A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề án
Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền tự nhiên của con người
trước những vấn đề bị vi phạm để tự bảo vệ mình. Hay nói một cách khác,
bản chất của quyền khiếu nại, tố cáo là quyền tự vệ hợp pháp trước những
hành vi vi phạm để tự bảo vệ mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích của xã hội.
Đó là quyền hiến định, quyền phản hồi, quyền dân chủ và hơn thế nữa, đó là
quyền để bảo vệ quyền. Chính vì vậy, khiếu nại, tố cáo là hiện tượng khách
quan trong đời sống xã hội. Từ khi có giai cấp, các giai cấp thống trị xã hội
với những biện pháp, cách thức khác nhau để giải quyết hiện tượng này.
Ở nước ta, từ trước đến nay, đều ghi nhận khiếu nại, tố cáo là một trong
những quyền cơ bản của công dân, trong đó Hiến pháp 1992 ghi nhận tại Điều
74: “Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh
tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào. Việc
khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan nhà nước xem xét và giải quyết trong
thời hạn pháp luật quy định…”. Quy định này đã được Hiến pháp 2013 sửa
đổi, bổ sung tại Điều 30, cụ thể là: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật
của cơ quan, tổ chức, cá nhân.Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải
tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi
thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp
luật. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền
khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác”.
Theo quy định này, khiếu nại, tố cáo không chỉ là quyền Hiến định của
công dân Việt Nam (những người có quốc tịch Việt Nam) mà đã được công
2
nhận là quyền con người, được tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ. Khiếu nại và tố
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu giúp nhân dân, cán bộ nắm được những quy
định cơ bản của pháp luật để từ đó có ý thức trong việc thực hiện các quyền
khiếu nại, tố cáo đúng quy định. Tổ chức tập huấn 05 cuộc tại huyện, 35 cuộc
tại xã, thị trấn với trên 2000 lượt người nghe, cấp phát tài liệu được trên 2524
quyển Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và các văn hướng dẫn thi hành; Tăng
cường công tác kiểm tra trách nhiệm về giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo
được 45 đoàn đối với thủ trưởng cơ quan, UBND các xã, thị trấn; Thực hiện
tốt hình thức tuyên truyền thông qua đối thoại trong công tác bồi thường giải
phòng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cư tại các dự án trên địa bàn. Song song
với công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, UBND huyện luôn tập
trung chỉ đạo các cơ quan chuyên môn thực hiện tốt công tác tiếp công dân,
xử lý các đơn thư phát sinh đặc biệt chú trọng đối với các đơn khiếu nại, tố
cáo thuộc thẩm quyền giải quyết.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được công tác , giải quyết
khiếu nại, tố cáo còn nhiều hạn chế bất cập, một số nơi cấp uỷ chính quyền
địa phương hoặc thủ trưởng các đơn vị chưa quan tâm đúng mức đến công tác
lãnh đạo, chỉ đạo việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; trách nhiệm xem xét, giải
quyết đơn thuộc thẩm quyền ở một số đơn vị còn chậm, nội dung xử lý chưa
đảm bảo thủ tục quy định, thiếu chặt chẽ dẫn đến một số vụ việc giải quyết
tồn đọng, kéo dài. Cá biệt có vụ việc giải quyết không đúng thẩm quyền, một
số vụ việc phát sinh kéo dài do lịch sử để lại chưa được giải quyết hoặc thi
hành dứt điểm, gây bức xúc trong nhân dân, dẫn đến tình trạng phát sinh đơn
thư gửi vượt cấp vẫn còn xảy ra. Những năm gần đây, trên địa bàn huyện Cao
Lộc được chú trọng đầu tư nhiều dự án, công trình trọng điểm nhằm tạo điều
kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội. Cùng với đó, để có
mặt bằng sạch và quỹ đất triển khai các Dự án, công trình UBND huyện phải
thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng. Tuy nhiên
4
- 100% các kết luận sau thanh tra, kiểm tra trách nhiệm tiếp công dân,
giải quyết đơn thư được đôn đốc thực hiện có hiệu quả, đúng tiến độ.
3. Giới hạn của Đề án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề án nghiên cứu về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ
quan hành chính Nhà nước trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
3.2. Không gian: Đề án được áp dụng thực hiện trong phạm vi huyện
Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
3.3. Thời gian: Áp dụng thực hiện trên địa bàn huyện Cao Lộc trong
giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020.
B. NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN
1. Cơ sở xây dựng Đề án
1.1. Cơ sở lý luận
Khiếu nại, tố cáo là sản phẩm cuộc đấu tranh của nhân loại được hình
thành và phát triển bởi nguồn gốc bất bình đẳng về quyền lợi kinh tế, chính
trị. Nó thể hiện bằng hình thức trong lịch sử, như đánh trống kêu oan, đến
công đường kêu kiện hoặc viết đơn gửi hệ thống chính quyền các cấp để giải
bày oan ức mong được giúp đỡ. Tuy chủ thể khiếu nại, tố cáo là cá nhân hay
tổ chức hoặc một bộ phận cộng đồng thì khiếu nại, tố cáo vẫn là sự đòi hỏi
quyền lợi thiết thực về sự công bằng của giai cấp bị trị đối với giai cấp thống
trị, do đó bản chất nó bao giờ cũng mang tính giai cấp và tồn tại khách quan
khi xã hội có phân chia giai cấp. Trong thế giới hiện đại quyền con người nói
chung và quyền khiếu nại nói riêng được công nhận, cam kết, bảo đảm và
được ghi trong các Công ước, Hiệp ước, Hiến chương quốc tế nó được chứng
6
giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, củng cố lòng tin của nhân dân vào
Đảng và Nhà nước. Trong trường hợp các khiếu nại, tố cáo được các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết kịp thời và thỏa đáng thì những
người dân đi khiếu nại, tố cáo và thậm chí cả những người sống xung quanh
họ sẽ cảm thấy Nhà nước đã tôn trọng, lắng nghe ý kiến của họ, quan tâm, lo
lắng đến quyền lợi của họ và cũng tự nhiên họ thấy Nhà nước gần gũi, gắn bó
với họ và đã thực sự là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Nhưng ngược lại
nếu các khiếu nại, tố cáo, các kiến nghị của dân được các cơ quan, cán bộ Nhà
nước đón nhận bằng một thái độ thờ ơ, thiếu trách nhiệm thì cũng chính
những người dân đó sẽ hình thành tâm trạng thiếu tin tưởng và có xu hướng
xa lánh các cơ quan quản lý. Vì vậy, việc giải quyết nhanh chóng, đúng pháp
luật các khiếu nại, tố cáo của công dân, gắn liền với nó là việc khôi phục kịp
thời quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý nghiêm minh những người
sai phạm, tất yếu sẽ góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào chủ trương,
đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, làm cho mối quan
hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước ngày càng gắn bó bền chặt hơn.
1.1.1. Một số khái niệm
* Khái niệm về “chất lượng”:
Theo từ điển tiếng Việt, chất lượng là khái niệm chỉ cái làm nên phẩm
chất, giá trị của sự vật, hiện tượng; là cái tạo nên bản chất sự vật, hiện tượng
làm cho sự vật, hiện tượng này khác với sự vật, hiện tượng khác. Trong triết
học, chất lượng biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, sự việc, chỉ rõ
nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật, sự việc phân biệt nó với các sự
vật, sự việc khác.
Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật. Chất lượng biểu thị ra
bên ngoài các thuộc tính, các tính chất vốn có của sự vật. Quan niệm chung
8
chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ,
công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
3. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh
vực là việc công dân báo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền biết về
hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đối với
việc chấp hành quy định pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực”
Nội dung tố cáo của công dân rất đa dạng và phức tạp; có tố cáo về
những việc làm trái pháp luật của cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước
khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ; có những tố cáo về những sai phạm trong
công tác quản lý của các cơ quan, trong đó có cơ quan quản lý hành chính nhà
nước. Ngoài ra, công dân có thể tố cáo các hành vi vi phạm về đạo đức, lối
sống của cán bộ, công chức…
Việc tố cáo của công dân cũng theo đó mà đòi hỏi Nhà nước phải có
biện pháp giáo dục, trừng trị kịp thời, thậm chí là áp dụng các biện pháp
nghiêm khắc để loại trừ những hành vi trái pháp luật xâm phạm đến lợi ích
của Nhà nước, của tập thể, của cá nhân.
Điểm khác biệt căn bản giữa khiếu nại và tố cáo là: nội dung khiếu nại
liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người khiếu nại; nội dung tố cáo về hành
vi vi phạm pháp luật của người khác có thể không liên quan trực tiếp đến
quyền lợi của người tố cáo.
1.1.2. Giải quyết khiếu nại, tố cáo
1.1.2.1. Giải quyết khiếu nại
Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định
giải quyết khiếu nại (Khoản 11 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011).
