Biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường Trung học cơ sở Ngô Quyền thành phố Hải Phòng - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC VŨ THỊ HẢI
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ
CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC
CƠ SỞ NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Học viên: Vũ Thị Hải
Cao học Quản lí giáo dục khoá 9 (2009 - 2011)
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Tuyết Oanh

Hà Nội – 2011 MỤC LỤC
Nội dung
Trang
MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
3
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3
4. Giả thuyết khoa học
3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu

23
1.4. Lý luận về quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học cơ sở
28
1.4.1. Vai trò của CBQL trong công tác chủ nhiệm lớp
28
1.4.2. Nhiệm vụ và quyền hạn của người hiệu trưởng
28
1.4.3. Vai trò của Hiệu trưởng trong công tác chủ nhiệm lớp
29

1.4.4. Nội dung quản lý công tác chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng trường
THCS
29
1.4.5. Quy trình quản lý công tác chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng
30
Kết luận chương 1
32
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP VÀ QUẢN
LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
NGÔ QUYỀN, QUẬN LÊ CHÂN, HẢI PHÒNG
33
2.1. Khái quát về tình hình giáo dục các trường THCS trong quận Lê
Chân và trường THCS Ngô Quyền.
33
2.1.1. Tình hình giáo dục các trường trong Quận Lê Chân
33
2.1.2. Tình hình giáo dục tại trường THCS Ngô Quyền, Quận Lê Chân.
35
2.2. Thực trạng công tác chủ nhiệm lớp ở trường THCS Ngô Quyền
37

3.2. Một số nguyên tắc xây dựng hệ thống biện pháp
53
3.3. Đề xuất các biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp của Hiệu
trưởng.
54
3.3.1. Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch quản lý công tác chủ nhiệm lớp.
55
3.3.2. Biện pháp 2: Lựa chọn, bố trí giáo viên chủ nhiệm lớp hợp lý
56
3.3.3. Biện pháp 3: Bồi dưỡng năng lực làm công tác CNL cho giáo
viên.
58
3.3.4. Biện pháp 4: Tăng cường kiểm tra, đánh giá công tác chủ nhiệm
lớp
73
3.3.5. Biện pháp 5: Xây dựng cơ chế phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm
lớp với các lượng lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường
76
3.3.6. Biện pháp 6: Xây dựng cơ chế hỗ trợ chế độ chính sách đối với
giáo viên chủ nhiệm lớp.
83
3.4. Mối quan hệ giữa các nhóm biện pháp
83
3.5. Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
85
Tổng kết chương 3
86
KÕt luËn vµ khuyÕn nghÞ
88
1. Kết luận

HĐH Hiện đại hóa
BGH Ban Giám hiệu
KNS Kỹ năng sống
CSVC Cơ sở vật chất
PP Phương pháp
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỷ XXI - thế kỷ của văn minh trí tuệ, của nền kinh tế tri thức, một nền
kinh tế - xã hội “dựa vào tri thức” phải bắt nguồn từ chính tiềm năng con người,
lấy việc phát huy nguồn lực người làm nhân tố cơ bản của sự phát triển nhanh
chóng và bền vững. Trong xu thế phát triển có tính khách quan ấy, nền kinh tế xã
hội đòi hỏi phải có sự chăm lo phát triển toàn diện, chú ý phát huy tiềm năng con
người trên các bình diện tinh thần, trí tuệ, đạo đức và thể chất. Có như vậy mới
đáp ứng được các yêu cầu phát triển và tiến bộ xã hội. Hơn ai hết, GD có vai trò
đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển con người, đặc biệt là đối với thế hệ
trẻ. Những thanh thiếu niên đang đến trường ngày hôm nay sẽ là lực lượng sản
xuất cơ bản, trực tiếp trong xã hội cho ngày mai, cho tương lai. Có thể nói:
“Tương lai chính là bây giờ”. Vì thế, nhà trường phải có trách nhiệm chuẩn bị
cho thế hệ trẻ hôm nay những gì là cơ bản nhất để họ có thể đáp ứng được yêu
cầu của giai đoạn cách mạng mới. Trong những năm qua ngành GD&ĐT cả nước
nói chung, Hải Phòng nói riêng đã thu được những thành tựu quan trọng cả về số
lượng và chất lượng, tạo dựng những thành tựu đó có vai trò to lớn của đội ngũ
cán bộ quản lý và các thầy cô giáo - lực lượng cốt cán của sự nghiệp trồng người,
trong đó GVCNL có vai trò hết sức quan trọng để thực hiện trách nhiệm này. Xây
dựng một thế hệ mới là vinh dự và trách nhiệm nặng nề đối với người GV, trong
đó có GVCNL, xét theo chức năng là người “tổ chức thực hiện mọi quá trình giáo
dục”. Hoạt động của GVCNL về bản chất là một trong những hoạt động sáng tạo
mang tính nghệ thuật sư phạm trong quá trình dạy học và GD toàn vẹn.
Đối với giáo dục trung học, người GVCNL có vai trò quan trọng trong việc

