các biện pháp phát triển công tác xã hội hoá giáo dục ở trường phổ thông đa cấp văn lang, tỉnh quảng ninh - Pdf 20


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
––––––––––––––––––––
ĐÀM THỊ THANH THUỶ CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG TÁC
XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG
ĐA CẤP VĂN LANG TỈNH QUẢNG NINH

Chuyên ngành: QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN LÝ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐẶNG QUỐC BẢO


Tác giả Đàm Thị Thanh Thủy

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 0
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 3
5. Giả thuyết khoa học 3
6. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7. Phương pháp nghiên cứu 4
8. Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO
DỤC Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG 5
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 5
1.2 Những khái niệm cơ bản của đề tài 8
1.3. Đặc trưng xã hội hoá giáo dục đối với trường phổ thông đa cấp 16
1.4. Ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác XHHGDPT trong giai đoạn
hiện nay 20
1.5. Yêu cầu quản lý phát triển công tác XHHGD đối với trường phổ thông
đa cấp trong giai đoạn hiện nay. 21
1.6 Xu hướng phát triển XHHGD phổ thông ở một số nước trong khu vực
và trên thế giới trong giai đoạn hiện nay. 23
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC Ở

3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp. 89
3.4. Khảo nghiệm về tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp. 91
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………… 100
PHỤ LỤC Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
BCHTW
Ban chấp hành Trung ương
BGH
Ban giám hiệu
CB – GV – NV
Cán bộ - Giáo viên – Nhân viên
CBQL
Cán bộ quản lí
CMHS
Cha mẹ học sinh
CNH - HĐH
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CTXHHGD
Công tác xã hội hóa giáo dục
KT – XH
Kinh tế - Xã hội
GD

Giáo dục là một hoạt động xã hội rộng lớn, có liên quan trực tiếp đến
lợi ích, nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người dân, mọi tổ chức KT-XH.
Ngày nay, xã hội loài người bước sang kỷ nguyên mới, kỷ nguyên
CNH-HĐH, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực trong sự phát triển
bền vững của xã hội. Giáo dục có vai trò ngày càng quan trọng trong quá
trình phát triển KT-XH của đất nước. Do vậy, bất kỳ một nước nào dù lớn
hay nhỏ, dù giàu hay nghèo, dù phát triển hay đang phát triển bao giờ cũng
phải quan tâm đến giáo dục.
Để phát triển nền giáo dục quốc dân, từ trước đến nay, xu thế chung
của các nước trên thế giới là đẩy mạnh XHHGD. Điều này không chỉ đúng
đối với những nước nghèo mà ngay cả nước giàu cũng có quan điểm tương
tự. Một trong những nguyên tắc giáo dục vì sự phát triển bền vững của Mĩ ở
Thế kỷ 21 là: "Giáo dục phải lôi cuốn được sự tham gia của tất cả mọi
người, mọi tổ chức, cộng đồng. Các nhà giáo phải vượt ra khỏi bức tường
của nhà trường để huy động cha mẹ học sinh, cộng đồng, cơ quan vào quá
trình giáo dục".
Sở dĩ XHHGD được coi trọng bởi XHHGD sẽ định hướng hoạt động
cho mọi người, mọi lực lượng xã hội cùng tham gia và thúc đẩy giáo dục phát
triển. Mặt khác thông qua hoạt động XHHGD từng cá nhân người giáo dục
cũng như người được giáo dục sẽ tự giáo dục, tự điều chỉnh hoạt động của
bản thân và hoàn thiện nhân cách. Như vậy, XHHGD là một quá trình diễn ra
lâu dài và gắn liền với quá trình phát triển của xã hội.
Đất nước ta đang trong thời kỳ đầu của CNH-HĐH, nhận thức sâu sắc
chiến lược giáo dục, chiến lược con người là bộ phận quan trọng trong chiến
lược phát triển KT-XH của đất nước. Có quan tâm tới sự nghiệp giáo dục thì
mới đạt được mục tiêu: "Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

