Một số giải pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục trung học cơ sở thị xã sầm sơn, tỉnh thanh hóa - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN HỮU HÀ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC
XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ
THỊ XÃ SẦM SƠN, TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN HỮU HÀ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC
XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ
THỊ XÃ SẦM SƠN, TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN NGỌC HỢI
NGHỆ AN - 2014
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và sự biết ơn, cho phép tôi được gửi lời cảm
ơn đến:
Bam Giám hiệu, Phòng đào tạo sau Đại học, Khoa giáo dục trường
Đại học Vinh; các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình học tập và viết luận văn;
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Ngọc

GD&ĐT (GD-ĐT) Giáo dục và đào tạo
HĐGD Hội đồng giáo dục
HĐND Hội đồng nhân dân
KT-XH Kinh tế - xã hội
MTTQ Mặt trận Tổ quốc
NXB Nhà xuất bản
NT-GĐ-XH Nhà trường-gia đình-xã hội
QLGD Quản lý giáo dục
SL Số lượng
THCS Trung học cơ sở
THCN&DN Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề
THPT Trung học phổ thông
TTHTCĐ Trung tâm học tập cộng đồng
TTGDTX Trung tâm giáo dục thường xuyên
TT Thứ tự
XHCN Xã hội chủ nghĩa
XHHGD Xã hội hoá giáo dục
UBND Ủy ban nhân dân
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
Tên bảng Nội dung
Trang
Bảng số 2.1
Quy mô phát triển học sinh đến bậc THCS tỉnh Thanh Hóa
từ năm 2009- 2014.
42
Bảng số 2.2
Mạng lưới trường lớp tỉnh Thanh Hóa từ năm học 2009 –
2010 đến 2013 - 2014.
42

Bảng thống kê cơ sở vật chất các trường THCS thị xã Sầm
Sơn từ năm học 2009-2010 đến năm học 2013 -2014
52
Bảng số 2.11
Xếp loại Hạnh kiểm và Học lực các trường THCS thị xã
Sầm Sơn từ năm học 2009 – 2010 đến năm học 2013 - 2014
54
Bảng số 3.1
Kết quả thăm dò về sự cần thiết của các giải pháp 99
Bảng số 3.2
Kết quả thăm dò về tính khả thi của các giải pháp 100
Biểu đồ 3.1 Biểu đồ minh họa tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp. 102
iv
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
XHHGD hay xã hội hóa sự nghiệp giáo dục là một chủ trương chiến
lược mà Đảng và Nhà nước ta xác định ngay từ khi hình thành nền giáo dục
cách mạng. Quan điểm đó được Đảng chỉ đạo xuyên suốt qua đường lối phát
triển giáo dục, và khẳng định là xây dựng một nền giáo dục “Của dân, do
dân, vì dân, được xây dựng trên nguyên tắc khoa học, dân tộc và đại chúng”.
Từ sau cách mạng tháng 8, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định ba nguyên tắc
cơ bản của nền giáo dục nước nhà là: “Đại chúng hóa, dân tộc hóa, khoa học
hóa và tôn chỉ phụng sự lý tưởng quốc gia và dân chủ ”.
Ngày 11 tháng 01 năm 1979, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số
14NQ/TW về cải cách giáo dục và đã xác định phương châm “Những cố
gắng đầu tư của Nhà nước với sự đóng góp của nhân dân, của các ngành,
các cơ sở sản xuất và sức lao động của thầy trò trong việc xây dựng trường
sở, phòng thí nghiệm, xưởng trường, vườn trường”.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
khẳng định: “Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của