10
Người giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
quyết của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp khi được giao.
+ Giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp theo dõi, kiểm
tra, đôn đốc các cơ quan thuộc quyền quản lý trực tiếp của thủ trưởng trong
việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, thi hành quyết định giải quyết khiếu
nại có hiệu lực pháp luật (Điều 25, Luật Khiếu nại).
- Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên
của Mặt trận (Điều 66 Luật Khiếu nại):
+ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận có
trách nhiệm giám sát việc thi hành pháp luật về khiếu nại theo quy định của
Luật này; động viên nhân dân nghiêm chỉnh thi hành pháp luật về khiếu nại;
tổ chức việc tiếp công dân đến khiếu nại; khi nhận được khiếu nại thì nghiên
cứu, hướng dẫn người khiếu nại đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại.
+ Khiếu nại do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành
viên của Mặt trận chuyển đến phải được người giải quyết khiếu nại xem xét,
giải quyết và trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày có quyết định giải quyết phải
thông báo bằng văn bản cho tổ chức đã chuyển đơn biết kết quả giải quyết;
nếu không đồng ý với kết quả giải quyết đó thì tổ chức đã chuyển đơn có
quyền kiến nghị cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết; cơ
quan, tổ chức nhận được kiến nghị có trách nhiệm trả lời kiến nghị đó trong
thời hạn 07 ngày, kể từ ngày có quyết định giải quyết.
1.1.2.2. Giải quyết tố cáo
12
Giải quyết tố cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo
và việc xử lý của người giải quyết tố cáo (Khoản 7 Điều 2 Luật Tố cáo năm
2011)
Người giải quyết tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
viên chức do mình tuyển dụng, bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.
+ Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp
công lập có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật
trong việc thực hiện nhiệm vụ của viên chức quản lý do mình bổ nhiệm.
- Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc
thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức của tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội (Điều 16 Luật Tố cáo): Người đứng đầu cơ quan của tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành
vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức,
viên chức do mình quản lý trực tiếp.
- Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người
được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ mà không phải là cán bộ, công chức,
viên chức (Điều 17 Luật Tố cáo): Người đứng đầu cơ quan, đơn vị quản lý
trực tiếp người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ mà không phải là cán
bộ, công chức, viên chức có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm
pháp luật của người đó trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của
công dân
Giải quyết khiếu nại, tố cáo là công tác quan trọng trong hoạt động của
Đảng, Nhà nước và các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta.
Tiếp công dân có quan hệ chặt chẽ với giải quyết khiếu nại, tố cáo. Muốn thực
14
hiện tốt việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trước hết cần phải thực hiện tốt việc
tiếp công dân, từ đó sẽ khắc phục được tình trạng khiếu nại, tố cáo tràn lan
vượt cấp cũng như các bất cập khác trong giải quyết khiếu nại, tố cáo. Trong
thực tế, tiếp công dân là khâu đầu tiên của quá trình giải quyết khiếu nại, tố
cáo vì vậy công tác này có ý nghĩa rất quan trọng, là tiền đề thuận lợi cho việc
hợp pháp của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân.
- Đối với giải quyết tố cáo phải bảo đảm nguyên tắc:
Việc giải quyết tố cáo phải bảo đảm kịp thời, chính xác, khách quan,
đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và thời hạn theo quy định; bảo đảm an toàn
cho người tố cáo; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân; ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm pháp luật. Bên cạnh
đó, không để xảy ra tình trạng công dân khiếu kiện vượt cấp, đông người; tập
trung thành điểm “nóng”; không có vụ việc bị hủy bỏ, cải sửa, giải quyết lại.
1.1.5. Tiêu chí đánh giá chất lượng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo
Để đánh giá chất lượng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, cần căn cứ
trên các tiêu chí cụ thể như sau:
+ Giải quyết kịp thời, chính xác, khách quan, đảm bảo đúng pháp luật.
+ Giải quyết xong trước hoặc đảm bảo thời gian so với quy định của
Luật Khiếu nại.
+ Thời hạn giải quyết đối với giải quyết tố cáo không vượt quá thời hạn
quy định tại Luật Tố cáo.
+ Người khiếu nại, tố cáo hài lòng về kết quả đã giải quyết, không tiếp
khiếu; hạn chế khiếu nại vượt cấp, đông người góp phần ổn định an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế.
16
+ Tiết kiệm nhân, vật lực của cơ quan giải quyết và chi phí, tiền của,
thời gian đi lại của người khiếu nại.
