BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRỊNH THỊ HẰNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN TRIỆU SƠN THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤCNGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRỊNH THỊ HẰNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN TRIỆU SƠN THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
Người hướng dẫn khoa học: TS. PHAN QUỐC LÂM
NGHỆ AN - 2014
LỜI CẢM ƠN
bOa
Bằng những tình cảm chân thành nhất, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc đến:
- Các vị lãnh đạo trường Đại học Vinh, tập thể các giảng viên, các nhà
Cán bộ quản lý : CBQL
Cơ sở vật chất: CSVC
Công nghệ thông tin: CNTT
Công nghệ thông tin cà truyền thông: CNTT&TT
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa: CNH, HĐH
Cơ sở vật chất: CSVC
Giáo dục và Đào tạo: GD& ĐT
Giáo dục thường xuyên và dạy nghề: GDTX&DN
Hội đồng nhân dân: HĐND
Kinh tế – xã hội: KT-XH
Quản lý giáo dục: QLGD
Tiểu học: TH
Trung học cơ sở: THCS
Trung học chuyên nghiệp; THCN
Trung học phổ thông: THPT
Trung tâm học tập cộng đồng: TTHTCĐ
Trung ương: TW
Uỷ ban nhân dân: UBND
Xã hội hóa: XHH
Xã hội hóa giáo dục: XHHGD
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1.Tổng hợp số lượng đội ngũ cán bộ quản lý THCS huyện Triệu
Sơn 39
Bảng 2.2. Trình độ CBQL THCS huyện Triệu Sơn 39
Bảng 2.3 : Độ tuổi CBQL THCS huyện Triệu Sơn 40
Bảng 2.4: Quy mô giáo dục THCS huyện Triệu Sơn 41
Bảng 2.5. Tổng hợp số lượng cán bộ giáo viên khối THCS 42
Bảng 3.1. Kết quả thăm dò tính cần thiết của các giải pháp 89
phổ biến, có tính quy luật giữa cộng đồng với xã hội. Thiết lập được mối quan
hệ này là làm cho giáo dục phù hợp với sự phát triển xã hội "Mỗi người dân
đều nhận thấy đó là trách nhiệm của mình, nên đều tự nguyện và tích cực phối
hợp hành động, đồng thời chính họ là người hưởng thụ mọi thành quả của
hoạt động đó đem lại"
Tuy nhiên, công tác xã hội hóa giáo dục còn gặp không ít khó khăn, trở
ngại. Trước đây chúng ta có một thời gian dài sống trong cơ chế nhà nước bao
cấp về mọi mặt, cơ chế tạo tâm lý thu động, trông chờ ỷ lại vào nhà nước.
Vì vậy cùng với việc tăng cường đầu tư cho giáo dục từ nguồn ngân sách
nhà nước, cần làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục nhằm tạo sự chuyển biến
mạnh mẽ và toàn diện và vững chắc đối với sự nghiệp giáo dục, thể hiện quan
điểm của Đảng "Coi giáo dục là quốc sách hàng đầu".
Triệu Sơn là một huyện bán sơn địa nằm ở phía Tây - Nam của Châu thổ Sông
Mã, Sông Chu của tỉnh Thanh Hoá, tiếp giáp với các huyện miền núi Thường Xuân
và Như Thanh nên Triệu Sơn đã hình thành hai dạng địa hình cơ bản đó là:
Địa hình trung du - miền núi gồm 8 xã
Địa hình đồng bằng gồm 28 xã, thị trấn
Tỷ lệ hộ nghèo chiếm 16.73,0% tổng dân số, nghề nghiệp chủ yếu của
người dân là nông nghiệp, lâm nghiệp.
Giáo dục Triệu Sơn và việc triển khai công tác XHHGD đã có bước phát
triển hơn so với một số huyện của Tỉnh Thanh hoá. Tuy vậy, so với tiềm năng
và yêu cầu phát triển giáo dục đào tạo thì vẫn chưa đáp ứng được, chất lượng
giáo dục còn nhiều hạn chế, nhiều khó khăn thách thức mới nảy sinh, nhận
thức của nhân dân, kể cả các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các đoàn thể và một
bộ phận nhà giáo về công tác GD&ĐT, công tác XHHGD còn nhiều hạn chế.