3
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu để đề xuất nâng cao các biện pháp nhằm phát triển công
tác XHHGD ở trường phổ thông đa cấp Văn Lang tỉnh Quảng Ninh trước yêu
cầu đổi mới hiện nay.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác XHHGD đối với trường phổ thông.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Công tác XHHGD đối với trường Phổ thông đa cấp Văn Lang tỉnh
Quảng Ninh.
4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về XHHGD và thực
trạng XHHGD ở trường phổ thông đa cấp Văn Lang. Từ đó đề xuất các biện
pháp nhằm phát triển công tác XHHGD của nhà trường trong giai đoạn mới.
Điều tra, khảo sát thực tế các năm học từ năm 2005 - đến nay.
5. Giả thuyết khoa học
Trường Phổ thông đa cấp Văn Lang đã có nhiều thành tựu trong công
tác dạy và học, tuy nhiên cũng còn có một số hạn chế. Những hạn chế đó một
phần do công tác XHHGD chưa được mạnh mẽ. Nếu đề xuất các biện pháp
quán triệt các vấn đề về công tác XHHGD phù hợp với đặc điểm, điều kiện
cụ thể của nhà trường và định hướng phát triển của ngành thì chất lượng, hiệu
quả giáo dục của trường ở cả 3 cấp học sẽ được nâng cao.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về XHHGD và
XHHGD ở trường phổ thông.
6.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng trong việc thực hiện
công tác XHHGD ở trường phổ thông đa cấp Văn Lang.

Phụ lục Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

5
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC
Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG

1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Trong lịch sử phát triển giáo dục, yếu tố “xã hội hoá giáo dục” xét về
mặt bản chất không phải là một vấn đề mới, yếu tố này đã xuất hiện từ những
năm đầu của thế kỉ XX trong các bài giảng về giáo dục đạo đức và xã hội của
Emile Duerkheim (1902 - 1903) ở Paris và các giáo trình nghiên cứu của một
số nhà giáo dục của các nước. Ở Việt Nam, thực chất XHHGD đã có nguồn
gốc từ lâu đời và là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Tư tưởng “Lấy dân
làm gốc” đã được thể hiện sâu sắc trong quá trình phát triển của lịch sử dân
tộc và trở thành bản sắc độc đáo của dân tộc Việt Nam.
Từ thời phong kiến các loại trường được mở (trường tư, trường dân
lập). Việc học hành của con em nhân dân đều do gia đình, làng xóm, cộng
đồng chăm lo, việc đóng góp phần lớn do lòng dân tự nguyện.
Dưới thời thực dân Pháp thống trị, bên cạnh dòng giáo dục của Nhà
nước không được phát triển thì dòng giáo dục phi chính thống nảy nở trong
sự chăm lo của nhân dân, của các nhà nho yêu nước như: Nguyễn Đình
Chiểu, Phan Văn Trị, Nguyễn Trường Tộ, Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp,
Huỳnh Thúc Kháng

dục” [17, Tr.100].
Chủ trương XHHSNGD của Đảng được thể chế hóa vào Hiến pháp
1992 tại Điều 35: “…Phát triển các hình thức quốc lập, dân lập và các hình
thức giáo dục khác” [26, Tr.101]. Điều 12 Luật giáo dục 2005 (sửa đổi)
khẳng định: “XHH sự nghiệp giáo dục để thực hiện đa dạng hóa các loại
hình trường và các hình thức giáo dục, khuyến khích, huy động và tạo điều
kiện để các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục” [27,
Tr.101]. Chính phủ ban hành Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997 về
“phương hướng và chủ trương XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa”.
Ngày 18/4/2005 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy
mạnh XHH các hoạt động GD, văn hóa, y tế, TDTT. Tiếp đó ngày 24/6/2005