+ Tuân thủ đầy đủ thủ tục, trình tự, đảm bảo hồ sơ giải quyết theo quy định.
1.2. Cở sở chính trị, pháp lý
1.2.1. Cơ sở chính trị
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, trong
nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế xã hội 5 năm (2016- 2020)
số điều của Luật Tiếp công dân.
- Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2014 của Chính
phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh;
- Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 18/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về
việc chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu
nại, tố cáo;
- Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-TTCP-BNV ngày 08/9/2014 của
Thanh tra Chính phủ - Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của Thanh tra tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương,
Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
- Thông tư 06/2013/TT-TTCP ngày 30/9/2013 của Thanh tra Chính phủ
quy định về quy trình giải quyết tố cáo; Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày
31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định về quy trình giải quyết khiếu
nại hành chính; Thông tư số 46/2012/TTLT-BTC-TTCP ngày 16/3/2012 của
Bộ Tài chính - Bộ Nội vụ quy định chế độ bồi dưỡng đối với cán bộ, công
chức làm công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh.
18
1.3. Cơ sở thực tiễn
Trong những năm qua, cấp ủy và chính quyền tại địa phương đã tích
cực triển khai quán triệt các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo gắn liền với việc triển khai
thực hiện Quyết định số 1133/2013/QĐ-TTg ngày 15/7/2013 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến
pháp luật về khiếu nại, tố cáo ở xã, thị trấn giai đoạn 2013 - 2016” trên địa
bàn huyện Cao Lộc, coi công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật là nhiệm vụ
thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng. Tuy nhiên
đây là một lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị
xung quanh công tác này, nếu không được quan tâm giải quyết đúng mức có
thể sẽ trở thành ‘điểm nóng”. Nhiều vụ việc giải quyết chậm thời hạn, tỷ lệ
giải quyết đạt thấp, một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa quan tâm chỉ
đạo, lãnh đạo, tổ chức thực hiện công tác này. Cá biệt có vụ việc giải quyết
chưa đúng quy trình gây bức xúc trong nhân nhân.
Trước tình hình đó, để hạn chế và giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu
nại, tố cáo, ngoài việc tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục
pháp luật cho người dân, chúng ta cần phải có nhiều giải pháp và phải giải
quyết một cách đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng công tác giải quyết khiếu
nại, tố cáo trên đại bàn huyện Cao Lộc trong thời gian tới.
2. Nội dung thực hiện Đề án
2.1. Bối cảnh thực hiện
Cao Lộc là huyện miền núi biên giới phía Bắc của tỉnh Lạng Sơn, là
huyện có vị trí quan trọng về kinh tế - xã hội, Quốc phòng - an ninh của tỉnh,
có địa hình bao quanh thành phố Lạng Sơn với 21 xã và 02 thị trấn với 206
thôn, khối phố; trong đó có 05 xã, 01 thị trấn biên giới. Tổng diện tích tự nhiên
619,08 km2, có đường biên giới Việt - Trung dài trên 74 km, có 02 cửa khẩu
Quốc tế Hữu Nghị (đường bộ, đường sắt) và 02 cửa khẩu phụ (Pò Nhùng, Co
20
Sâu). Dân số của huyện là 76.337 người với 17.484 hộ gồm các dân tộc gồm 5
dân tộc là Nùng 58,66%, Tày 31,35%, Kinh 7,09%, Dao 2,42%, Hoa 0,42%, các
dân tộc khác 0,06% cùng sinh sống đoàn kết, hòa thuận hăng hái thi đua lao
động sản xuất nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, tin tưởng vào sự lãnh
đạo của Đảng và Nhà nước.
Về kinh tế chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp, đời sống của một bộ
Trong một thời gian dài, pháp luật khiếu nại, tố cáo đã được chỉnh sửa,
hoàn thiện nhiều lần, nhưng thực tiễn cho thấy, công tác giải quyết đơn khiếu
nại, tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước ngày càng bộc lộ nhiều khó
khăn, bất cập và ngày càng gia tăng số lượng các đơn thư khiếu nại, tố cáo của
người dân về các quyết định, hành vi hành chính của các cơ quan nhà nước, ở
tất cả các cấp chính quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà
nước, tổ chức kinh tế, xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và trên hầu hết các
lĩnh vực dân sinh: đất đai, môi trường, y tế, giao thông, xây dựng, kinh
doanh... Tính chất và nội dung khiếu kiện ngày càng phức tạp, nó đặt ra một
yêu cầu cấp bách là phải giải quyết hiệu quả, nhanh chóng những đơn thư
khiếu nại, tố cáo của nhân dân.