Bởi vậy, công tác quản lý, chỉ đạo, phát triển GD&ĐT cần phải gắn với
công tác vận động xã hội, sao cho mọi người đều quan tâm và tham gia vào
sự nghiệp giáo dục nói chung và quan tâm đến GD&ĐT học sinh bậc học phổ
thông, và nhất là cấp học THCS nói riêng. Trong bối cảnh hiện nay, khi đất
nước ta đã tham gia vào tổ chức thương mại thế giới - WTO thì giáo dục phải
được coi như là một nhân tố then chốt để đào tạo và bồi dưỡng nhân tài, góp
phần vào xây dựng, phát triển nền kinh tế nước nhà bền vững.
2
Trên địa bàn thị xã Sầm Sơn chủ trương thực hiện công tác XHHGD
những năm gần đây đã được Đảng, chính quyền và nhân dân quan tâm, hưởng
ứng tích cực và thực sự đi vào cuộc sống. Quy mô phát triển giáo dục tăng,
ngân sách đầu tư cho giáo dục không ngừng phát triển. Tuy nhiên việc đầu tư
các nguồn lực để hỗ trợ cho công tác XHHGD còn nhiều hạn chế, đặc biệt là
ở cấp THCS.
Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: "Một số giải pháp quản lý công tác xã
hội hóa giáo dục Trung học cơ sở thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa” nhằm
góp phần nâng cao hiệu quả công tác XHHGD phù hợp với bối cảnh, xu thế
toàn cầu hóa hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp quản lý công tác XHHGD THCS thị xã Sầm
Sơn, tỉnh Thanh Hóa
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Vấn đề quản lý công tác XHHGDTHCS
hiện nay.
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Một số giải pháp quản lý công tác XHHGD
THCS thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các giải pháp quản lý phù hợp, gắn bó chặt chẽ nhà
trường và cộng đồng sẽ đẩy mạnh và phát huy tốt hơn hiệu quả của công tác
XHHGD THCS thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

+ Chương 2: Thực trạng quản lý công tác xã hội hóa giáo dục trung học
cơ sở thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
+ Chương 3: Một số giải pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục
trung học cơ sở thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ
CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Nghiên cứu ở ngoài nước
XHHGD là một xu hướng xuất hiện trong thời gian gần đây ở các nước
phát triển và đang phát triển trên thế giới. Đây chính là hình thức tăng cơ hội
tiếp cận với giáo dục cho mọi người, huy động mọi nguồn lực trong xã hội để
đầu tư cho giáo dục và thúc đẩy tiến trình tiến tới một xã hội học tập.
Các nước có nền công nghiệp phát triển trong khu vực và trên thế giới
đều coi trọng chính sách XHHGD. Tuy hình thức và biện pháp tổ chức có
khác nhau, nhưng về bản chất, cơ bản các chính phủ đều thực hiện chính sách
mở cửa cho giáo dục, tạo nhiều cơ hội để giáo dục phát triển và dành cho
người học những điều kiện tốt nhất, hiệu quả cao nhất. Có thể khái quát quan
điểm XHHGD ở một số nước.
Nhật Bản: Chính phủ Nhật đang tích cực tiến hành cải cách hệ thống
giáo dục. Thượng nghị viện Nhật đã thông qua 3 dự luật về cải cách giáo dục
sửa đổi là: Luật giáo dục trong trường học; Luật quản lý giáo dục địa phương
và Luật giáo dục xã hội.
Nhằm đón nhận những thách thức của thế kỷ 21, Nhật Bản đã tạo ra
một hệ thống giáo dục “mở” và giúp học sinh “thể hiện cá tính” để đạt được
các mục tiêu cơ bản sau:
- Tạo cho học sinh độ thoáng, lòng ham muốn, tự chủ suy nghĩ và năng
lực sinh động, giáo dục đạo đức xã hội, công bằng và thân ái.
- Phát triển năng lực khác nhau, tạo cơ hội lựa chọn thích hợp với nhu
cầu học tập và nghề nghiệp của học sinh.