2
Để tiếp tục phát triển giáo dục nói chung và giáo dục THCS nói riêng,
việc tìm ra "Một số giải pháp tăng cường công tác xã hội hóa giáo dục THCS
huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa" trong giai đoạn hiện nay là một việc rất
quan trọng và cần thiết.
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động
6.3. Nhóm phương pháp thống kê toán học
Điều tra lấy số liệu sử lý bằng phương pháp thống kê toán học.
7. Đóng góp của đề tài
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận của các vấn đề
XHHGD và nâng cao hiệu quả quản lý công tác XHHGDTHCS.
- Đánh giá được thực trạng quản lý công tác XHHGD THCS huyện Triệu
Sơn, Thanh Hóa.
- Đề xuất một số giải pháp cụ thể trong việc nâng cao hiệu quả quản lý
công tác XHHGD THCS ở huyện Triệu Sơn tỉnh Thanh Hóa.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, luận văn gồm có 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về Xã hội hóa giáo dục
Chương 2: Thực trạng công tác XHHGD Trung học cơ sở ở huyện Triệu
Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
Chương 3: Một số giải pháp quản lý công tác XHHGD THCS huyện Triệu
Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC
1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Trên thế giới, từ lâu rất nhiều nước đã quan tâm đến việc xây dựng và
củng cố các tổ chức trực tiếp phục vụ cho giáo dục với quan điểm coi con
người là trung tâm của sự phát triển. Ngay từ năm 1947, Nhật Bản đã đặt giáo
dục vào vị trí hàng đầu của chính sách quốc gia. Trung Quốc đã xác định:
“Đưa giáo dục vào vị trí ưu tiên cho sự phát triển”. Ấn Độ cũng huy động xã
hội tham gia công tác giáo dục gắn với phát triển nông thôn, huy động cộng
dục của mình, nước Mỹ đặc biệt quan tâm đến yêu cầu một nền giáo dục được
xây dựng trên nền tảng công nghệ thông tin và xã hội tri thức để đón đầu sự
phát triển của nền kinh tế Mỹ trong thế kỷ XXI.
Hàn Quốc là một quốc gia có hệ thống trường học hiện đại. Học sinh
bắt buộc phải học tiểu học và THCS nhưng không phải trả chi phí giáo dục,
ngoại trừ một khoản phí nhỏ gọi là "Phí hỗ trợ hoạt động của nhà trường".
Khoản phí này khác nhau tùy theo từng trường học. Chương trình đánh giá
học sinh quốc tế - do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế thế giới (OECD)
khởi xướng và chỉ đạo - hiện đang xếp hạng giáo dục khoa học của Hàn Quốc
tốt thứ ba trên thế giới và cao hơn mức trung bình của OECD.
Hiện nay, giáo dục Hàn Quốc phát triển mạnh mẽ, đứng vào những nước
có tỷ lệ mù chữ thấp nhất thế giới. Ngân sách Nhà nước về giáo dục thay đổi
theo từng năm tài chính, nhưng trên nguyên tắc chiếm 22,7% tổng nguồn chi
của Chính phủ và chiếm 3-4% tổng thu nhập quốc dân. Giáo dục tiểu học là
bắt buộc và miễn phí. Ở các vùng nông thôn Hàn Quốc, giáo dục bắt buộc kéo
6
dài thêm 3 năm (Tức là học sinh phải học hết lớp 9), hệ thống giáo dục bậc
trung học phổ thông được cải cách lại vào năm 1974, xóa bỏ việc thi chuyển
cấp. Do vậy, số lượng học sinh THPT tăng lên đáng kể. Hàn Quốc có 152
trường dạy nghề với gần 1 triệu học sinh theo học, 80% trường dạy nghề
thuộc sự điều hành của tư nhân, tuy nhiên vẫn nằm trong sự kiểm soát của Bộ
Giáo dục Hàn Quốc. Giáo dục phi chính quy được phổ biến ở hai loại hình:
Các chương trình giáo dục tiếp tục cho thanh niên, người trưởng thành chưa
hoàn thành giáo dục chính quy và các khóa học ngắn hạn đào tạo bổ sung cho
những người mới ra đi làm không nằm trong nhóm học sinh, sinh viên .
