biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học cơ sở ngô quyền thành phố hải phòng - Pdf 22

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỷ XXI - thế kỷ của văn minh trí tuệ, của nền kinh tế tri thức, một
nền kinh tế - xã hội “dựa vào tri thức” phải bắt nguồn từ chính tiềm năng
con người, lấy việc phát huy nguồn lực người làm nhân tố cơ bản của sự
phát triển nhanh chóng và bền vững. Trong xu thế phát triển có tính khách
quan ấy, nền kinh tế xã hội đòi hỏi phải có sự chăm lo phát triển toàn diện,
chú ý phát huy tiềm năng con người trên các bình diện tinh thần, trí tuệ, đạo
đức và thể chất. Có như vậy mới đáp ứng được các yêu cầu phát triển và tiến
bộ xã hội. Hơn ai hết, GD có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát
triển con người, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ. Những thanh thiếu niên đang
đến trường ngày hôm nay sẽ là lực lượng sản xuất cơ bản, trực tiếp trong xã
hội cho ngày mai, cho tương lai. Có thể nói: “Tương lai chính là bây giờ”.
Vì thế, nhà trường phải có trách nhiệm chuẩn bị cho thế hệ trẻ hôm nay
những gì là cơ bản nhất để họ có thể đáp ứng được yêu cầu của giai đoạn
cách mạng mới. Trong những năm qua ngành GD&ĐT cả nước nói chung,
Hải Phòng nói riêng đã thu được những thành tựu quan trọng cả về số lượng
và chất lượng, tạo dựng những thành tựu đó có vai trò to lớn của đội ngũ cán
bộ quản lý và các thầy cô giáo - lực lượng cốt cán của sự nghiệp trồng
người, trong đó GVCNL có vai trò hết sức quan trọng để thực hiện trách
nhiệm này. Xây dựng một thế hệ mới là vinh dự và trách nhiệm nặng nề đối
với người GV, trong đó có GVCNL, xét theo chức năng là người “tổ chức
thực hiện mọi quá trình giáo dục”. Hoạt động của GVCNL về bản chất là
một trong những hoạt động sáng tạo mang tính nghệ thuật sư phạm trong
quá trình dạy học và GD toàn vẹn.
Đối với giáo dục trung học, người GVCNL có vai trò quan trọng
trong việc GD toàn diện HS. Người ta vẫn thường nói rằng người GVCNL
là “một đại diện của Hiệu trưởng” trong tập thể lớp mình phụ trách. Người
1
GVCNL chiếm vị trí trung tâm, trụ cột trong quá trình giáo dục HS, là linh
hồn của lớp học, là người cố vấn đáng tin cậy dẫn dắt, định hướng, giúp HS

nước. Người GVCNL là người đại diện cho quyền lợi chính đáng của HS,
bảo vệ HS về mọi mặt một cách hợp lý. Họ phản ánh trung thành mọi nhu
cầu, tâm tư, nguyện vọng của HS với BGH nhà trường, với các GVBM, với
gia đình HS, với cộng đồng và với các đoàn thể xã hội khác.
GVCNL có trách nhiệm quản lý, điều hành mọi hoạt động của lớp chủ
nhiệm và tác động đến sự phát triển nhân cách của mỗi HS trong tập thể đó,
chịu trách nhiệm trước nhà trường về chất lượng GD của lớp mình.
Hơn nữa sự phát triển của nhà trường gắn liền với sự tiến bộ và
trưởng thành của từng tập thể lớp học, gắn liền với sự tiến bộ và trưởng
thành của đội ngũ giáo viên, đặc biệt là các GVCNL. Chất lượng GD toàn
diện của nhà trường phụ thuộc phần lớn vào kết quả công tác GD của từng
GVCN đối với lớp mà họ phụ trách. Bởi đây chính là một mắt xích quan
trọng trong GD toàn diện HS.