cư cao tầng vì chính phủ luôn ưu tiên đất đai để xây dựng trường học. Không
6
những thế, học sinh của họ được chăm lo từng chút về không gian, môi
trường học. Các trường học ở Singapore đều có sân tập, phòng tập đa năng
rộng rãi, chuyên nghiệp đáp ứng được năng khiếu của HS như sân bóng
chuyền, bóng rổ, cầu lông Nhiều trường được trang bị các lớp học đặc biệt
phù hợp với hoạt động tập thể, hoạt động nhóm như “phố sinh thái” học khoa
học tự nhiên, phòng chế tạo robot, xưởng làm gốm Để có được CSVC hiện
đại, đạt chuẩn này, ngoài kinh phí cấp của Bộ, các bậc phụ huynh cũng là một
nguồn lực hỗ trợ lớn của trường. Để có được điều này, các trường luôn tạo
môi trường thân thiện, cởi mở với phụ huynh, gắn bó phụ huynh với nhà
trường qua các hoạt động do trường tổ chức như các hội thi cắm hoa, nấu
ăn Chính vì vậy, mỗi phụ huynh đều thấy rõ việc chung tay xây dựng trường
là điều cần thiết để phục vụ cho nhu cầu của trẻ và vì trẻ. Khi nhà trường cần
gì là phụ huynh sẵn sàng hỗ trợ.
Mỹ, Chính phủ Mỹ đang thực hiện một cuộc cách mạng về chuẩn hóa
giáo dục (Standards Revolution). Để làm được điều đó, một trong những giải
pháp quan trọng là Nhà nước thực hiện chủ trương đa dạng hóa. Hình thức
trường công – tư (Pulp State School) phát triển mạnh ở Mỹ. Đây là một loại
trường có thể do một nhóm giáo viên, phụ huynh, nhóm cộng đồng, doanh
nghiệp, trường Đại học, Viện bảo tàng…thành lập. Năm 1992, cả nước Mỹ
chỉ có một trường loại này, đến năm 2001 phát triển tới 3000 trường. Cơ chế
hoạt động của các trường thuộc loại này tự do hơn, linh hoạt hơn và hiệu quả
cao hơn.
Năm 1991, Mỹ đã đưa ra một số nét lớn của chiến lược phát triển giáo
dục. Đến năm 2010, toàn nước Mỹ đã xây dựng các cộng đồng tiến hành giáo
dục ngoài phạm vi nhà trường. Với trường học các nhà thiết kế kiểu mới phải
xoá bỏ những khuôn mặt cũ, xây dựng nhà trường cho thế kỷ mới. Vị trí đặc
biệt trong việc thiết kế nhà trường kiểu mới thuộc về tập thể cộng đồng, giới
doanh nghiệp và lao động. Nhà trường Mỹ đang và sẽ biến đổi, sẽ biến từng

trong toàn quốc; từng bước phổ cập giáo dục cao trung ở thành thị và các khu
vực kinh tế phát triển; tiếp cận trình độ khoa học - kỹ thuật hàng đầu thế giới,
cơ bản xây dựng hệ thống giáo dục suốt đời…
Để thực hiện các mục tiêu trên, Trung Quốc đã đề ra các biện pháp:
“Công trình giáo dục thế kỷ”, “Công trình nhân tài sáng tạo cấp cao”,
“Công trình giáo dục sáng tạo lâu dài”, “Công trình sản nghiệp hóa các kỹ
thuật mới cao cấp”… Các biện pháp trên sẽ hình thành trên nền tảng hình
thành mạng lưới giáo dục mở, nghĩa là huy động tối da sự tham gia của các
lực lượng xã hội đối với sự nghiệp giáo dục.
Một số nước khác trong khu vực và trên thế giới cũng đang tích cực
đẩy mạnh quá trình phát triển giáo dục bằng nhiều con đường khác nhau,
nhưng để tạo được động lực thúc đẩy nhanh, hầu hết các nước đều tận dụng
và phát huy sức mạnh của con đường xã hội hóa. Bởi lẽ xã hội hóa sự nghiệp
giáo dục là quá trình giải quyết hai yêu cầu cơ bản: Nâng cao nhận thức đồng
thời với việc nâng cao trách nhiệm của xã hội đối với giáo dục.
1.1.2. Nghiên cứu ở trong nước
Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo.
Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào các bậc cha mẹ cũng mong muốn cho con cái
mình được học hành nên người. Truyền thống hiếu học ấy thể hiện ở chỗ
nhân dân ta rất coi trọng việc học, quý mến thầy giáo và quan tâm đến công
tác giáo dục thế hệ trẻ. Dưới thời Phong kiến và Pháp thuộc, tuy Nhà nước chỉ
mở trường dạy học dành cho con em các quan lại, các nhà chức trách và con
cái nhà giàu nhưng đại bộ phận nhân dân lao động cũng đã tự lo liệu để cho
con em mình được đi học bằng cách gửi con cho các thầy đồ dạy hoặc do dân
tự mở lớp mời thầy về dạy.
Việc nhân dân tự chăm lo cho con em mình được học hành bằng cách
kẻ ít người nhiều, kẻ góp công, người góp của bồi dưỡng thầy giáo; cũng như
việc động viên, cổ vũ, tôn vinh người học thành đạt vốn là việc làm của nhân
9
dân ta đã có từ thời xa xưa. Sự chăm lo vật chất và động viên tinh thần cho