Năm 1993, các trường tư thục ở Hàn Quốc tiếp nhận tới 61% số lượng
học sinh phổ thông trung học và 81% các bậc cao đẳng, đại học. Vai trò to lớn
của khu vực tư nhân trong giáo dục đã đặt ra những vấn đề quan trọng về tính
công bằng trong tiếp cận giáo dục. Hàn Quốc tập trung các nguồn lực cộng
đồng cho giáo dục cơ sở và lựa chọn thêm trong việc kết hợp nguồn lực Nhà
dạy học “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”.
Trong thời đại ngày nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng: “Giáo dục
phải cung cấp cho cán bộ kinh tế, kinh tế tiến bộ thì giáo dục mới tiến bộ
được. Nếu kinh tế không phát triển thì giáo dục cũng không phát triển được.
Giáo dục không phát triển thì không có đủ cán bộ kinh tế phát triển. Hai việc
đó liên quan mật thiết với nhau”.
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 02/09/1945 nước Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời, Đảng và Nhà nước ta quyết tâm xây dựng
nền giáo dục Việt Nam mới - Nền giáo dục của toàn dân, trong suốt những
8
năm chiến tranh chống giặc ngoại xâm, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn nhưng
Đảng và Nhà nước vẫn dành sự quan tâm đặc biệt cho GD&ĐT.
Trên cơ sở quan điểm của Đảng, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 90
ngày 21 tháng 8 năm 1997 về phương hướng và chủ trương XHH các hoạt
động giáo dục nhằm cụ thể hóa chủ trương, nội dung, biện pháp XHH hoạt
động GD& ĐT.
Vấn đề XHHGD đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu
trong nước. Tác giả Phạm Minh Hạc là người đã viết nhiều tài liệu về
XHHGD, có nhiều bài phát biểu chỉ đạo phong trào XHHGD.
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định:
“Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo. Rà soát, sắp xếp lại mạng lưới các
trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Đổi mới cơ
chế quản lý, nâng cao chất lượng các trường công lập; bổ sung chính sách ưu
đãi để phát triển các trường ngoài công lập và các trung tâm giáo dục cộng
đồng”. [20, 208].
Tác giả Phạm Tất Dong trong cuốn “Xã hội hóa công tác giáo dục” đã
làm rõ nội hàm khái niệm xã hội hóa công tác giáo dục và coi xã hội hóa là
một khái niệm đã vận động trong thực tiễn đấu tranh cách mạng ở Việt Nam,
qua mỗi giai đoạn khái niệm đó lại được phát triển thêm, nội hàm phong phú
hơn.
và có kế hoạch của thầy và trò, để sao cho dưới tác động chủ đạo của thầy,
học sinh tự giác tích cực và độc lập, hình thành những quan điểm, niềm tin,
định hướng giá trị, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, những động cơ, thái độ, kỹ
năng, kỹ xảo và các thói quen của các hành vi đúng đắn trong các quan hệ
chính trị, đạo đức, pháp luật,… thuộc các lĩnh vực đời sống xã hội”.
10
Theo PGS.TS Phạm Minh Hùng thì khái niệm Giáo dục được hiểu ở
nhiều cấp độ khác nhau:
Ở cấp độ rộng nhất: Giáo dục là quá trình hình thành nhân cách dưới ảnh
hưởng của tất cả các tác động (bao gồm các tác động tự giác tích cực xen lẫn
các tác động tự phát tiêu cực, các tác động khách quan lẫn các tác động chủ
quan). Đây chính là quá trình xã hội hóa con người;
Ở cấp độ thứ hai: Giáo dục là hoạt động có mục đích của các lực lượng
xã hội nhằm hình thành các phẩm chất nhân cách. Đây chính là quá trình giáo
dục xã hội;
Ở cấp độ thứ ba: Giáo dục là một hoạt động có kế hoạch, có nội dung và
bằng phương pháp khoa học của các nhà sư phạm trong các tổ chứ giáo dục,
trong nhà trường đến học sinh nhằm giúp họ phát triển trí tuệ, đạo đức, thẩm
mỹ, thể chất… Đây chính lá quá trình sư phạm tổng thể;
Ở cấp độ thứ tư: Giáo dục là quá trình hình thành ở học sinh những phẩm
chất đạo đức, những thói quen hành vi. Đây chính là quá trình giáo dục thói
quen theo nghĩa hẹp;
Theo nghĩa chung nhất, khát quát nhất: Giáo dục là quá trình truyền đạt
và lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và những kinh nghiệm nhằm
chuẩn bị cho con người bước vào cuộc sống lao động và sinh hoạt xã hội; là
một nhu cầu tất yếu của xã hội loài người, đảm bảo cho sự tồn tại và phát
triển của con người và xã hội.
