1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRẦN NGỌC VĂN GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN QUỐC THÀNH
Tác giả
Trần Ngọc Văn 3
CHÚ THÍCH NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1 CBGV : Cán bộ, giáo viên
2 CBQL : Cán bộ quản lí
3 CNH-HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
4 CSVC : Cơ sở vật chất
5 GV : Giáo viên
6 GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo
7 HS : Học sinh
8 HĐGD : Hội đồng giáo dục
9 HĐND : Hội đồng nhân dân
13 QLGD : Quản lí giáo dục
14 UBND : Ủy ban nhân dân
16 THCS : Trung học cơ sở
17 THPT : Trung học phổ thông
19 TTGDTX : Trung tâm giáo dục thường xuyên
Thống kê số liệu cơ sở vật chất giáo dục Trung học phổ
thông năm học 2009 – 2010
43
Bảng 2.5.
Nhận thức về tầm quan trọng và ý nghĩa của công tác xã
hội hoá giáo dục Trung học phổ thông
44
Bảng 2.6.
Nhận thức về mục tiêu xã hội hoá giáo dục trung học
phổ thông
45
Bảng 2.7.
Nhận thức về lợi ích xã hội hoá giáo dục THPT
47
Bảng 2.8.
Mức độ thực hiện các nội dung xã hội hoá giáo dục THPT
50
Bảng 2.9.
Thống kê số liệu kinh phí đầu tư, đóng góp cho giáo dục
Trung học phổ thông từ năm 2009 – 2010 (Đơn vị tính :
Triệu đồng) 54
Bảng 2.10.
Số liệu thống kê học sinh tốt nghiệp lớp 12 và thi đỗ Đại
học, cao đẳng năm 2009 – 2010 .Tỷ lệ HS không có việc
Biểu đồ 2.1.
Nhận thức về tầm quan trọng và ý nghĩa của công tác xã
hội hoá giáo dục Trung học phổ thông
44
Biểu đồ 2.2.
Nhận thức về mục tiêu xã hội hoá giáo dục trung học phổ
thông
46
Biểu đồ 2.3.
Nhận thức về lợi ích xã hội hoá giáo dục Trung học phổ
thông
48
Biểu đồ 2.4:
Số liệu thống kê học sinh tốt nghiệp lớp 12 và thi đỗ Đại
học, cao đẳng năm 2009 – 2010 và tỷ lệ HS có việc làm
sau khi tốt nghiệpTrung học phổ thông 56 6
MỤC LỤC
9
1.2. Xã hội hoá và xã hội hoá giáo dục ………………………… ….…
15
1.2.1. Xã hội hoá .…………………………… ……………… …….
15
1.2.2. Xã hội hóa giáo dục …………………………… …….……….…
17
1.3. Xã hội hoá giáo dục trung học phổ thông………… ………………
24
1.3.1. Giáo dục trung học phổ thông…………… ……………………
24
1.3.2. Các nội dung xã hội hóa giáo dục Trung học phổ thông…………
25
1.3.3. Vai trò của các lực lượng xã hội trong xã hội hóa giáo dục
THPT……………………………………………………………………
27
1.4. Quan điểm của đảng và nhà nước về xã hội hoá giáo dục trung học
phổ thông…………………………………………………………………
28
1.4.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa giáo dục……….