Người GVCNL có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc GD toàn diện
học sinh qua thực tế làm công tác CNL của người viết, qua quan sát và tìm
hiểu về quản lý công tác CNL ở các trường THCS quận Lê Chân tôi chọn đề
tài nghiên cứu “Biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường
Trung học cơ sở Ngô Quyền thành phố Hải Phòng” làm đề tài luận văn tốt
nghiệp cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý công tác chủ nhiệm lớp,
thực tiễn quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường THCS Ngô Quyền quận
Lê Chân, xác định các biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm góp phần nâng
cao hiệu quả của công tác này nhằm nâng cao chất lượng GD toàn diện cho
HS trong nhà trường.
3
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học cơ sở .
3.2. Đối tượng nghiên cứu

nghiên cứu:
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích sách báo, tài liệu nghiên cứu, tạp chí liên quan tới đề tài.
Phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa các nội dung về lý luận giáo dục,
thực tiễn giáo dục.
Nghiên cứu các văn bản pháp quy, những quy định của ngành có liên
quan đến công tác chủ nhiệm lớp.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
Quan sát thu thập dữ liệu từ thực tiễn công tác chủ nhiệm lớp và thực
tiễn quản lý công tác chủ nhiệm lớp.
7.2.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Xây dựng các phiếu điều tra, bằng hệ thống câu hỏi để khảo sát các
đối tượng: cán bộ quản lý, giáo viên chủ nhiệm lớp, tổ trưởng chuyên môn
và một số đối tượng có liên quan.
7.2.3. Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm giáo dục
Tổng kết kinh nghiệm công tác chủ nhiệm lớp từ những giáo viên chủ
nhiệm lớp và kinh nghiệm quản lý công tác chủ nhiệm lớp từ những người
đã kinh qua công tác quản lý giáo dục và đặc biệt là những người đang
đương chức.
7.2.4. Phương pháp chuyên gia
5
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu thông
qua phiếu điều tra và thực nghiệm sư phạm.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và
Phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác chủ nhiệm lớp và quản lý công
tác chủ nhiệm lớp ở trường THCS.

học - Nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên các trường Đại
học sư phạm, 2010 )
7
Một số tác giả còn đi sâu vào nghiên cứu những khía cạnh khác có
liên quan đến công tác chủ nhiệm như Nguyễn Thanh Bình với tác phẩm
Giáo dục kỹ năng sống - Nhà xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội - 2007;
Nguyễn Thị Kim Dung và cộng sự Hướng dẫn tổ chức hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp (Tài liệu dành cho lớp 11); Nguyễn Thị Kim Dung với đề
tài Rèn luyện kĩ năng làm việc nhóm của học sinh tiểu học thông qua hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp -2007, mã số: B 2006 – 17 – 01 – 2007.
Một số không nhiều bài báo, tài liệu khác viết về công tác GVCNL
như: Rèn luyện một số kỹ năng làm công tác giáo viên chủ nhiệm lớp cho
sinh viên Cao đẳng sư phạm của Vũ Đình Mạnh. Tạp chí Giáo dục số 126
(11/2005); Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng làm công tác giáo viên chủ
nhiệm lớp cho sinh viên Cao đẳng sư phạm của Vũ Đình Mạnh. Tạp chí
Giáo dục số 135 (kỳ 1 – 4/2006).
Nghiên cứu về biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp có Một số
biện pháp tăng cường quản lý của Hiệu trưởng đối với công tác chủ nhiệm
lớp trong các trường THPT tỉnh Bắc Ninh – 2005 của Nguyễn Khắc Hiền.