người tổ chức phối hợp các lực lượng GD. Họ còn là người dẫn dắt, tổ chức cho
HS tham gia các hoạt động xã hội, góp phần xây dựng và phát triển đất nước.
Người GVCNL là người đại diện cho quyền lợi chính đáng của HS, bảo vệ HS về
mọi mặt một cách hợp lý. Họ phản ánh trung thành mọi nhu cầu, tâm tư, nguyện
vọng của HS với BGH nhà trường, với các GVBM, với gia đình HS, với cộng
đồng và với các đoàn thể xã hội khác.
3
GVCNL có trách nhiệm quản lý, điều hành mọi hoạt động của lớp chủ
nhiệm và tác động đến sự phát triển nhân cách của mỗi HS trong tập thể đó, chịu
trách nhiệm trước nhà trường về chất lượng GD của lớp mình.
Hơn nữa sự phát triển của nhà trường gắn liền với sự tiến bộ và trưởng
thành của từng tập thể lớp học, gắn liền với sự tiến bộ và trưởng thành của đội
ngũ giáo viên, đặc biệt là các GVCNL. Chất lượng GD toàn diện của nhà trường
phụ thuộc phần lớn vào kết quả công tác GD của từng GVCN đối với lớp mà họ
phụ trách. Bởi đây chính là một mắt xích quan trọng trong GD toàn diện HS.
Người GVCNL có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc GD toàn diện học
sinh qua thực tế làm công tác CNL của người viết, qua quan sát và tìm hiểu về
quản lý công tác CNL ở các trường THCS quận Lê Chân tôi chọn đề tài nghiên
cứu “Biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường Trung học cơ sở Ngô
Quyền thành phố Hải Phòng” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học chuyên
ngành Quản lý giáo dục.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý công tác chủ nhiệm lớp, thực tiễn
quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường THCS Ngô Quyền quận Lê Chân, xác
định các biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm góp phần nâng cao hiệu quả của
công tác này nhằm nâng cao chất lượng GD toàn diện cho HS trong nhà trường.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1- Khách thể nghiên cứu
Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học cơ sở .
3.2. Đối tượng nghiên cứu

Phân tích sách báo, tài liệu nghiên cứu, tạp chí liên quan tới đề tài. Phân loại,
hệ thống hóa, khái quát hóa các nội dung về lý luận giáo dục, thực tiễn giáo dục.
Nghiên cứu các văn bản pháp quy, những quy định của ngành có liên quan
đến công tác chủ nhiệm lớp.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
5
Quan sát thu thập dữ liệu từ thực tiễn công tác chủ nhiệm lớp và thực tiễn
quản lý công tác chủ nhiệm lớp.
7.2.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Xây dựng các phiếu điều tra, bằng hệ thống câu hỏi để khảo sát các đối
tượng: cán bộ quản lý, giáo viên chủ nhiệm lớp, tổ trưởng chuyên môn và một số
đối tượng có liên quan.
7.2.3. Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm giáo dục
Tổng kết kinh nghiệm công tác chủ nhiệm lớp từ những giáo viên chủ nhiệm
lớp và kinh nghiệm quản lý công tác chủ nhiệm lớp từ những người đã kinh qua
công tác quản lý giáo dục và đặc biệt là những người đang đương chức.
7.2.4. Phương pháp chuyên gia
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu thông qua phiếu
điều tra và thực nghiệm sư phạm.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ
lục, luận văn được trình bày trong 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác chủ nhiệm lớp và quản lý công tác
chủ nhiệm lớp ở trường THCS.
Chương 2: Thực trạng về công tác chủ nhiệm lớp và quản lý công tác chủ
nhiệm lớp ở trường THCS Ngô Quyền, quận Lê Chân, Hải Phòng.
Chương 3: Biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng ở
trường THCS Ngô Quyền, quận Lê Chân, Hải Phòng.