28
1.4.2. Các chủ trương và chính sách về xã hội hóa giáo dục THPT… …
33
Kết luận Chương 1…………………………………………………….…
36
7
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC
55
2.4. Đánh giá kết quả xã hội hoấ THPT của huyện Văn Qaun, tỉnh Lạng
Sơn………………………………….…………………… ……………
59
2.4.1. Những việc đã làm được………………………………………
59
2.4.2. Những hạn chế, tồn tại………………………………………….…
60
2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại
63
Kết luận Chương 2………………………………………………… …
67
Chƣơng 3: CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG CÔNG TÁC XÃ
HỘI HOÁ GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN 68
3.1. Định hướng phát triển giáo dủctung học phổ thông trên địa bàn tỉnh
và huyện văn Quan, Lạng Sơn
68
3.1.1. Định hướng phát triển Giáo dục và Đào tạo ……… ……………
68
3.1.2. Định hướng phát triển giáo dục đào tạo trên địa bàn tỉnh
69
3.1.3. Định hướng phát triển giáo dục THPT trên địa bàn huyện Văn
Quan
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xã hội hoá giáo dục là một tư tưởng chiến lược lớn của Đảng ta, đã được
thể hiện trong các văn kiện nghị quyết qua các kỳ Đại hội như Văn kiện Đại hội
Đảng lần thứ VIII đã chỉ rõ: “ Xuất phát từ nhận thức chăm lo cho con người,
cho cộng đồng xã hội là trách nhiệm của toàn xã hội, của mỗi đơn vị, của từng
gia đình, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, chúng ta chủ trương
giải quyết các vấn đề xã hội theo tinh thần xã hội hoá” [6, tr.114].
Quán triệt tư tưởng chiến lược của Đảng nhằm đẩy mạnh xã hội hoá
giáo dục, Chính phủ đã có Nghị quyết số 90/NQ-CP về phương hướng và chủ
trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá; đồng thời ban hành
Nghị định số 73/1999/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với
các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao, quy định cụ thể
chính sách khuyến khích các cơ sở ngoài công lập trên các mặt cơ sở vật chất,
đất đai, thuế, lệ phí, tín dụng bảo hiểm. Điều 11 Luật Giáo dục đã ghi: “ Mọi
tổ chức, gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo cho sự nghiệp giáo
dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, phối
hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục. Như vậy Nhà nước giữ vai
trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hoá các
loại hình nhà trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và
tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo
dục.”[9, tr.12].
Như vậy xã hội hoá giáo dục là tư tưởng chiến lược, coi sức mạnh của
toàn xã hội là điều kiện không thể thiếu để phát triển có chất lượng và hiệu
quả cho sự nghiệp giáo dục.
Thực tế triển khai công tác xã hội hoá giáo dục hơn 10 năm qua đã đi
vào chiều sâu và đem lại những đóng góp đáng kể cho sự nghiệp giáo dục
2
3
Việc phân cấp quản lí giữa các tổ chức để thực hiện xã hội hoá giáo dục
chưa thật đầy đủ và hợp lí, chưa tạo quyền tự chủ, năng động cho địa phương
và cơ sở thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục. Sự phối hợp giữa các ngành
có liên quan để triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước
còn chậm và chưa đồng bộ. Việc triển khai xã hội hoá giáo dục chưa đồng đều
giữa các địa phương. Các điều kiện đảm bảo ổn định và nâng cao chất lượng
dạy và học của các trường công lập hiện là vấn đề rất đáng quan tâm, đó là sự
ổn định, đồng bộ và chất lượng của đội ngũ giáo viên, trường sở và trang thiết
bị, chất lượng của học sinh nhập học. Việc phân định chính xác các loại hình
trường bán công, dân lập, tư thục trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn khi đối
chiếu với những qui định pháp lí.
Việc thực hiện xã hội hoá ở Trung học phổ thông trên địa bàn huyện
Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn đã được thực hiện nhưng hiệu quả chưa cao, các
hoạt động xã hội hoá còn mang tính tự phát, không được quản lí một cách
chặt chẽ, không phát huy được tính tự giác của giáo viên, từ đó ảnh hưởng
đến chất lượng giáo dục - đào tạo. Do đó nghiên cứu các giải pháp thực hiện
quản lí giáo dục theo mô hình xã hội hoá nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn là một việc
rất quan trọng và cần thiết, phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của kinh tế xã
hội đất nước và trên địa bàn. Từ những lí do trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu
đề tài “Giải pháp tăng cường công tác xã hội hoá giáo dục Trung học phổ
thông trên địa bàn huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn công tác xã hội hoá giáo dục
Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Văn Quan, đề xuất các giải pháp đẩy
mạnh xã hội hoá giáo dục Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Văn Quan
trong thời gian tới.