triển giáo dục nhưng do cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp, tổ chức thực
hiện còn máy móc nên chưa phát huy hết tiềm năng sẵn có để phát triển
mạnh. Chúng ta thay vì thực hiện sự QLGD của Nhà nước, đã hành chính
hóa giáo dục, Nhà nước hóa giáo dục, làm cho giáo dục mất khả năng chủ
động và thiếu tính sáng tạo. Nhận thức được tình hình này, Đảng và Chính
phủ đã thực hiện nhiều đợt cải cách giáo dục nhưng vẫn còn mang tính chắp
vá, chất lượng chưa đáp ứng được nhu cầu KT- XH, nhất là trong thời điểm
này, khi nhân loại đang bước sang thời kỳ “Làn sóng thứ ba”, vào thời đại
văn minh hậu công nghiệp, khoa học và kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, xu
hướng hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa, đa phương hóa là quy luật tất yếu để
phát triển đất nước.
Ngày 9/12/1981 Bộ Giáo dục ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động
của HĐGD các cấp chính quyền ở địa phương nhưng mãi đến Đại hội Đảng
cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986), với đường lối đổi mới của Đảng, đất
nước ta bắt đầu chuyển mình để bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ đổi
mới tư duy trên các lĩnh vực mà trước tiên là lĩnh vực kinh tế hàng hóa,
kinh tế thị trường với xu thế mở cửa. Hoàn cảnh khách quan và chủ quan
đã đặt ra nhiều thời cơ và thách thức mới đòi hỏi nền giáo dục Việt Nam
phải phát triển với tốc độ cao, đạt tới trình độ phù hợp, đáp ứng nhu cầu
phát triển KT - XH. Quan điểm đa dạng hóa, đa phương hóa trong giáo dục
vốn có được tiếp tục khơi dậy và nâng cao lên một tầm mới.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai của BCH TW khóa VIII đã chính thức
đề cập đến nội dung của công tác XHHGD: “Nhà nước cần đầu tư nhiều hơn
cho giáo dục nhưng vấn đề rất quan trọng là phải quán triệt sâu sắc và tiến
hành tốt các nguồn đầu tư, mở rộng phong trào xây dựng, phát triển giáo dục
trong nhân dân, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội… Phải coi đầu tư
11
cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển… Phải
coi đầu tư cho phát triển là một trong những hướng chính, tạo điều kiện cho
giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực cho sự phát triển KT-XH. Huy động

