyên (Nghệ An); còn phần lớn là công nghiệp vừa và
nhỏ, chế biến thực phẩm như đường, chè, thuốc lá, lương thực, thủy sản, hoa
8
quả...và sản xuất hàng tiêu dùng như dệt sợi, giấy, đồ nhựa, cơ, kim khí lắp
ráp và sửa chữa.
Công nghiệp được phân bố theo trục quốc lộ Bắc – Nam với các điểm,
các cụm và trung tâm như Bỉm Sơn, Hàm Rồng, Thành phố Thanh Hóa, Vinh,
công nghiệp.
Thế mạnh về lâm nghiệp: Ngành lâm nghiệp vùng Bắc Trung Bộ quản
lý 3436,86 ngàn ha, đất có rừng 1633,0 ngàn ha, trữ lượng gỗ 134737 triệu
m3 gỗ, 1466,49 triệu cây tre nứa. Đứng sau Tây Nguyên về tài nguyên rừng,
song chủ yếu là rừng nghèo. Đất không có rừng 1599,8 ngàn ha (không kể
204011 ha núi đá), đây là đối tượng phát triển kinh doanh nghề rừng.
- Thế mạnh về kinh tế biển: Bắc Trung Bộ có khoảng 670 km bờ biển, 23 cửa
sông, nhiều bãi tắm đẹp, nhiều đầm phá, thềm lục địa rộng nhiều tài nguyên,
thuận lợi phát triển du lịch và kinh tế tổng hợp biển (trữ lượng cá khoảng
620.000 tấn, tôm 2750 tấn, mực 5000 tấn...).
Thế mạnh về du lịch: Bắc Trung Bộ là nơi có nhiều bãi biển đẹp như
Sầm Sơn, Cửa Lò, Thiên Cầm, Nhật Lệ, Cửa Tùng, Thuận An, Lăng Cô,....
Khu vực này có các vườn quốc gia như Vườn quốc gia Bến En, Vườn quốc
gia Pù Mát, Vườn quốc gia Vũ Quang, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng,
Vườn quốc gia Bạch Mã; nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú như: sông suối,
núi, rừng, biển, hồ, đầm phá. Với bề dày lịch sử dựng nước và giữ nước để lại
nhiều di tích lịch sử, văn hoá, kiến trúc có giá trị (có 144/1221 di tích đã xếp
hạng). Ngoài ra còn có nhiều lễ hội truyền thống mang tính văn hoá đặc sắc
lành mạnh, tất cả tạo điều kiện tốt để phát triển du lịch.
Thực trạng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng : Nhiều năm qua, Chính phủ có những chính sách
đầu tư, kể cả khoa học – công nghệ nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn
vùng ven biển Trung Bộ nói chung và Bắc Trung Bộ nói riêng. Do vậy giai
10
đoạn từ năm 1991 đến 2002, kinh tế Bắc Trung Bộ tăng trưởng ở mức
khá, đạt 8,4%/năm; ngành nông – lâm- thuỷ sản tăng 5,29%/năm. Tuy
nhiên, đến nay Bắc Trung Bộ vẫn là vùng kinh tế còn nhiều khó khăn.
GDP bình quân đầu người chỉ đạt 3,5 triệu đồng/người/năm 2002, bằng
Itmk - Kobe – của nhà đầu tư Nhật Bản với tổng vốn đăng ký đạt 1 tỷ USD.
Thừa Thiên - Huế với cố đô Huế vẫn tiếp tục phát triển ngành du lịch như
là ngành kinh tế mũi nhọn, đồng thời cũng đang phát triển trở thành trung tâm
đào tạo cung cấp nguồn nhân lực cũng như các dịch vụ y tế cho cả khu vực.
Quảng Bình và Quảng Trị là hai tỉnh khó khăn nhất trong khu vực
nhưng cũng có những tiềm năng phát triển trong lĩnh vực du lịch (Phong Nha
- Kẻ Bàng, Thành cổ Quảng trị, Nghĩa trang Trường sơn) và nằm trên tuyến
phát triển hàng lang kinh tế Đông - Tây kết nối với các nước Lào, Thái Lan.