5
- Đề tài khảo sát toàn bộ số cán bộ quản lí của 2 trường và một số cán
bộ quản lý thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lạng Sơn; 100 giáo viên và 200
cha mẹ học sinh.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Các phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Phân tích làm rõ những vấn đề lí luận về giáo dục học, xã hội hoá, xã
hội hoá giáo dục, quản lí giáo dục, chất lượng giáo dục.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Tổng hợp, thống kê phân tích các số liệu về xã hội hoá giáo dục Trung
học phổ thông (trong đó có các số liệu của các cơ quan quản lí đối với công
tác xã hội hoá giáo dục trung học phổ thông).
- Phương pháp điều tra viết bằng phiếu hỏi các đối tượng: cán bộ
quản lý, giáo viên Trung học phổ thông, cha mẹ của học sinh nhằm mục đích
đánh giá thực trạng của việc phối hợp hoạt động trong công tác xã hội hoá
giáo dục Trung học phổ thông.
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn các nhà quản lý, các nhà giáo
dục về công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường Trung học phổ thông hiện
nay về kết quả, định hướng phát triển của xã hội hóa giáo dục Trung học
phổ thông.
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến đánh giá của các chuyên gia có uy
tín, trình độ cao trong lĩnh vực xã hội hoá giáo dục và các giải pháp phối hợp
trong xã hội hoá giáo dục Trung học phổ thông của huyện Văn Quan, tỉnh
Lạng Sơn.
- Phương pháp quan sát các hoạt động xã hội hoá giáo dục ở các trường
Trung học phổ thông của huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn để thu thập thông
tin về vấn đề việc phối hợp chỉ đạo hoạt động công tác xã hội hoá giáo dục
Trung học phổ thông.
6
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA XÃ HỘI HOÁ
GIÁO DỤC VÀ XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu về xã hội hoá giáo dục - đào tạo
Lịch sử nghiên cứu vấn đề xã hội hoá sự nghiệp giáo dục đã có từ rất
lâu, đó không phải là vấn đề hoàn toàn mới nếu xem xét nó về bản chất.
Hoạt động xã hội hoá giáo dục đã xuất hiện và có bề dày lịch sử trong các
chế độ xã hội và thể chế chính trị. Đảng ta luôn coi trọng vai trò của xã hội
hoá giáo dục, xác định là một chủ trương lớn để phát triển giáo dục và được
thực hiện từ nhiều năm qua với phương châm: “Giáo dục là sự nghiệp của
toàn dân”. Tư tưởng: “lấy dân làm gốc” đã thể hiện sâu sắc trong quá trình
phát triển của lịch sử và chân lý về vai trò của quần chúng nhân dân đã được
khẳng định: “ Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng
xong”. Sự nghiệp giáo dục của Đảng đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, luôn nêu cao khẩu hiệu: “ Cách mạng là sự
nghiệp của quần chúng nhân dân” . Những tư tưởng đó đã trở thành định
hướng, thành kim chỉ nam và được vận dụng có hiệu qủa trong công tác giáo
dục ở Việt Nam.