là cơ sở để hoạch định hệ thống chính sách xã hội: "Các vấn đề chính sách xã
hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hóa. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt,
đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội,
các cá nhân và các tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn
đề xã hội". Trên tinh thần ấy, văn kiện Đại hội VIII về GD&ĐT đã nêu: "Cụ
thể hóa chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa sự
nghiệp GD&ĐT, trước hết là vấn đề đầu tư phát triển và bảo đảm kinh phí
hoạt động. Ngoài việc ngân sách dành một tỷ lệ thích đáng cho sự phát triển
GD&ĐT, cần thu hút thêm các nguồn đầu tư từ các cộng đồng, các thành
phần kinh tế, các giới kinh doanh trong và ngoài nước, đi đôi với việc sử
dụng có hiệu quả nguồn đầu tư cho GD&ĐT. Những doanh nghiệp sử dụng
người lao động được đào tạo có nghĩa vụ đóng góp vào ngân sách GD&ĐT.
Đổi mới chế độ học phí phù hợp với sự phân tầng thu nhập trong xã hội, loại
bỏ những đóng góp không hợp lý nhằm đảm bảo tốt hơn kinh phí giáo dục,
đồng thời cải thiện điều kiện học tập cho học sinh nghèo" [21].
Đại hội Đảng lần thứ IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định "Nhà nước dành
tỷ lệ thích đáng, kết hợp đẩy mạnh xã hội hóa phát triển GD&ĐT. Huy động
và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho GD&ĐT. Đẩy mạnh hợp tác quốc
tế về phát triển GD&ĐT ". Cũng tại Đại hội IX, XHHGD được coi là một
trong ba phương hướng để đẩy mạnh sự phát triển GD&ĐT đi vào thế kỷ
XXI: "Tiếp tục nâng cao chất lượng toàn diện, đổi mới nội dung, phương
pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống QLGD; thực hiện chuẩn
hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa". [22]
Hệ thống quan điểm của Đảng và các chính sách của Nhà nước ta về
13
XHHGD thực chất là khẳng định tư tưởng chiến lược của Đảng trong quá trình
phát triển GD&ĐT. Quá trình đó đã chứng minh rằng, XHHGD không phải là
giải pháp tình thế khi nền kinh tế đất nước còn khó khăn, điều kiện đầu tư cho
giáo dục còn hạn hẹp, mà là một chủ trương chiến lược lâu dài, xuyên suốt toàn
bộ quá trình phát triển giáo dục, ngay cả đến khi nước ta phát triển thành một

theo cơ chế thị trường định hướng XHCN.
1.2.1.2. Công tác xã hội hóa giáo dục
- XHHGD là: “Huy động xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp
nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của nhà
nước để xây dựng một xã hội học tập” [27].
Thực chất đây là bước cụ thể hóa đường lối lãnh đạo của Đảng: “Các
vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá. Nhà nước
giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mọi người dân, các doanh nghiệp,
các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và các tổ chức nước ngoài cùng tham
gia giải quyết các vấn đề xã hội” [27]. Đồng thời thể hiện đường lối vận động
quần chúng, huy động sức mạnh của toàn thể xã hội vào việc thực hiện nhiệm
vụ, Đại hội VII của Đảng đã xác định:“Giáo dục là quốc sách hàng đầu.
Điều đó cho thấy XHHGD là một biện pháp giải quyết mâu thuẫn giữa thực
tiễn của giáo dục và những yêu cầu mà xã hội đòi hỏi giáo dục phải đáp ứng,
là trả lại bản chất xã hội cho giáo dục” [20].
- Có thể hiểu XHHGD là một cách làm giáo dục, được xác định bởi
những đặc điểm sau: Huy động mọi lực lượng xã hội cùng tham gia làm công
tác giáo dục; Huy động sức mạnh tổng hợp của các cơ quan, ban, ngành có
liên quan; Đa dạng hóa các loại hình đào tạo, các hình thức học tập, nhằm đáp
ứng nhu cầu học tập của cộng đồng.
Trước đây, Đảng và Nhà nước ta cũng đề ra các chủ trương: "Nhà
nước và nhân dân cùng làm", hoặc: "Nhà nước và nhân dân cùng xây dựng
15
và phát triển giáo dục" đã huy động một nguồn lực đáng kể trong nhân dân.
Tuy nhiên, chủ trương trên cũng chỉ để giải quyết vấn đề “Nguồn ngân sách
còn hạn chế” chứ không sâu, rộng như XHHGD. XHHGD là một tư tưởng
chiến lược lâu dài, xuất phát từ bản chất XHHGD. Hội nghị lần thứ 2
BCHTW Đảng khóa VIII đã xác định: “Phát triển giáo dục là sự nghiệp của
toàn xã hội, của nhà nước và mỗi cộng đồng, của từng gia đình và mỗi công
dân. Kết hợp tốt giáo dục học đường với giáo dục gia đình, giáo dục xã hội,