Từ những hạn chế bất cập về cơ chế, chính sách cũng như trình độ,
năng lực quản lý ở địa phương trước những yêu cầu khách quan trong quá
trình đổi mới và hội nhập, tình hình kinh tế xã hội của huyện Cao Lộc có
những chuyển biến căn bản, việc mở rộng quy hoạch đất đai xây dựng các
công trình công cộng; triển khai các dự án xây dựng nông thôn mới, các
chương trình dự án khác đầu tư phát triển ở vùng dân tộc thiểu số, việc triển
khai dự án ảnh hưởng và thiệt hại trực tiếp đến đất đai của nhân dân trong sản
xuất nông nghiệp mặt khác các quy định của pháp luật đất đai thiếu đồng bộ,
dẫn đến trên địa bàn huyện trong những năm vừa qua vẫn phát sinh nhiều đơn
thư liên quan đến thu hồi, giải phóng mặt bằng còn kéo dài nhiều năm như Dự
22
án Trung tâm Thương mại Đồng Đăng, Dự án cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị....
chưa được giải quyết dứt điểm.
2.2. Thực trạng vấn đề cần giải quyết của đề án
2.2.1. Những kết quả đạt được trong công tác giải quyết khiếu nại, tố
cáo ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
2011
27
26
96,2%
3
3
100%
2012
21
21
100%
3
3
100%
2013
11
91,6%
6
6
100%
6
tháng
đầu năm
2016
4
4
100%
3
2
66,6%
23
khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; Văn bản số 174/UBND-BTCD
ngày 05/3/2015 về việc chấn chỉnh, nâng cao vai trò, trách nhiệm của người
đứng đầu trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; Văn bản số
579/UBND-BTCD ngày 22/6/2015 về việc thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng
Chính phủ về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; Văn bản số
93/UBND-BTCD ngày 28/01/2016 về việc nâng cao vai trò, trách nhiệm, hiệu
quả công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm đảm bảo ổn
định tình hình xã hội, không phát sinh điểm nóng về khiếu nại, tố cáo.
Việc công dân đến kiến nghị, phản ánh tại nơi ở cấp xã có chiều hướng
giảm so với những năm trước đây, nhưng có sự gia tăng về số lượng tại Uỷ
24
ban nhân dân cấp huyện. Nội dung chủ yếu là tranh chấp đất đai, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, chế độ, chính sách về công tác thu hồi đất, bồi
thường giải phóng mặt bằng các dự án ... Từ thực trạng trên cho thấy chất
lượng ở cơ sở còn hạn chế, một số đơn vị chưa quan tâm đến công tác này,
gây bức xúc và thiếu tin tưởng của công dân đối với chính quyền cấp xã mà
có xu hướng đến cơ quan cấp trên để yêu cầu, kiến nghị, phản ánh. Mặt khác
thể hiện trình độ dân trí, năng lực nhận thức, ý thức pháp luật của công dân
còn hạn chế, có tâm lý yêu cầu cơ quan cấp trên xem xét thì sẽ được giải
quyết nhanh chóng.
Đơn khiếu nại, tố cáo ít phát sinh hơn so với đơn đề nghị, nhưng các vụ
việc đều có tính chất phức tạp, văn bản áp dụng giải quyết có nhiều bất cập,
thường xuyên thay đổi, một số vụ việc cần phải xin ý kiến cơ quan cấp trên;
năng lực trình độ, của một một phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng được
yêu cầu.
2.2.2. Những tồn tại cần giải quyết
Từ đánh giá thực trạng kết quả giải quyết khiếu nại tố cáo trong những
định, kết luận chưa nghiêm. Công tác xử lý đối với cán bộ có sai phạm còn nể
nang, chưa triệt để.
2.2.3. Nguyên nhân của những tồn tại
* Nguyên nhân khách quan
- Một số văn bản hướng dẫn về quy trình, thủ tục , tiếp nhận xử lý đơn
thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo còn nhiều bất cập, chậm được ban hành, thiếu
cơ chế đồng bộ cho việc xử lý, giải quyết; Cơ chế, chính sách, pháp luật còn
có những bất cập, chưa phù hợp thực tế; công tác quản lý nhà nước còn có
những yếu kém, sai phạm, nhất là trong lĩnh vực đất đai. Trong nhiều trường