Nhân dân ta đã có truyền thống coi trọng việc học. Theo lịch sử hình
thành và phát triển của nền giáo dục Việt Nam, ngay từ thời phong kiến, Nhà
nước chỉ mở rất ít trường để dạy học cho con cháu của quan lại và một bộ
phận con nhà giàu. Vấn đề học tập của con em nhân dân đều do nhân dân lao
động tự lo liệu, dưới hình thức các thầy đồ tự mở lớp (trường tư) hoặc nhân
dân tự nguyện góp tiền tổ chức mời thầy dạy (dân lập). Trong hương ước của
một số địa phương còn ghi rõ về chế độ học điền (ruộng dành cho việc học),
chăm lo vật chất, khích lệ, cổ vũ người học, tôn vinh những người học hành
8
của nền giáo dục cả về số lượng và chất lượng. Đảng và Nhà nước đã thực
hiện các đợt cải cách giáo dục nhưng còn chắp vá, chất lượng giáo dục
chưa được đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, nhất là vào thời điểm
nhân loại đã bước trong thời kì khoa học và kĩ thuật phát triển mạnh; xu thế
hội nhập quốc tế, toàn cầu hoá, đa phương hoá là quy luật tất yếu để phát
triển đất nước.
Từ đó đến nay, tại các kỳ Đại hội Đảng, các Hội nghị của Ban chấp
hành Trung ương Đảng đã khẳng định giáo dục - đào tạo là động lực, là điều
kiện cơ bản để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội và xác định chủ trương
thực hiện phát triển giáo dục - đào tạo: “Tăng cường đầu tư cho giáo dục từ
ngân sách Nhà nước và đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục - đào tạo”.
Không chỉ ở Việt Nam mà nhiều nơi trên thế giới đều rất quan tâm đến
việc xây dựng và củng cố công tác giáo dục gắn liền với phát triển cộng đồng
với mục đích vì lợi ích cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Như vậy, xã hội hoá giáo dục là một hệ thống định hướng hoạt động
của mọi người, mọi lực lượng nhằm trả lại bản chất xã hội cho giáo dục, và
giáo dục có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu của xã hội đề ra.
Nhiều tác giả trong nước đã tập trung nghiên cứu vấn đề xã hội hóa
giáo dục nhằm làm sáng rõ những quan điểm của Đảng, nêu lên những giải
pháp tổ chức thực hiện.
1.1.2. Các nghiên cứu về xã hội hoá giáo dục Trung học phổ thông
* Nghiên cứu xã hội hoá giáo dục THPT ở nước ngoài
Từ lâu, giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu của nhiều quốc gia
trên thế giới. Tìm hiểu cách làm giáo dục ở nhiều nước cho thấy xã hội hoá sự
nghiệp giáo dục là cách làm phổ biến, kể cả ở những nước có nền công nghiệp
hiện đại – kinh tế phát triển cao.
Có thể khẳng định rằng, mặc dù bản chất của giáo dục ở các nước có
khác nhau nhưng đều có điểm chung là huy động mọi nguồn lực và mọi điều
10
11
- Được tự quản về tài chính: nhà trường có quyền được nhận, phân bổ,
sử dụng tài chính theo yêu cầu của nhà trường, được phép chuyển tiền dư thừa
sang năm sau
- Tự quản về nhân sự, chủ động trong việc điều hành nhân sự: hợp
đồng, chấm dứt hợp đồng, sa thải, tăng lương, đề bạt cho giáo viên và cán bộ
công nhân viên
- Xây dựng tương lai phát triển cho nhà trường bằng ý kiến của tập thể.
- Có chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục phù hợp với chuẩn chung của
quốc tế và yêu cầu của địa phương. Chất lượng học sinh đạt chuẩn cao.
- Phân quyền quản lý rõ ràng và được thay đổi cơ cấu tổ chức nhà
trường để có nhiều người tham gia vào việc ra quyết định: giáo viên, nhân
viên phục vụ, phụ huynh, các thành viên cộng đồng. Thường xuyên đầu tư
nâng cao năng lực đội ngũ.
- Giáo viên và nhân viên nhà trường có nhiều sáng kiến cải tiến, chủ động
trong công việc. Giáo viên và nhân viên của nhà trường có tinh thần trách nhiệm
cao, hoàn thành mọi công việc được giao. Có phương thức và chủ động khen
thưởng bằng vật chất và tinh thần cho các thành viên trong nhà trường.