1.2.1.2 Xã hội hóa giáo dục
Xã hội hoá công tác giáo dục “Là huy động xã hội làm giáo dục, động
viên mọi tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự
cho nên giáo dục mỗi nước có những nét độc đáo, sắc thái riêng thể hiện trong
mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện giáo dục.
12
Xã hội đóng vai trò quyết định đối với giáo dục, ngược lại giáo dục có
tác động to lớn đối với xã hội. Nhờ có giáo dục mà kho tàng tri thức, kinh
nghiệm cuộc sống của xã hội loài người ngày càng được bảo tồn, bổ sung và
phát triển.
Giáo dục theo nghĩa hẹp là tạo ra nguồn nhân lực có trình độ, phẩm chất
cung cấp cho mọi ngành nghề, phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế.
Ngược lại, khi nền kinh tế xã hội phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi (đầu tư
ngân sách, phương tiện, kỹ thuật ) thúc đẩy giáo dục phát triển. Như vậy
giữa giáo dục và xã hội có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau.
Mối quan hệ cùng tồn tại này là do con người và vì con người. Với ý nghĩa
đó, đường lối và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Đảng tại Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: “Phát triển GD&ĐT là một trong
những động lực quan trọng thúc đẩy CNH, HĐH, là điều kiện để phát huy
nguồn lực con người yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng nhanh và
bền vững”.
Nhà trường phải gắn liền với cộng đồng, phát triển vì mục tiêu của cộng
đồng, chính vì thế phương châm giáo dục của chúng ta gắn nội dung giáo dục
của nhà trường phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, giải quyết tốt mối quan hệ
giữa nhà trường và cộng đồng, huy động tối đa các nguồn lực cộng đồng để
xây dựng và phát triển nhà trường.
Từ sau Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII,
XHHGD là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam. Văn kiện Hội nghị
này đã nêu rõ XHHGD là “Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các
tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý
của nhà nước”.
Nghị quyết 90- CP của Chính phủ do Thủ tướng ký ngày 21-8-1997 đã
xác định khái niệm XHHGD với những nội dung sau đây: “Tạo ra phong trào
phát sinh từ mọi vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động
của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều
khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng".
Tóm lại, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của
chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm
năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến
động của môi trường, làm cho tổ chức vận hành (hoạt động) có hiệu quả.
1.2.2.2 Quản lý Xã hội hóa giáo dục
Quản lý xã hội hóa giáo dục là xây dựng kế hoạch phù hợp với hoạt động
giáo dục và điều kiện thực tế của địa phương, đơn vị trên cơ sở những chủ
trương chính sách của Đảng và Nhà nước, căn cứ vào điều kiện thực tế để cụ
thể hóa trong việc xây dựng kế hoạch giáo dục và XHHGD ở từng địa
phương, đơn vị với các biện pháp khả thi và thường kiểm tra đánh giá bằng
tiêu chí rõ ràng.
Tổ chức thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục là chủ trương lớn của
Đảng và Nhà nước ta. Chủ trương này trở thành một cuộc vận động lớn mang
lại hiệu quả tích cực cho nền giáo dục Việt Nam. Vì vậy, khâu tổ chức thực
hiện có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm đảm bảo những nguyên tắc và nội
dung của công tác XHHGD là chỉ đạo, chỉ huy, điều phố chỉ dẫn thành viên
trong đơn vị thực hiện các công tác công việc đề ra về xã hội hóa giáo dục;
Điều phối, điều chỉnh các nhiệm vụ để công việc tiến hành nhịp nhàng; Kiểm
tra, đánh giá một trong những chức năng quản lý quan trọng. Vì vậy, công tác
XHHGD sau khi triển khai thực hiện cần được tổng kết, đánh giá, kiểm tra
chặt chẽ theo định kỳ.