Ở Hải Phòng, công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học cũng được
Ban lãnh đạo Sở GD&ĐT Hải Phòng rất quan tâm, chỉ đạo sát sao với Hội
thảo Vai trò của công tác chủ nhiệm trong trường phổ thông do Sở GD&ĐT
kết hợp với Hội KH Tâm lý – Giáo dục năm 2006; Hội nghị Đổi mới công
tác chủ nhiệm lớp trường trung học do Sở GD&ĐT tổ chức tháng 11 năm
2009 đã được hầu hết các trường phổ thông trong thành phố tham gia rất
nhiệt tình với nhiều bài viết, tham luận, báo cáo của các cấp lãnh đạo các
trường và của chính các đồng chí giáo viên trực tiếp làm công tác chủ nhiệm
trình bày như Chỉ đạo công tác chủ nhiệm ở trường THPT Thái Phiên của
Đào Thị Huệ; Trường THPT Nguyễn Trãi với công tác bồi dưỡng giáo viên
chủ nhiệm của Lê Hoàng Việt; Công tác chủ nhiệm với việc xây dựng

định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được
những mục tiêu nhất định”[23]
Quản lý là sự tác động có chủ đích (có kế hoạch, có phương pháp,
cách thức tiến hành) của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt
mục tiêu quản lý, đảm bảo cho hệ thống vận hành đúng quy luật và mang lại
lợi ích cho hệ thống và xã hội.
Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người
hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định.
Quản lý là một khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứu là các quan hệ
quản lý. Đó là mối quan hệ hình thành giữa con người có liên quan đến hệ
thống và được hình thành theo những quy luật nhất định.
Một định nghĩa khác: Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể
quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt
động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù
hợp với quy luật khách quan.
* Chức năng quản lý:
Quản lý có 4 chức năng sau: Chức năng kế hoạch hóa; Chức năng tổ
chức; Chức năng chỉ đạo; Chức năng kiểm tra. Bốn chức năng này được coi
như bốn công đoạn tạo nên một chu trình QL. Chúng có quan hệ chặt chẽ
với nhau, đan xen nhau, bổ sung cho nhau và đều cần đến thông tin quản lý.
Hoạt động QL là một chu trình thống nhất biện chứng với đầy đủ cả bốn
chức năng trên.
Khoa học QL đặt trên nền tảng phương pháp luận của triết học, chính
trị học, điều khiển học, kinh tế học, văn hóa học, lý thuyết thông tin… Để
làm một nhà QL, trước hết người ta phải được đào tạo, bồi dưỡng về khoa
học QL thì mới có thể làm đúng chứ chưa thể làm tốt công tác QL. Bởi quản
10
lý là một nghề, mà đã làm nghề thì phải được đào tạo ban đầu và bồi dưỡng
thường xuyên, liên tục thì mới đáp ứng được yêu cầu của công việc trong
bối cảnh xã hội thay đổi từng ngày, từng giờ như hiện nay.

Quản lý GD là quản lý một hệ thống xã hội hết sức năng động và phức
tạp, nó không chỉ đơn thuần là sử dụng sức mạnh luật pháp mà còn sử dụng
hàng loạt những biện pháp đối nhân xử thế để điều khiển, định hướng, điều
chỉnh, tác động vào toàn bộ hệ thống thúc đẩy nó đạt tới mục tiêu mong muốn
khả thi. Đối tượng của quản lý GD chủ yếu là con người, đồng thời mục tiêu
QL cũng chính là hình thành và phát triển nhân cách của con người, do đó
phương pháp QL càng trở lên phong phú, đa dạng và phức tạp hơn.
Phải chăng quản lý GD là một hệ thống có kế hoạch, có mục đích của
chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý. Quản lý GD chính là một quá trình
tác động có định hướng của nhà quản lý GD trong việc vận dụng những
nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực GD
nhằm đạt được những mục tiêu GD đã đặt ra.
Hay nói cách khác ở cấp vi mô thì quản lý GD là quản lý nhà trường.
Nhà trường được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của nhà nước
nhằm phát triển sự nghiệp GD. Trường học là cơ quan hành chính nhà
nước đồng thời là một tổ chức mang tính xã hội. Do đó quản lý trường học
vừa có tính chất nhà nước vừa có tính chất xã hội. Nhà nước và xã hội
cùng hợp tác chăm lo xây dựng, quản lý nhà trường, tạo mọi điều kiện tối
ưu cho sự phát triển của trường học, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo
dục, đào tạo học sinh.