- Thoả mãn các nhu cầu về giáo dục. Cha mẹ học sinh và cộng đồng
tham gia tích cực vào việc giáo dục học sinh. Có hệ thống thông tin và thường
xuyên truyền thông tin về nhà trường trong nội bộ và trong cộng đồng. Ứng
dụng công nghệ thông tin vào trong dạy học và quản lý nhà trường.
- Đảm bảo công bằng trong giáo dục. Kiểm tra đánh giá dựa trên tiêu
chuẩn. Bầu không khí sư phạm hợp tác, dân chủ.
- Phát triển năng khiếu của học sinh, học sinh có phương pháp tự học,
tự quản tốt.
- Nhà trường được chính quyền địa phương hỗ trợ và khuyến khích các
hoạt động cải cách như hỗ trợ về kĩ thuật, đáp ứng các yêu cầu của nhà
trường, tạo điều kiện để trường tự quản.
13
trong nhà trường hôm nay có khi phải hàng chục năm sau mới có điều kiện
đánh giá đầy đủ, chính xác.
Giáo dục Trung học phổ thông là một bộ phận cấu thành của hệ thống
giáo dục quốc dân; nó vừa bị chi phối, vừa có tác động qua lại với nhiều nhân
tố khác như chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học – công nghệ. Những mối
quan hệ này lúc trực tiếp, lúc gián tiếp, lúc tức thời, lúc lâu dài. Do vậy, việc
thực thi các chủ trương, chính sách về giáo dục Trung học phổ thông và kết
quả mang lại của nó phụ thuộc rất nhiều vào việc giải quyết một cách đúng
đắn, hợp quy luật các mối quan hệ này.
Từ năm 1986, đất nước ta bước vào giai đoạn chuyển đổi của nền kinh
tế, từ một nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước
theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Xuất phát từ đường lối đổi mới do Đại hội
Đảng lần thứ VI, VII đề ra, Nhà nước ta đã chuyển hệ thống giáo dục quốc
dân từ mục tiêu phục vụ cho nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang phục vụ
cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong thời kỳ chuyển
đổi này về giáo dục, Nhà nước đã có chủ trương:
- Đối với các cấp học trên tiểu học thì huy động sự đóng góp của nhiều
tầng lớp dân cư.
- Đào tạo không chỉ thoả mãn nhu cầu về nhân lực của kinh tế quốc
doanh và biên chế nhà nước mà còn thoả mãn nhu cầu của nguồn nhân lực lao
động của mọi thành phần kinh tế và nhu cầu của xã hội, đào tạo bằng nhiều
nguồn tài chính và theo phương thức, kế hoạch mềm dẻo. Người tốt nghiệp tự
tìm, tự tạo việc làm.
- Mở rộng cơ hội học tập để mọi người có thể cập nhật, đổi mới kiến
thức và rèn luyện các kĩ năng làm việc.
- Mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục, thực hiện chính
sách của nhà nước ta, mở cửa trong công tác đối ngoại, hợp tác với các nước
trên thế giới ở các mặt kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ
15
- Các biện pháp huy động cộng đồng tham gia quản lý giáo dục trung
học phổ thông trên địa bàn Thành phố Thái Bình trong giai đoạn hiện nay
(Luận văn Thạc sĩ QLGD của tác giả Phạm Đồng Thụy, Đại học QG Hà Nội).
- Giải pháp tăng cường công tác xã hội hóa giáo dục trên địa bàn huyện
Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang (Luận văn Thạc sĩ QLGD của tác giả Nguyễn
Trung Kiên, Đại học Sư phạm Hà Nội).
- Giải pháp tăng cường công tác xã hội hóa sự nghiệp giáo dục trên địa
bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay (Luận văn Thạc
sĩ QLGD của tác giả Thân Văn Dàn, Đại học Quốc gia Hà Nội).
- Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa sự
nghiệp giáo dục cấp Trung học phổ thông tỉnh Bắc Giang (Luận văn Thạc sĩ
QLGD của tác giả Ngô Thanh Sơn, Đại học Quốc gia Hà Nội).
Tuy nhiên, công tác xã hội hoá giáo dục trung học phổ thông vẫn chưa
đáp ứng được các nhu cầu của người học và yêu cầu chuẩn bị nguồn nhân lực
sau trung học phổ thông. Do khả năng học tập, làm việc phù hợp với năng lực
nhận thức và định hướng nghề nghiệp, chỉ có một bộ phận nhỏ học sinh Trung
học phổ thông học lên Đại học, đại đa số học sinh Trung học phổ thông mong
muốn được học nghề và có nhu cầu được đi làm sau khi tốt nghiệp. Trong khi
đó, hệ thống trường Trung học phổ thông của nước ta chưa có các trường
Trung học phổ thông phân luồng và dạy nghề như giáo dục phổ thông ở một
số nước tiên tiến nên vấn đề mấu chốt của “đầu ra cho sản phẩm giáo dục”
chưa được giải quyết nên những tác động tích cực của khía cạnh xã hội hoá
chưa thực sự có hiệu quả.
1.2. Xã hội hoá và xã hội hoá giáo dục
1.2.1. Xã hội hoá
Thuật ngữ xã hội hoá (socialization) đã được các nhà xã hội học sử
dụng để mô tả những phương pháp, cách thức mà con người học hỏi các giá
trị, các chuẩn mực xã hội đề ra, tạo cơ sở cho việc hình thành và nhân cách
17
nghiệp, các tổ chức xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia
giải quyết vấn đề xã hội. Xã hội hoá là quá trình hội nhập của một cá nhân và
xã hội hay một trong các nhóm của xã hội thông qua quá trình học các chuẩn
mực và các giá trị xã hội. Đó cũng là quá trình tiếp thu và phê phán các giá trị
chuẩn mực và khuôn mẫu hành động mà trong đó mỗi thành viên xã hội tiếp
nhận và duy trì được năng lực hành động xã hội.
Những quan điểm trên đây đã nêu lên nội dung cơ bản thuộc phạm trù
xã hội hoá. Cho dù các định nghĩa có khác nhau nhưng cốt lõi của xã hội hoá
là sự tương tác, mối liên hệ, thuộc tính vốn có của con người, của cộng đồng
diễn ra trong tất cả lĩnh vực đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, trong
mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau; có thể hiểu xã hội hoá một cách đầy đủ nhất
theo định nghĩa sau:
Xã hội hoá là quá trình cá nhân nhờ hoạt động, tiếp thu giáo duc, giáo
lý mà học hỏi được cách sống trong cộng đồng, trong đời sống xã hội và
phát triển được khả năng đảm nhiệm các vai trò xã hội với tư cách vừa là cá
thể vừa là một thành viên của xã hội.
Khái niệm “xã hội hoá” nói trên không đồng nghĩa với khái niệm “xã
hội hoá” một hoạt động nào đó (như xã hội hoá giáo dục, văn hoá, y tế, thể
dục thể thao) mà chúng ta đặt ra. Trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Đảng
ta luôn vận dụng và phát triển chủ trương xã hội hoá, coi trong việc phát huy
lực lượng toàn xã hội vào quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị như một
đường lối vận động quần chúng trong từng thời kỳ cách mạng, nó chứa đựng
tư tưởng chiến lược, quan điểm chỉ đạo của Đảng ta đối với công cuộc phát
triển đất nước.
1.2.2. Xã hội hóa giáo dục
1.2.2.1. Khái niệm xã hội hoá giáo dục
Xã hội hoá giáo dục là một hoạt động giáo dục có tính chất đa dạng về
mặt xã hội, có sự tham gia của nhiều thành phần, nhiều lực lượng trong xã