phạm cho sinh viên các trường Đại học sư phạm, 2010 )
Một số tác giả còn đi sâu vào nghiên cứu những khía cạnh khác có liên quan đến
công tác chủ nhiệm như Nguyễn Thanh Bình với tác phẩm Giáo dục kỹ năng
sống - Nhà xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội - 2007; Nguyễn Thị Kim Dung và
cộng sự Hướng dẫn tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (Tài liệu dành
cho lớp 11); Nguyễn Thị Kim Dung với đề tài Rèn luyện kĩ năng làm việc nhóm
7
của học sinh tiểu học thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp -2007, mã
số: B 2006 – 17 – 01 – 2007.
Một số không nhiều bài báo, tài liệu khác viết về công tác GVCNL như: Rèn
luyện một số kỹ năng làm công tác giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên Cao
đẳng sư phạm của Vũ Đình Mạnh. Tạp chí Giáo dục số 126 (11/2005); Một số
biện pháp rèn luyện kỹ năng làm công tác giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên
Cao đẳng sư phạm của Vũ Đình Mạnh. Tạp chí Giáo dục số 135 (kỳ 1 – 4/2006).
Nghiên cứu về biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp có Một số biện pháp
tăng cường quản lý của Hiệu trưởng đối với công tác chủ nhiệm lớp trong các
trường THPT tỉnh Bắc Ninh – 2005 của Nguyễn Khắc Hiền.
Ở Hải Phòng, công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học cũng được Ban lãnh
đạo Sở GD&ĐT Hải Phòng rất quan tâm, chỉ đạo sát sao với Hội thảo Vai trò của
công tác chủ nhiệm trong trường phổ thông do Sở GD&ĐT kết hợp với Hội KH
Tâm lý – Giáo dục năm 2006; Hội nghị Đổi mới công tác chủ nhiệm lớp trường
trung học do Sở GD&ĐT tổ chức tháng 11 năm 2009 đã được hầu hết các trường
phổ thông trong thành phố tham gia rất nhiệt tình với nhiều bài viết, tham luận,
báo cáo của các cấp lãnh đạo các trường và của chính các đồng chí giáo viên trực
tiếp làm công tác chủ nhiệm trình bày như Chỉ đạo công tác chủ nhiệm ở trường
THPT Thái Phiên của Đào Thị Huệ; Trường THPT Nguyễn Trãi với công tác bồi
dưỡng giáo viên chủ nhiệm của Lê Hoàng Việt; Công tác chủ nhiệm với việc xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực của Trần Thị Hương Duyên; Tầm
quan trọng của công tác chủ nhiệm lớp của Trương Thị Yến. Các bài viết trên tác
giả đã nêu được tầm quan trọng của công tác chủ nhiệm lớp, thực trạng công tác

Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn
thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định.
Quản lý là một khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứu là các quan hệ quản
lý. Đó là mối quan hệ hình thành giữa con người có liên quan đến hệ thống và
được hình thành theo những quy luật nhất định.
Một định nghĩa khác: Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý
để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con
9
người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật
khách quan.
* Chức năng quản lý:
Quản lý có 4 chức năng sau: Chức năng kế hoạch hóa; Chức năng tổ chức;
Chức năng chỉ đạo; Chức năng kiểm tra. Bốn chức năng này được coi như bốn
công đoạn tạo nên một chu trình QL. Chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, đan
xen nhau, bổ sung cho nhau và đều cần đến thông tin quản lý. Hoạt động QL là
một chu trình thống nhất biện chứng với đầy đủ cả bốn chức năng trên.
Khoa học QL đặt trên nền tảng phương pháp luận của triết học, chính trị
học, điều khiển học, kinh tế học, văn hóa học, lý thuyết thông tin… Để làm một
nhà QL, trước hết người ta phải được đào tạo, bồi dưỡng về khoa học QL thì mới
có thể làm đúng chứ chưa thể làm tốt công tác QL. Bởi quản lý là một nghề, mà
đã làm nghề thì phải được đào tạo ban đầu và bồi dưỡng thường xuyên, liên tục
thì mới đáp ứng được yêu cầu của công việc trong bối cảnh xã hội thay đổi từng
ngày, từng giờ như hiện nay.
1.2.1.2. Giáo dục, quản lý giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là quá trình
truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ con người. GD là
một loại hình hoạt động cơ bản của xã hội loài người nhằm chuyển giao cho các
thế hệ kế tiếp những giá trị vật chất và tinh thần của loài người đã được tích lũy
và phát triển trong nhiều năm đã và đang trở thành một nhu cầu không thể thiếu
cho mỗi cá nhân và cả cộng đồng trong các hình thái kinh tế – xã hội khác nhau.

có định hướng của nhà quản lý GD trong việc vận dụng những nguyên lý,
phương pháp chung nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực GD nhằm đạt được
những mục tiêu GD đã đặt ra.
Hay nói cách khác ở cấp vi mô thì quản lý GD là quản lý nhà trường.
Nhà trường được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của nhà nước nhằm phát
triển sự nghiệp GD. Trường học là cơ quan hành chính nhà nước đồng thời là một
tổ chức mang tính xã hội. Do đó quản lý trường học vừa có tính chất nhà nước
vừa có tính chất xã hội. Nhà nước và xã hội cùng hợp tác chăm lo xây dựng,
11
quản lý nhà trường, tạo mọi điều kiện tối ưu cho sự phát triển của trường học,
nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo học sinh.
Theo Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản
lý nhằm tập hợp và tổ chức hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng
giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất
lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”{24, tr 31}
Theo Trần Kiểm: “Quản lý trường học có thể hiểu là một hệ thống những tác
động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên,
học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm huy động và
phối hợp sức lực và trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường hướng
tới hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự kiến”{18, tr 27}
Tóm lại, quản lý trường học về bản chất là QL con người (tập thể cán bộ,
giáo viên và học sinh ) và QL các nguồn lực cơ sở vật chất, thiết bị GD của nhà
trường. Có thể hiểu QL nhà trường là hoạt động phối hợp điều hành của chủ thể
quản lý - Hiệu trưởng đối với GV, HS và các lực lượng xã hội liên quan nhằm
đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường. Cụ thể là thúc đẩy phong trào đào tạo
thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường
tiến lên trạng thái mong muốn.
1.2.1.3. Quản lý nhà trường
QL nhà trường là một bộ phận trong quản lý GD. Nhà trường (cơ sở GD)
chính là nơi tiến hành quá trình GD đào tạo, có nhiệm vụ trang bị kiến thức cho