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

7
Bộ GD&ĐT đã ban hành Quyết định số 20/2005/QĐ-BGD&ĐT phê duyệt đề
án “Quy hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục 2005 – 2010”.
Bên cạnh chủ trương của Đảng và Nhà nước, các nhà khoa học, nhà quản
lí giáo dục cũng có nhiều công trình nghiên cứu về XHH công tác giáo dục:
Phó GS - Tiến sĩ Đặng Quốc Bảo đưa ra quan niệm: “Xã hội hóa sự
nghiệp giáo dục phản ánh bản chất của luận đề: giáo dục cho tất cả mọi
người, tất cả cho sự nghiệp giáo dục (Education for all, all for Education).
Vậy việc huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân
dân đóng góp xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lí của nhà nước
không phải là một ý tưởng mới lạ.” [8, Tr.100]
Giáo sư – T.S Phạm Minh Hạc: Xã hội hóa giáo dục – 1997; Giáo dục
Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỉ 21 – 1997; Nhân tố mới về giáo dục
và đào tạo trong thời kì đẩy mạnh CNH-HĐH – 2002. Ông khẳng định: “sự
nghiệp giáo dục không chỉ của Nhà nước mà là của toàn xã hội: mọi người
cùng làm giáo dục, Nhà nước và xã hội, Trung ương và địa phương cùng làm

thế giới, trong khu vực đã cung cấp nhiều tư liệu và bài học quý giá làm cơ
sở cho việc nghiên cứu công tác XHHGD và XHHGD phổ thông. Các đề tài
bước đầu đã có những thành công tốt đẹp gắn với công tác quản lý XHHGD
ở từng loại hình trường, từng cấp học, từng địa phương. Tuy nhiên các giải
pháp vẫn mang tính đặc thù chưa được triển khai đồng bộ. Đặc biệt trong xu
thế hiện nay, mô hình trường phổ thông liên cấp ngoài công lập đang phát
triển và ngày càng thể hiện các tính ưu việt của nó. Vì vậy cần thiết phải xây
dựng các biện pháp tăng cường công tác XHHGD để phát triển nhanh mô
hình này. Với toàn bộ những kiến thức khoa học về lý luận đã nêu trên, tác
giả trân trọng tiếp thu và trình bày trong chương I của luận văn. Đây chính là
cơ sở để thực hiện việc nghiên cứu, đề xuất các nội dung của chương sau
1.2 Những khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Phát triển
Đây là một khái niệm nhằm diễn tả một sự việc trước đó đã có, hiện
đang có và người ta muốn tác động vào làm nó biến đổi cả về chất lẫn lượng
từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao và đạt được mục đích cuối
cùng là công việc có hiệu quả tốt như mong đợi. Phát triển có hàm ý rộng là

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

9
tạo ra sự tăng trưởng bền vững của hệ thống. Thuật ngữ này chứa đựng nội
dung của quản lý vì một hệ thống muốn phát triển thì phải có sự quản lý.
1.2.2. Nhà trường, Trường phổ thông nhiều cấp học, Trường phổ
thông dân lập đa cấp
* Nhà trường: Nhà trường là một thiết chế chuyên biệt của xã hội,
thực hiện chức năng kiến tạo các kinh nghiệm xã hội cần thiết cho một nhóm
dân cư nhất định của xã hội đó.
Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được thành lập theo kế
hoạch của nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và được tổ chức theo