Theo Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là hoạt động của các cơ
quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức hoạt động của giáo viên, học sinh và
các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo
12
dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”{24, tr
31}
Theo Trần Kiểm: “Quản lý trường học có thể hiểu là một hệ thống
những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến
tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường
nhằm huy động và phối hợp sức lực và trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động

động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu
giáo dục” {14; tr.71}
Quản lý nhà trường là hoạt động điều hành, phối hợp của Hiệu trưởng
đối với GV, HS và các lực lượng XH liên quan nhằm thực hiện mục tiêu
GD. Đích cuối cùng của mục tiêu GD là giáo dục HS toàn diện. Mà QL là
nhằm hiện thực hóa cái đích ấy cho nên QL trong nhà trường có thể coi như
một hoạt động GD.
Trường THCS là cấp học chuyển giao giữa tiểu học và THPT, cấp
học có ý nghĩa then chốt đối với sự phát triển trí tuệ và nhân cách cho HS, ở
cấp học này HS không những cần tÝch lòy kiÕn thức, tri thức tốt chuÈn bÞ ®Ó
tiÕp tôc cho bậc THPT m cà òn cần có nhân cách tốt, có các kỹ năng mềm để
có thể tự ứng xử với những tình huống xảy ra trong cuộc sống hàng ngày.
Mục đích dạy học ở trường THCS nhằm thực hiện đồng thời 3 chức
năng bộ phận của quá trình dạy học: Giáo dưỡng – nắm vững hệ thống tri
thức kỹ năng, kỹ xảo và cách vận dụng chúng - phát triển tư duy khái niệm,
tư duy logic, tư duy biện chứng… và giáo dục – thái độ đạo đức… Ba chức
năng bộ phận này gắn bó hữu cơ với nhau, thâm nhập vào nhau, quy định
lẫn nhau và tạo ra một hệ toàn vẹn ba nhiệm vụ dạy học trong trường THCS
nhằm mục đích phát triển toàn diện con người - Phát triển nhân cách. Ngày
nay phát triển nhân cách là nhiệm vụ số một của GD, là vấn đề trọng tâm
trong chiến lược con người được các nhà khoa học trong nước cũng như trên
14
thế giới quan tâm nghiên cứu. Một trong những công tác góp phần thực hiện
tốt 3 nhiệm vụ trên ở trường THCS là công tác GVCNL.
1.2.2. Công tác chủ nhiệm lớp
1.2.2.1. Khái niệm công tác chủ nhiệm lớp
Trong hệ thống tổ chức của các trường phổ thông, đơn vị cơ bản được
tổ chức để giảng dạy và giáo dục HS là lớp học. Hình thức tổ chức dạy học,
giáo dục theo lớp được hình thành từ thế kỉ XVI do nhà giáo dục Tiệp Khắc
Comenxki đề xướng. Để quản lý lớp học, nhà trường cử ra một trong những

của mọi HS trong lớp.
GVCNL còn là người tập hợp ý kiến, nguyện vọng của từng HS của
lớp phản ánh với Hiệu trưởng, với các tổ chức trong nhà trường và với các
GVBM. GVCN với tư cách là đại diện cho lớp còn có trách nhiệm bảo vệ,
bênh vực quyền lợi mọi mặt cho HS trong lớp chủ nhiệm.
Như vậy, GVCN là cầu nối giữa Hiệu trưởng (BGH), giữa các tổ chức
trong nhà trường, giữa các GVBM với tập thể HS. Nói một cách khác, GVCN
là người đại diện hai phía, một mặt đại điện cho Hội đồng sư phạm, mặt
khác lại đại diện cho tập thể HS trong quá trình thực hiện công tác CNL.