văn hoá khác đem lại nội dung giáo dục cho học sinh. Các tầng lớp nhân dân
có thể cung cấp tài liệu, bổ sung phần mềm của nội dung giáo dục nhà trường.
Để cho cả cộng đồng cùng tham gia giáo dục thế hệ học sinh, đòi hỏi sự phối
hợp chặt chẽ giữa nhà trường, các cơ quan quản lý giáo dục, các tổ chức xã
hội và các bậc cha mẹ.
Môi trường giáo dục có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát
triển nhân cách học sinh. XHHGD THCS phải hướng tới việc huy động toàn
xã hội tham gia xây dựng môi trường giáo dục. Để làm được điều đó phải dựa
vào lực lượng của toàn xã hội để đảm bảo cho các môi trường trên được lành
mạnh có tính tích cực và có tính thống nhất trong quá trình tác động đến việc
hình thành nhân cách của thế hệ học sinh.
Môi trường đầu tiên mà chúng ta đề cập tới là môi trường nhà trường.
XHHGD THCS trước hết là huy động các lực lượng xã hội vào việc xây dựng
nhà trường từ khung cảnh sư phạm, CSVC của nhà trường, đến nề nếp kỷ
cương, không khí học tập, để tạo môi trường thuận lợi cho việc xây dựng mối
quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người. Đặc biệt trong việc đổi mới
hình thức giáo dục THCS, thực hiện giáo dục toàn diện cho học sinh phải là
một môi trường tốt cho học sinh tiếp thu các kiến thức và rèn luyện các kỹ
năng, ở đây nhà trường luôn giữa vai trò chủ động trong việc phối hợp với gia
đình và xã hội tạo ra môi trường trên.
17
Thực tế hiện nay một bộ phận cha mẹ thiếu kiến thức kỹ năng làm cha
mẹ một cách khoa học, nên đòi hỏi không chỉ có gia đình mà các lực lương xã
hội cùng chăm lo xây dựng môi trường gia đình trong giáo dục học sinh. Điều
đó có nghĩa Nhà nước và các tổ chức xã hội có giúp đỡ các gia đình có những
điều kiện tối thiểu cần thiết cho việc giáo dục con em mình, về điều kiện kinh
tế, trình độ học vấn, kiến thức nuôi dạy con, nếp sống văn minh và hơn ai hết
nhà trường cần phải phối hợp chặt chẽ với gia đình.
Môi trường xã hội đang biến động nhanh chóng và mạnh mẽ, có tác
động rất lớn đến việc giáo dục các thế hệ học sinh. Môi trường xã hội có

có nhiều loại hình, nhiều chương trình, mang tính xã hội cao.
Đa dạng hoá các loại hình giáo dục THCS còn bao gồm cả việc phát huy tối
đa vai trò của gia đình. Cần tổ chức giáo dục THCS theo hướng có sự tham gia tích
cực của từng gia đình, của toàn xã hội, bên cạnh hệ thống trường, lớp.
Song để đảm bảo định hướng XHHGD THCS, trường công lập luôn
phải giữ vững vị trí chủ đạo. Nhà nước cần đầu tư toàn diện cho lĩnh vực này,
nhưng không nên hoàn toàn ỷ lại, khoán trắng cho Nhà nước, mà bản thân
giáo dục chính quy, nhà trường công lập cũng phải thực hiện hợp tác tích cực
với các lực lượng xã hội.
Sự tham gia của các lực lượng xã hội vào quá trình đa dạng hoá các
hình thức học tập và các loại trường, lớp sẽ góp phần làm cho mọi học sinh
được hưởng sự chăm sóc giáo dục toàn diện. Chính sự tham gia của các lực
lượng vào giáo dục THCS sẽ làm cho giáo dục THCS gắn bó với cộng đồng,
do cộng đồng thực hiện và vì lợi ích cộng đồng.
1.2.2. Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục trung học cơ sở
1.2.2.1. Quản lý
- Quản lý là một loại hoạt động xã hội mang tính phổ biến của con
người và xã hội loài người, bắt nguồn từ tính chất cộng đồng, dựa trên sự
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status