phải linh hoạt, sáng tạo để vừa dung hoà giữa các cấp vừa phát huy được sức
mạnh riêng biệt của từng cấp tạo nên sức mạnh tổng thể của cả nhà trường.
Điều này được ví như là bàn tay khi xoè ra thì mỗi cấp có một ưu thế, sức
mạnh riêng nhưng khi nắm tay lại thì tạo nên một khối thống nhất, một sức
mạnh tổng hợp.
* Trường phổ thông dân lập đa cấp (nhiều cấp học).
Theo Luật giáo dục nhà trường thuộc loại hình này nằm trong hệ thống
giáo dục quốc dân, chịu sự quản lý của cơ quan Nhà nước về giáo dục theo
quy định của Chính phủ, mang đầy đủ mọi đặc trưng của trường phổ thông
nhiều cấp học, có nhiệm vụ và quyền hạn như trường công lập trong việc
thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình, thực hiện Luật giáo dục, Điều lệ
trường phổ thông, các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, các quy
định, chỉ thị do Bộ GD&ĐT ban hành cho các cấp học Trường hoạt động
theo nguyên tắc tự cân đối thu, chi có tích lũy bằng học phí. Tự chủ và tự
chịu trách nhiệm về qui hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường. Tổ chức các
hoạt động giáo dục, xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo, huy động, sử
dụng và quản lý các nguồn lực để thực hiện mục tiêu giáo dục (Điều 65 Luật
giáo dục). Các trường ngoài công lập có qui chế chặt chẽ về tổ chức và hoạt
động như quyết định 39/2001 của BGD&ĐT.
1.2.3. Quản lí giáo dục, quản lí nhà trường
* Quản lý giáo dục:
Là những tác động có hệ thống, kế hoạch, có ý thức và mục đích của
chủ thể quản lý đến các khâu trong hệ thống giáo dục nhằm mục đích đảm bảo

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

11
sự phát triển toàn diện và hài hoà cho thế hệ trẻ. QLGD cũng có thể hiểu là quá
trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn các tác động phù hợp dựa
trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm tạo cho đối

của nhà trường

BP2
Phát huy tác dụng giáo dục của nhà trường
trường đối với cộng đồng .

BP4
Cải tiến
công tác
kiểm
tra,
giám
sát, rút
kinh

BP3
Thu hút
sự ủng hộ
Chỉ đạo
Tổ chức
Kiểm tra

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

12
vai trò xã hội đã đề ra và chính quá trình xã hội hoá này đã tạo cơ sở cho việc
hình thành và phát triển nhân cách con người.

P1
P3
P2
Chức năng và vai trò của giáo dục được đặt trong sự gắn kết giữa giáo
dục, chính trị, văn hóa - xã hội được mô tả bằng sơ đồ 1.2 và 1.3
Sơ đồ 1.2. Mối liên hệ giữa 3 chức năng của giáo dục
Sơ đồ 1.3. Mối quan hệ giữa giáo dục, chính trị, kinh tế và xã hội Hai yêu cầu cơ bản thuộc về bản chất của XHHGD là: “XHH trách nhiệm,
nghĩa vụ của mọi người đối với giáo dục và cả XHH về quyền lợi giáo dục đối với
mọi người từ đó mọi người được hưởng thụ mọi thành quả giáo dục”. Hai yêu
cầu đó có mối quan hệ chặt chẽ, có tác động qua lại lẫn nhau, luôn kết hợp đồng
thời. Yêu cầu thứ hai là hệ quả của yêu cầu thứ nhất và cũng là biện pháp thúc
đẩy yêu cầu thứ nhất là đỉnh cao, là đích của xã hội hoá giáo dục.
XHHGD phải được hiểu là phần tầng trách nhiệm là giao một phần
trách nhiệm cho xã hội dân sự, là kết hợp cùng chịu trách nhiệm, một bên là
Nhà nước và bên còn lại là người dân. XHHGD còn là sự hiệp lực giữa học
đường và các gia đình có con em đi học. Trách nhiệm chung này không chỉ
đơn thuần trong lĩnh vực tài chính mà còn là chất lượng nuôi dạy, nội dung
chương trình học, nhân lực Chính vì lẽ đó, trong hoạt động thực tiễn cần