GVCNL là người cố vấn cho công tác Đội và công tác Đoàn ở lớp
chủ nhiệm. GVCNL giữ vai trò là người cố vấn cho Ban chỉ huy chi đội của
lớp chủ nhiệm ở trường THCS, và là người cố vấn cho Ban chấp hành chi
đoàn ở trường THPT.
GVCNL có thể tư vấn cho đội ngũ này về việc lập kế hoạch và tổ chức
các hoạt động theo tôn chỉ, mục đích của từng tổ chức, đồng thời kết hợp với
các hoạt động GD trong kế hoạch của lớp sẽ đem lại hiệu quả cao.
16
Trong quan hệ với các lực lượng GD khác trong và ngoài nhà trường,
GVCNL là nhân vật trung tâm để hình thành, phát triển nhân cách HS và là
cầu nối giữa gia đình, nhà trường và xã hội.
GVCNL vừa đưa ra những định hướng, mục tiêu phát triển, giáo dục
HS vừa phải tổ chức phối hợp với các lực lượng xã hội có liên quan nhằm
thực hiện mục tiêu GD của lớp chủ nhiệm, giáo dục HS hiệu quả.
GVCNL cũng là người triển khai những yêu cầu giáo dục của nhà
trường đến với gia đình, CMHS, đồng thời cũng là người tiếp nhận các
thông tin phản hồi từ HS, gia đình học sinh, các dư luận xã hội về HS trở lại
với nhà trường để giúp lãnh đạo nhà trường có giải pháp quản lý, phối hợp
hiệu quả, đồng thời tạo lập mối liên hệ thông tin đa chiều giữa nhà trường –
gia đình – xã hội.
* Chức năng của người giáo viên chủ nhiệm lớp

các giáo viên bộ môn, với gia đình HS, các đoàn thể trong và ngoài nhà
trường về những nguyện vọng chính đáng của HS và của tập thể lớp để cùng
có các biện pháp giải quyết phù hợp, kịp thời, có tác dụng GD.
Đối với học sinh THCS, người GVCNL cần xác định mình có vai trò
cố vấn cho tập thể lớp. Điều này có nghĩa GVCNL không nên làm mọi việc
thay cho đội ngũ tự quản của lớp (Ban cán sự lớp, Ban chấp hành chi đội)
mà nhiệm vụ chủ yếu của GVCNL là bồi dưỡng năng lực tự quản cho HS.
Những GVCNL có kinh nghiệm thường thu hút hầu hết HS của lớp vào các
hoạt động. Đội ngũ tự quản thường chiếm khoảng 30% số học sinh của lớp
và mỗi năm luân phiên đội ngũ tự quản 20% để sau một cấp học số em có
thể được huấn luyện tự quản nhiều hơn.
Để phát huy vai trò cố vấn, GVCNL cần có năng lực dự báo chính xác
khả năng của HS trong lớp. GVCNL phải phát hiện và bồi dưỡng tiềm năng
sáng tạo của các em trong việc đề xuất các nội dung hoạt động, xây dựng kế
18
hoạch hoạt động toàn diện của mỗi tháng, mỗi học kỳ, của từng năm học.
GVCNL chỉ là người giúp HS tự tổ chức các hoạt động đã được kế hoạch
hóa. Điều đó không có nghĩa là GVCNL khoán trắng, đứng ngoài hoạt động
của tập thể lớp chủ nhiệm mà GVCNL nên hướng dẫn, điều chỉnh hoạt
động, bàn bạc, tranh thủ các lực lượng trong và ngoài nhà trường, tạo điều
kiện thuận lợi cho HS lớp mình tổ chức hoạt động.