Đặc biệt là, trong 6 tỉnh khu vực Bắc Trung bộ thì có 5 tỉnh có các Khu kinh
tế ven biển (trừ Quảng Trị) và một số tỉnh có các Khu kinh tế cửa khẩu (Lao
Bảo, Cha Lo, Cầu Treo). Các Khu kinh tế trong khu vực đang được tập trung
phát triển, cùng với những dự án công nghiệp quan trọng nêu trên, đang tạo ra
những bước đột phá trong phát triển công nghiệp, tác động tích cực tới
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các tỉnh trong khu vực, đồng thời là cơ hội và
điều kiện tốt nhất để cơ cấu lại lao động, sắp xếp lại dân cư theo hướng CNH
–HĐH. Việc triển khai các dự án công nghiệp lớn này sẽ góp phần quan trọng
thu hút đầu tư của các ngành công nhiệp hỗ trợ, các ngành dịch vụ vào các
tỉnh trong khu vực. Điều này cũng chứng tỏ khu vực Bắc Trung Bộ hứa hẹn sẽ
là một điểm đến đầu tư hấp dẫn trong tương lai.
2. Định hướng phát triển vùng kinh tế Bắc trung Bộ đến năm 2020
và tầm nhìn đến năm 2030
2.1. Quan điểm phát triển
12
Một là, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Bắc
Trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 phải phù hợp với Chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội cả nước; Quy hoạch tổng thể phát triển
kinh tế - xã hội vùng Bắc Trung bộ bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với
quy hoạch ngành, lĩnh vực.
Chín là, Xây dựng các thành phố, thị xã: Thanh Hoá, Vinh, Huế, Hà
Tĩnh, Đồng Hới, Đông Hà thành các trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ
thuật làm hạt nhân thúc đẩy vùng nông thôn phát triển. Bảo vệ môi trường
sinh thái; bảo vệ rừng, phủ xanh đất trồng đồi trọc, bãi bồi ven biển nhằm hạn
chế tác hại của thiên tai bão lụt. - Phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm
an ninh chính trị và củng cố quốc phòng giữ gìn trật tự an toàn xã hội vùng
ven biển, hải đảo và vùng cao, biên giới
2.2. Những mục tiêu cơ bản
Về kinh tế:
Phấn đấu GDP bình quân đầu người đạt khoảng 375 USD vào năm
2015, và đạt khoảng 950 USD vào năm 2020. Nhịp độ tăng trưởng kinh tế
bình quân hàng năm đạt 15,1% Cơ cấu kinh tế đến năm 2015 là: công nghiệp
chiếm 15,2%, dịch vụ 45%; nông lâm ngư nghiệp 27,5%, xây dựng 12,3% và
đến năm 2015: công nghiệp chiếm 27,4%, dịch vụ 48%, nông lâm ngư nghiệp
9,9%, xây dựng 16,7%. Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm tăng từ 25-30%
giai đoạn 2010 - 2015. Tỷ lệ tích luỹ đầu tư từ GDP trên 15% vào năm 2015
trên 32% ; giảm tối thiểu các hộ nghèo.
Về xã hội:
Phấn đấu giảm tỷ lệ tăng dân số hàng năm để đến năm 2015 còn 1,5%
và năm 2020 còn 1,2%. Nâng cao nguồn nhân lực về các mặt thể lực, trình độ
học vấn, đào tạo nghề, trình độ nghề nghiệp và quản lý... Xây dựng gia đình
văn hoá gắn với làng bản, văn minh đô thị, xoá bỏ các tệ nạn xã hội. Hình
14
thành một số trung tâm văn hoá vùng, kết hợp du lịch với khai thác hiệu quả
các di tích. Xây dựng và củng cố mạng y tế từ tỉnh đến huyện, xã; cải tạo
nâng cấp các cơ sở y tế hiện có.
Về môi trường:
Nhanh chóng khôi phục hệ sinh thái rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc,
đại đồng bộ với mạng lưới thông tin quốc gia đáp ứng nhu cầu thông tin liên
lạc trong, ngoài vùng và liên lạc quốc tế được nhanh chóng.