tư duy biện chứng… và giáo dục – thái độ đạo đức… Ba chức năng bộ phận này
gắn bó hữu cơ với nhau, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau và tạo ra một hệ
toàn vẹn ba nhiệm vụ dạy học trong trường THCS nhằm mục đích phát triển toàn
diện con người - Phát triển nhân cách. Ngày nay phát triển nhân cách là nhiệm vụ
số một của GD, là vấn đề trọng tâm trong chiến lược con người được các nhà
khoa học trong nước cũng như trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Một trong
những công tác góp phần thực hiện tốt 3 nhiệm vụ trên ở trường THCS là công
tác GVCNL.
1.2.2. Công tác chủ nhiệm lớp
13
1.2.2.1. Khái niệm công tác chủ nhiệm lớp
Trong hệ thống tổ chức của các trường phổ thông, đơn vị cơ bản được tổ chức
để giảng dạy và giáo dục HS là lớp học. Hình thức tổ chức dạy học, giáo dục theo
lớp được hình thành từ thế kỉ XVI do nhà giáo dục Tiệp Khắc Comenxki đề
xướng. Để quản lý lớp học, nhà trường cử ra một trong những giáo viên đang
giảng dạy làm GVCNL. GVCN được Hiệu trưởng lựa chọn từ những GV có kinh
nghiệm GD, có uy tín trong HS, được Hội đồng giáo dục nhà trường nhất trí phân
công làm chủ nhiệm các lớp học xác định để thực hiện mục tiêu GD. Như vậy khi
nói đến người GVCNL là đề cập đến vị trí, vai trò, chức năng của người làm
công tác CNL, còn nói công tác chủ nhiệm lớp trong nhà trường nói chung và
trường THCS nói riêng là đề cập đến những nhiệm vụ, nội dung công việc mà
người GVCNL phải làm, cần làm và nên làm.
1.2.2.2 Vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của người giáo viên chủ nhiệm lớp
trong nhà trường phổ thông
* Vị trí và vai trò của người giáo viên chủ nhiệm lớp
GVCN là thành viên của tập thể sư phạm và hội đồng sư phạm, là người
thay mặt Hiệu trưởng, hội đồng nhà trường và CMHS quản lý và chịu trách
nhiệm về chất lượng GD toàn diện HS lớp mình phụ trách, tổ chức thực hiện chủ
trương, kế hoạch của nhà trường ở lớp.
Với tư cách là người đại diện cho tập thể các nhà sư phạm, GVCNL có trách

GVCNL là nhân vật trung tâm để hình thành, phát triển nhân cách HS và là cầu
nối giữa gia đình, nhà trường và xã hội.
GVCNL vừa đưa ra những định hướng, mục tiêu phát triển, giáo dục HS vừa
phải tổ chức phối hợp với các lực lượng xã hội có liên quan nhằm thực hiện mục
tiêu GD của lớp chủ nhiệm, giáo dục HS hiệu quả.
GVCNL cũng là người triển khai những yêu cầu giáo dục của nhà trường
đến với gia đình, CMHS, đồng thời cũng là người tiếp nhận các thông tin phản
hồi từ HS, gia đình học sinh, các dư luận xã hội về HS trở lại với nhà trường để
giúp lãnh đạo nhà trường có giải pháp quản lý, phối hợp hiệu quả, đồng thời tạo
lập mối liên hệ thông tin đa chiều giữa nhà trường – gia đình – xã hội.
15
* Chức năng của người giáo viên chủ nhiệm lớp
a. Chức năng quản lý
GVCNL là người thay mặt Hiệu trưởng làm nhiệm vụ quản lý toàn diện
HS một lớp học. Để đạt được mục tiêu quản lý một tập thể HS, GVCNL phải
thực hiện phối hợp các chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
b. Chức năng giáo dục
GVCNL trước hết phải là một nhà giáo dục, thông qua việc tổ chức các
hoạt động của tập thể lớp để GD những phẩm chất, nhân cách của mỗi HS. Qua
các hoạt động đa dạng và phong phú, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa học sinh
và học sinh, giữa Hs với những người khác, hướng vào việc hình thành cho học
sinh những thói quan, hành vi phù hợp với các chuẩn mực đạo đức của xã hội.
Từ 2 chức năng trên, ta thấy người GVCNL phải đồng thời quản lý hoạt
động học tập và quản lý sự hình thành, phát triển nhân cách HS. Hai mặt này có
quan hệ hỗ trợ, tác động lẫn nhau, việc GD đạo đức có tác động mạnh mẽ đến
chất lượng học văn hóa, nhất là trong điều kiện hiện nay, khi từng ngày, từng giờ
những cám dỗ, những ảnh hưởng tiêu cực của xã hội, mặt trái của nền kinh tế thị
trường đang dội vào nhà trường.
Muốn thực hiện chức năng quản lý giáo dục toàn diện, GVCNL phải có
những tri thức cơ bản về tâm lý học, giáo dục học và phải có hàng loạt kỹ năng