Ngoài ra, GVCNL còn là người đại diện cho nhà trường trong việc
phối hợp với các tổ chức xã hội để thống nhất biện pháp giáo dục HS. Trong
hoàn cảnh hiện nay, do tác động của nền kinh tế thị trường, HS sống trong
xã hội nhiều vẻ và phức tạp; học sinh THCS luôn nhạy cảm với những cái
mới lạ, trong đó có cả cái tốt và cái xấu. Vì vậy GVCNL cần có ý thức sâu
sắc trong việc giúp các em thiết lập quan hệ đúng đắn, lành mạnh với mọi
người. Đó là nhiệm vụ không hề đơn giản và rất cần thiết đối với công tác
CNL. GVCNL cần xác định rằng giáo dục nhà trường có vai trò định hướng,
tạo ra sự thống nhất tác động đến thế hệ trẻ (trong đó có gia đình và các tổ

niên Cộng sản HCM, Đội Thiếu niên Tiền phong HCM, các tổ chức xã hội
có liên quan trong hoạt động giảng dạy và giáo dục HS của lớp mình chủ
nhiệm và góp phần huy động các nguồn lực trong cộng đồng phát triển nhà
trường; Nhận xét, đánh giá và xếp loại HS cuối kỳ và cuối năm học, đề nghị
khen thưởng và kỷ luật HS, đề nghị danh sách HS được lên lớp thẳng, phải
kiểm tra lại, phải rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong kỳ nghỉ hè, phải ở lại
lớp, hoàn chỉnh việc ghi vào sổ điểm và học bạ; Báo cáo thường kỳ hoặc đột
xuất về tình hình của lớp với Hiệu trưởng.
1.2.3. Quản lý công tác chủ nhiệm lớp
20
Quản lý công tác chủ nhiệm lớp là một mảng trong hệ thống công tác
quản lý nhà trường của Hiệu trưởng, đây là một công việc mang tính chiến
lược lâu dài, thường xuyên. Để làm tốt công tác này người Hiệu trưởng phải
căn cứ vào tình hình GD thực tiễn của nhà trường như số lượng HS, địa bàn
nhà trường, số lượng GVCNL, đặc diểm của đội ngũ GVCNL để lên kế
hoạch cho từng công việc cụ thể, thời gian thực hiện những công việc này,
rồi tiến hành tổ chức, chỉ đạo đội ngũ GVCNL thực hiện từng công việc
hoặc thực hiện đồng thời các công việc theo đặc trưng từng khối lớp, tiếp
theo đó là đánh giá, kiểm tra việc thực hiện các công việc này của đội ngũ
GVCNL nhằm phát hiện kịp thời các sai lệch, yếu kém để từ đó người Hiệu
trưởng có các biện pháp tư vấn, thúc đẩy, giúp đỡ GVCNL khắc phục, giải
quyết các tồn tại nhằm hoàn thiện, đồng bộ công tác CNL góp phần nâng
cao hiệu quả GD toàn diện HS trong nhà trường phổ thông.
1.3. Công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học cơ sở
1.3.1. Trường trung học cơ sở trong hệ thống giáo dục quốc dân
Điều lệ trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp
học được ban hành theo thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011
của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT. Trường trung học trong hệ thống GD quốc dân
được quy định có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động GD khác theo mục tiêu,

- Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của lớp: Đầu cấp, cuối cấp
- Đặc điểm tình hình địa phương, hoàn cảnh kinh tế của địa phương
+ Tìm hiểu và nắm vững đặc điểm của từng HS
- Sơ yếu lý lịch: Họ tên cha mẹ, nghề nghiệp, địa chỉ, sở thích năng khiếu
22
- Hoàn cảnh sống của HS: Điều kiện kinh tế gia đình, trình độ văn hóa
của CMHS, điều kiện học tập, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, quan
hệ XH, tình hình kinh tế - xã hội, an ninh trật tự tại địa phương nơi cư trú.
- Đặc điểm tâm, sinh lý, năng lực, trình độ, sở thích, phẩm chất đạo
đức, các mối quan hệ, cách ứng xử của HS trong gia đình, với bạn bè, trong
nhà trường và ngoài xã hội
- Những biến đổi và sự phát triển về thể chất, tâm lý và xã hội của HS
theo các giai đoạn phát triển của lứa tuổi.