Về công nghiệp:
Phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng (chủ yếu là xi măng và đá xây
dựng), công nghiệp khai khoáng, luyện kim, hoá chất (lọc hoá dầu, xút), chế biến
nông lâm hải sản. Kết hợp công nghệ hiện đại với công nghệ truyền thống. Đầu tư
thiết bị hiện đại vào một số ngành có sản phẩm mũi nhọn. Cải tạo và đồng bộ hoá
các khu công nghiệp đã có như: Bỉm Sơn, Thanh Hoá, Phủ Quỳ, Vinh, Cửa Lò,
Đồng Hới, Đông Hà và Huế. Đồng thời xây dựng mới các xí nghiệp, hình thành
các khu công nghiệp như Nghi Sơn, Hoàng Mai, Thạch Khê, Vũng Áng...
Về nông, lâm, ngư nghiệp:
Trong nông nghiệp, chuyển đổi nhanh cơ cấu nông nghiệp cho phù hợp với
điều kiện sản xuất ở từng vùng theo cơ chế thị trường. Thực hiện thâm canh tăng
vụ. Đầu tư mở rộng diện tích cây công nghiệp, cây thực phẩm, phát triển chăn
nuôi, hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hoá gắn với công nghiệp chế biến.
Trong lâm nghiệp: Bảo vệ khoanh nuôi và giữ gìn rừng đầu nguồn,
rừng tự nhiên, rừng phòng hộ và rựng đặc dụng. Đẩy mạnh trồng rừng, thực
hiện giao đất, giao và khoán rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc.
Trong ngư nghiệp: Đẩy nhanh việc nuôi trồng và khai thác, chế biến
thuỷ sản. Khuyến khích khai thác biển khơi đánh bắt thuỷ hải sản xa bờ,
phát triển việc nuôi trồng thuỷ sản khu vực đầm phá ven biển để tăng sản
phẩm xuất khẩu.
16
Về thương mại và du lịch:
Xây dựng một số siêu thị lớn phù hợp gắn với các đô thị và khu công
nghiệp ở Thanh Hoá, Vinh, Huế. Phát triển xuất nhập khẩu và trung chuyển quá
cảnh, phát triển du lịch, hình thành các trung tâm thương mại, du lịch: Sầm Sơn,
Cửa Lò - Vinh, Nam Đàn, Đồng Hới - Phong Nha, Đông Hà - Lao Bảo, Huế,
Với điều kiện tự nhiên phong phú vừa có đồi núi trùng trùng điệp điệp, vừa có
đồng bằng mầu mỡ phì nhiêu, vừa có biển đảo rộng lớn giao thương thuận
tiện, và nhiều khoáng sản. Bắc Trung Bộ có nhiều điều kiện thuận tiện cho
phát triển kinh tế xã hội và củng cố quốc phòng an ninh. Tuy nhiên, với việc
phân bố không đều về tài nguyên khoáng sản cũng như dân cư, một bộ phận
không nhỏ diện tích của vùng Bắc Trung Bộ là núi cao hiểm trở khó khăn cho
việc phát triển kinh tế cũng như lưu thông hàng hóa đời sống đồng bào dân
tộc gặp nhiều khó khăn…Song với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, trong
những năm qua cùng với sự hội nhập kinh tế của đất nước, tổ chức Đảng và
chính quyền địa phương các tỉnh trong vùng đã nắm bắt tận dụng những lợi
thế của mình để phát triển kinh tế xã hội. Đời sống của nhân dân trong vùng
không ngừng được nâng lên, quốc phòng an ninh được giữ vững.
Nghiên cứu địa lý kinh tế về tổ chức vùng lãnh thổ vùng Bắc Trung Bộ
giúp chúng ta hiểu sâu hơn về những điều kiện thuận lợi cũng như khó
khăn của điều kiện tự nhiên, xã hội của vùng, làm cơ sở cho việc lý giải
cũng như nhận thức đúng đắn quan điểm của Đảng ta trong lãnh đạo phát
triển kinh tế đất nước cũng như củng cố quốc phòng an ninh. Đối với
Quân đội là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc, đồng thời
với chức năng là đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất, càng phải
hiểu rõ điều kiện tự nhiên cũng như xã hội của vùng, để xây dựng chiến
18
lược phòng thủ khu vực cũng như phương án tác chiến khi có tình huống
xảy ra, bảo đảm vững chắc nền độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ.
Đồng thời, tham gia làm tốt công tác vận động quần chúng, cũng như phát
triển kinh tế đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số góp phần nâng cao đời
sống vật chất, văn hóa tinh thân của nhân dân trong vùng.