Thông tin là thể nền của quản lý, không có thông tin, không thể thực hiện
được các mục tiêu của quản lý nói chung và quản lý xã hội hóa giáo dục nói
riêng một cách có hiệu quả.
15
Quản lý xã hội hóa giáo dục trước hết là xây dựng cơ chế vận hành của
hoạt động xã hội hóa tạo hành lang để hoạt động xã hội hóa đi đúng quỹ đạo
XHHGD.
Từ đó, đề xuất các giải pháp thực hiện XHHGD thực chất là đưa ra các
cách thức thực hiện XHHGD.
1.3 Một số vấn đề về công tác xã hội hóa giáo dục Trung học cơ sở.
1.3.1 Trường Trung học cơ sở trong hệ thống giáo dục quốc dân
Trung học cơ sở là một bậc học trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam hiện
nay, nó sau bậc Tiểu học và trước bậc trung học phổ thông. Trung học cơ sở
kéo dài 4 năm (từ lớp 6 đến lớp 9). Thông thường, độ tuổi học sinh ở trường
trung học cơ sở là từ 11 đến 15. Trước đây, để tốt nghiệp trung học cơ sở, học
sinh phải vượt qua một kỳ thi tốt nghiệp vào cuối lớp 9 nhưng kể từ năm 2006
nó đã chính thức bãi bỏ.
Trường Trung học cơ sở được bố trí tại từng xã, phường, thị trấn. Tuy
nhiên trong thực tế vẫn có một số xã không có trường trung học cơ sở. Đó
thường là các xã ở vùng sâu, vùng xa hoặc hải đảo. Theo quy định trong luật
ngân sách nhà nước, đầu tư xây dựng trường trung học cơ sở cũng như trường
tiểu học thuộc trách nhiệm của chính quyền cấp huyện.
Luật giáo dục đã khẳng định mục tiêu giáo dục THCS là: “Giáo dục
THCS nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục
tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu
về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, trung cấp, học nghề hoặc
đi vào cuộc sống lao động”.
XHHGD là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước thể hiện ở tất cả
các bậc học. Xã hội hóa giáo dục bậc trung học cơ sở là một bộ phận của công
tác xã hội hóa giáo dục. Cụ thể:
17
- Khuyến khích phát triển trường trung học cơ sở ngoài công lập ở khu
vực thành phố, thị xã và các vùng kinh tế phát triển.
- Khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, xã hội và nhân
dân đóng góp kinh phí, đất đai để xây dựng trường trung học cơ sở đạt chuẩn
Quốc gia.
quyền cho phép. Nguồn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động
của trường tư thục là nguồn ngoài ngân sách nhà nước.
1.3.2 Một số vấn đề về xã hội hóa giáo dục THCS
1.3.2.1 Mục tiêu xã hội hóa giáo dục THCS
Xã hội hóa giáo dục sẽ "mở cửa" nhà trường với xã hội bên ngoài, tạo
điều kiện xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa nhà trường và nhân dân, làm cho
nhân dân có thể thực hiện tốt quyền làm chủ của mình đối với giáo dục,
không những đóng góp xây dựng nhà trường mà còn giám sát, kiểm tra nhà
trường trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục. Đó là mục tiêu giáo dục,
đào tạo con người phát triển toàn diện. Mục tiêu cao nhất của giáo dục là xã
hội hóa cá nhân đáp ứng yêu cầu xã hội do đó nội dung giáo dục trong nhà
trường phải theo yêu cầu của xã hội.
1.3.2.2 Nội dung và hình thức chủ yếu của XHHGD
Tạo ra phong trào học tập sâu rộng trong toàn xã hội theo nhiều hình
thức, vận động toàn dân, trước hết là những người trong độ tuổi lao động thực
hiện học tập suốt đời để làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn và có cuộc sống
tốt đẹp hơn, làm cho xã hội ta trở thành xã hội học tập.
Vận động toàn dân chăm sóc thế hệ trẻ, tạo môi trường giáo dục tốt lành,
phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục trong nhà trường với giáo dục ở gia đình và
ngoài xã hội; tăng cường trách nhiệm của cấp uỷ Đảng, Hội đồng nhân dân,
19