đi học, học ở trường ở lớp tự học suốt đời. Người biết dạy người chưa biết,
người biết nhiều dạy người biết ít, mỗi người phải không ngừng nâng cao
trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, phát triển các hình thức giáo dục từ
xã, tiếp tục đa dạng hoá các hình thức giáo dục và các loại hình trường phù
hợp với tình hình mới”. [16,Tr.101]
Chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước về thực hiện XHHGD
đã được thể chế bằng pháp luật. Luật giáo dục năm 2005 (sửa đổi) chính là cơ
sở pháp lí để thực hiện XHHSNGD. Điều 12 của Luật giáo dục đã ghi rõ:
“Mọi tổ chức, gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp
giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh,
phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục. Nhà nước giữ vai trò
chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục, thực hiện đa dạng hoá các loại
hình trường và loại hình giáo dục, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện
để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục” [26,Tr.101].
Ba yếu tố Nhà nước - xã hội - giáo dục trong lĩnh vực hoạt động giáo
dục được thể chế hoá trở thành hành lang pháp lí tạo ra sức mạnh tổng hợp
tạo động lực cho sự phát triển của sự nghiệp giáo dục.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

15
Tóm lại bản chất của vấn đề xã hội hoá giáo dục được mô tả theo sơ đồ sau: * XHHGD ở trƣờng phổ thông.
Giáo dục phổ thông là nền tảng văn hoá của một nước, là sức mạnh
tương lai của một dân tộc. Giáo dục phổ thông là cốt lõi của sự phát triển

16
có quan hệ chặt chẽ với nhau: Nếu tổ chức, chỉ đạo thực hiện XHHCTGD là
mấu chốt thì việc tạo thể chế XHHCTGD là tiền đề pháp lí, là chỗ dựa cho việc
triển khai quản lí nhà nước, còn việc giám sát, đôn đốc kiểm tra là xác định trình
độ và mức độ thực hiện XHHCTGD của toàn xã hội dưới sự quản lí của Nhà
nước. Ba nhóm vấn đề này đều phải quán triệt mội tư tưởng là dân chủ hoá và
nếu không dân chủ hoá thì không thực hiện đựơc XHHGD.
Nội dung quản lí nhà nước trong việc thực hiện XHHCTGD chủ yếu
dựa vào nội dung phân cấp quản lí trong giáo dục mà thực chất là phân công,
phân chia trách nhiệm giữa các bộ phận, tổ chức đảm bảo tính thống nhất,
nhất quán, đồng bộ, liên thông, để có thể phát huy đầy đủ chức năng của từng
bộ phận, từng tổ chức trong việc thực hiện mục tiêu chung.
Đối với nhà trường trong quá trình thực hiện bốn chức năng quản lý
công tác XHHGD cần xác định rõ mối các mối quan hệ trong cơ chế tổ chức
sự tham gia của các lực lượng xã hội cùng làm công tác XHHGD trong đó
Đảng và chính quyền giữ vai trò quyết định.
Nhà trường (giáo dục) phải giữ vai trò chủ động, trung tâm và nòng
cốt trong công cuộc XHHCTGD và trong hệ thống các mối quan hệ của cơ
chế tổ chức sự tham gia của xã hội cùng làm giáo dục. Nhà trường phải gắn
với cộng đồng phục vụ những mục tiêu KT-XH của địa phương. Mối quan hệ
giữa nhà trường và cộng đồng là mối quan hệ hai chiều nên phải được thường
xuyên quan tâm và giải quyết kịp thời theo từng bước phát triển của xã hội.
1.3. Đặc trƣng xã hội hoá giáo dục đối với trƣờng phổ thông đa cấp
1.3.1. Đặc trưng xã hội hoá giáo dục
Theo nghị quyết 90/CP của chính phủ về “phương hướng và chủ
trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá”, đặc trưng XHHGD
được thể hiện ở 5 mặt sau:

tham gia XHHGD ở cấp này sẽ đông hơn, đa dạng hơn, phong phú hơn và
mức độ sẽ tùy thuộc vào điều kiện cụ thể ở từng trường học và các vùng miền.
* Mục tiêu xã hội hóa giáo dục sự nghiệp giáo dục phổ thông
Trước hết là làm cho xã hội nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của
GD&ĐT ở trường phổ thông trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước nói
chung cũng như sự phát triển kinh tế ở mỗi địa phương, gia đình, cộng đồng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