Tóm lại, GVCN cần hiểu rõ toàn bộ cuộc sống tâm hồn, tình cảm của
HS kể cả những thay đổi trong đời sống nội tâm của từng HS. Đặc biệt đối
với những HS cá biệt cần tìm hiểu kỹ những nguyên nhân dẫn đến tình trạng
cá biệt để có các giải pháp tác động phù hợp, kịp thời, hiệu quả.
Tìm hiểu HS là một quá trình khó khăn, lâu dài, phức tạp, đòi hỏi
GVCNL phải kiên trì, thận trọng, có tinh thần trách nhiệm cao và lòng
thương yêu HS sâu sắc. Đồng thời, GVCN phải là người có đạo đức và tri
thức, một người Thầy có nhân cách để HS tôn trọng và nể phục nhưng cũng
là người dễ chia sẻ và thông cảm với HS, có thể trở thành người bạn lớn để
HS có thể chia sẻ, trình bày ước mơ nguyện vọng, những khúc mắc, lo âu
của bản thân.
1.3.2.2. Lập kế hoạch chủ nhiệm
Kế hoạch chủ nhiệm là chương trình hoạt động của GVCN được vạch ra
một cách có hệ thống về những công việc dự định làm trong thời gian một năm
học với cách thức và trình tự tiến hành nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Bản kế
hoạch chủ nhiệm là văn bản trong đó thiết kế cụ thể toàn bộ nội dung công tác
CNL, chương trình hành động của chủ nhiệm trong từng tháng với thời gian,

24
GVCNL cần có kế hoạch kết hợp với tổ chức Đoàn thanh niên cộng
sản Hồ Chí Minh để tiến hành giáo dục toàn diện ở lớp. Mặt khác
GVCNL phải giúp đỡ chi đoàn lớp xây dựng kế hoạch công tác, bồi
dưỡng cán bộ nòng cốt, cố vấn cho Ban chấp hành chi đoàn tổ chức các hoạt
động giáo dục.
Gia đình là môi trường giáo dục – lực lượng giáo dục đầu tiên, ảnh
hưởng một cách sâu sắc đến HS. GVCNL là người thay mặt nhà trường thực
hiện sự liên kết này. GVCNL giúp CMHS hiểu rõ chủ trương, kế hoạch GD
của nhà trường và mục tiêu, kế hoạch phấn đấu của lớp trong năm học.
GVCNL thống nhất với gia đình về yêu cầu, nội dung, biện pháp, hình thức
giáo dục .
1.3.2.6. Đánh giá kết quả giáo dục và học tập của HS lớp chủ nhiệm
Đánh giá là một nội dung không thể thiếu trong công tác của GVCNL
trong nhà trường. Đánh giá kết quả học tập, rèn luyện, phát triển nhân cách
của HS đòi hỏi sự khách quan, chính xác, công bằng của người GVCNL.
Mục đích của đánh giá là nhằm thúc đấy sự cố gắng vươn lên của HS, kích
thích ở các em động cơ phấn đấu đúng đắn, hình thành niềm tin vào khả
năng của bản thân, vào tập thể và thầy cô giáo.
1.3.3. Mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh các trường trung học
Khỏe mạnh về thể lực và tinh thần
Sức khỏe cơ thể và tinh thần là điều kiện tiên quyết của một tuổi thơ
và tuổi vị thành niên tươi vui và hạnh phúc. Học sinh cấp THCS được
chăm sóc chu đáo và rèn luyện thường xuyên để phát triển cân đối về thể
chất và phát huy tối đa về năng lực tư duy cũng như một đời sống tinh thần
phong phú.
Sống lành mạnh và tự tin
Học sinh cấp THCS được rèn luyện một tinh thần tự tin và tự trọng,
biết tôn trọng bạn bè và kính trọng thầy cô. Nhà trường đảm bảo sự công
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status