với các tổ chức xã hội để thống nhất biện pháp giáo dục HS. Trong hoàn cảnh
hiện nay, do tác động của nền kinh tế thị trường, HS sống trong xã hội nhiều vẻ
và phức tạp; học sinh THCS luôn nhạy cảm với những cái mới lạ, trong đó có cả
cái tốt và cái xấu. Vì vậy GVCNL cần có ý thức sâu sắc trong việc giúp các em
thiết lập quan hệ đúng đắn, lành mạnh với mọi người. Đó là nhiệm vụ không hề
đơn giản và rất cần thiết đối với công tác CNL. GVCNL cần xác định rằng giáo
dục nhà trường có vai trò định hướng, tạo ra sự thống nhất tác động đến thế hệ trẻ
(trong đó có gia đình và các tổ chức xã hội khác). Cần khẳng định rằng gia đình
và giáo dục gia đình là môi trường GD gần gũi các em nhất và có nhiều ảnh
hưởng tới quá trình hình thành, phát triển nhân cách của các em nhất.
* Nhiệm vụ của người giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường trung học
17
Trước hết GVCN phải là giáo viên giảng dạy bộ môn, thực hiện đầy đủ các
nhiệm vụ của một người giáo viên đứng lớp đó là : Dạy học và GD theo chương
trình, kế hoạch GD, kế hoạch dạy học của nhà trường theo chế độ làm việc của
GV do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quy định; Quản lý HS trong các hoạt động GD do
nhà trường tổ chức; Tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; chịu trách nhiệm
về chất lượng, hiệu quả GD; Tham gia nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng;
Tham gia công tác phổ cập GD ở địa phương; Rèn luyện đạo đức, học tập văn
hóa, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng
dạy và GD; Vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo đồng thời rèn luyện phương pháp tự học của HS; Thực
hiện điều lệ nhà trường; Thực hiện quyết định của Hiệu trưởng, chịu sự kiểm tra,
đánh giá của Hiệu trưởng và các cấp QLGD; Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín
của nhà giáo, gương mẫu trước HS; Thương yêu, tôn trọng HS, đối xử công bằng
với HS, bảo vệ các quyền lợi chính đáng của HS; Đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp,
tạo dựng môi trường học tập và làm việc dân chủ, thân thiện, hợp tác, an toàn và
lành mạnh.
Phối hợp với các GV khác, gia đình HS, Đoàn thanh niên cộng sản HCM, Đội
thiếu niên tiền phong HCM trong dạy học và GD học sinh; Thực hiện các nhiệm

Điều lệ trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học được ban
hành theo thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ
GD&ĐT. Trường trung học trong hệ thống GD quốc dân được quy định có
những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động GD khác theo mục tiêu,
chương trình GD phổ thông dành cho cấp THCS và cấp THPT do Bộ trưởng Bộ
GD&ĐT ban hành. Công khai mục tiêu, nội dung các hoạt động GD, nguồn lực
và tài chính, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục.
2. Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên theo quy định của pháp luật.
3. Tuyển sinh và tiếp nhận HS; vận động HS đến trường; quản lý học sinh
theo quy định của Bộ GD&ĐT.
19
4. Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi được phân công.
5. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục. Phối
hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục.
6. Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định
của Nhà nước.
7. Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội.
8. Thực hiện các hoạt động về kiểm định chất lượng giáo dục.
9. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
1.3.2. Nội dung công tác chủ nhiệm lớp
1.3.2.1.Tìm hiểu và nắm vững đối tượng GD
U.D.Usinxki- Nhà GD người Nga cho rằng: “Muốn GD con người về mọi
mặt thì phải hiểu con người về mọi mặt”. Nếu hiểu rõ HS thì mới thực hiện được
chức năng QL để GD toàn diện HS của mình, lựa chọn được những biện pháp tác
động phù hợp mới biến quá trình GD của GV thành quá trình tự GD của HS với
tư cách HS là chủ thể của quá trình GD, mới đánh giá đúng đắn và chính xác chất
lượng và hiệu quả của GD. Tìm hiểu và nắm vững đối tượng GD vừa là nội dung
vừa là điều kiện để làm tốt công tác của GVCN lớp.
* Nội dung tìm hiểu:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status