18
XHHGD ở phổ thông tạo nguồn lực tham gia xây dựng và phát triển
giáo dục phổ thông mà trước hết là nguồn lực con người. Do đó giáo dục phổ
thông không chỉ bó hẹp trong thế đơn độc của nhà trường mà còn có trách
nhiệm của cộng đồng và toàn xã hội đặc biệt là trong giáo dục đạo đức, ý
thức học sinh phổ thông. XHHGD phổ thông đồng thời là chủ trương và giải
pháp nhằm thực hiện cuộc vận động dân chủ hóa trong GD-ĐT góp phần
lành mạnh hóa môi trường.
XHHGD phổ thông nhằm thực hiện phương châm GD-ĐT cho mọi
người làm cho mọi người được hưởng lợi từ giáo dục, đáp ứng được nhu cầu
học tập của cộng đồng.
Nội dung chính của XHHGD ở trường phổ thông
Toàn xã hội tham gia thực hiện các chỉ tiêu phổ cập giáo dục theo mục
tiêu đề ra trong từng thời kì.
Toàn xã hội tăng cường các nguồn lực cả về nguồn lực vật chất (nhân
lực, tài lực, vật lực) và nguồn lực phi vật chất (tấm lòng, sáng kiến, kinh
nghiệm sự ủng hộ) cho các trường học.
Cộng đồng tham gia vào giáo dục toàn diện cho học sinh, phát triển qui
mô, tạo môi trường thuận lợi để học sinh phát triển các khả năng của mình.
Đa dạng hóa các loại hình trường lớp.
Một số hình thức cụ thể thực hiện XHHGD phổ thông:

của, vật chất để xây dựng nhà trường mà còn vận động xã hội tham gia vào
việc giải quyết những vấn đề của giáo dục. XHHGD phải tiến tới huy động
toàn xã hội tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình giáo dục tức là
tham gia vào các hoạt động đào tạo con người. Đây là mức độ cao, một lĩnh
vực khó khăn hơn của cuộc vận động xã hội hoá giáo dục.
1.3.3. Đặc trưng xã hội hóa giáo dục đối với trường phổ thông đa cấp
Các đặc trưng XHHGD đối với loại hình trường này có những điểm
chung cơ bản như các trường phổ thông khác về mục tiêu, nội dung, cách
thức tổ chức thực hiện tuy nhiên với đặc thù nhiều cấp học nên công tác
XHHGD được thực hiện phong phú và đa dạng hơn phụ thuộc vào nhu cầu
mỗi cấp học và sự quan tâm của Đảng, nhà nước, xã hội đối với cấp học đó.
Trong cách thức thực hiện rất cần có sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo để tạo

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

20
nên sự hài hòa giữa các cấp và thế cân bằng ổn định trong nhà trường. Thực
hiện XHHGD ở trường phổ thông đa cấp là một việc làm khó và khá công
phu nên cần thiết phải có sự sắp xếp, tính toán để xây dựng kế hoạch mang
tính tổng thể. Cách thức tổ chức không chỉ dừng lại 1-2 nội dung mà phải
đồng bộ để công tác XHHGD mang tính tổng quát mà bất kì trường phổ
thông nào cũng có thể học tập và nó thực sự trở thành “chìa khóa” mở rộng
cánh cửa giáo dục trên mọi bình diện: quy mô, chất lượng, hiệu quả và công
bằng xã hội.
1.4. Ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác XHHGDPT trong giai
đoạn hiện nay
Giáo dục được tiến hành theo phương thức XHH với sự tham gia của
liên ngành, cộng đồng đã nâng cao tính nhân dân, bản sắc dân tộc của nền
giáo dục nước ta, tiếp tục khẳng định chân lí: Giáo dục là sự nghiệp quần
chúng của đề cao một nền giáo dục của dân, do dân và vì dân. Nó cũng là cơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status