ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HÀ THU HOÀI
DẠY ĐỌC - HIỂU HAI TÁC PHẨM “ĐỒNG CHÍ” VÀ “LÀNG”
CHO HỌC SINH LỚP 9 HUYỆN VĂN YÊN - YÊN BÁI
Chuyên ngành : Lí luận và phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt
Mã số : 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Trần Thế Phiệt
THÁI NGUYÊN, NĂM 2016
1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu,
Ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, khoa sau Đại học trường Đại học Sư phạm Thái
Nguyên, các thầy cô giáo công tác ở bộ Giáo dục và Đào tạo.
Đặc biệt, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần
Thế Phiệt – Người thầy hướng dẫn khoa học đã động viên, chỉ bảo và giúp đỡ
tôi rất nhiều để hoàn thành luận văn.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, thầy cô giáo và các
em học sinh trong các trường THCS ở Huyện Văn Yên – Yên Bái đã động viên,
khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và
hoàn thành luận văn.
6. Đóng góp của luận văn ...................................................................................... 9
7. Cấu trúc luận văn............................................................................................... 9
PHẦN NỘI DUNG ............................................................................................. 10
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY ĐỌC HIỂU HAI TÁC PHẨM ĐỒNG CHÍ (CHÍNH HỮU) VÀ LÀNG (KIM LÂN) 10
1.1. Một số tiền đề lí luận về đọc - hiểu .............................................................. 10
1.1.1. Khái niệm đọc - hiểu ................................................................................. 10
ii
1.1.2. Quan niệm về vấn đề đọc - hiểu văn ......................................................... 11
1.1.3. Những hiểu biết cần thiết về VHVNHĐ phục vụ cho việc dạy học hai tác
phẩm “Đồng chí” và “Làng” ............................................................................... 12
1.1.4.Hai tác phẩm Đồng chí và Làng trong tiến trình phát triển của VHVNHĐ 14
1.2.Cơ sở thực tiễn .............................................................................................. 15
1.2.1. Vài nét khái quát về vị trí địa lý và tình hình kinh tế - chính trị - văn hóa xã hội của huyện Văn Yên – tỉnh Yên Bái .......................................................... 15
1.2.2. Tình hình dạy – học văn cho học sinh cấp II của huyện Văn Yên - tỉnh
Yên Bái ................................................................................................................ 17
1.2.3. Những nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém trong việc tiếp nhận tác phẩm
văn học Việt Nam hiện đại của học sinh THCS ở miền núi ............................... 20
CHƯƠNG 2. NHỮNG BIỆN PHÁP TỔ CHỨC DẠY HỌC ĐỌC HIỂU HAI
TÁC PHẨM ĐỒNG CHÍ VÀ LÀNG CHO HỌC SINH LỚP 9 HUYỆN VĂN
YÊN TỈNH YÊN BÁI ......................................................................................... 22
2.1. Trước giờ lên lớp .......................................................................................... 22
2.1.1. Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài .............................................. 22
2.1.2. Định hướng cho học sinh những tư liệu liên quan đến bài học ................ 23
2.1.3. Xây dựng hệ thống câu hỏi cho học sinh chuẩn bị bài ............................. 25
2.2. Tổ chức dạy đọc hiểu hai tác phẩm Đồng chí và Làng trong giờ học ......... 26
2.2.1. Tạo hứng thú, kích thích nhu cầu học tập cho học sinh ............................ 26
2.2.2. Tổ chức cho học sinh cảm nhận tác phẩm bằng các hoạt động nghệ thuật... 29
2.2.3. Xây dựng tình huống có vấn đề bằng hệ thống câu hỏi gợi mở ............... 31
iv
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
ĐHQG
: Đại học quốc gia
ĐHSP
: Đại học sư phạm
HS
: Học sinh
GV
: Giáo viên
NXBĐHSP
: Nhà xuất bản đại học sư phạm
NXBGD
: Nhà xuất bản Giáo dục
PPDH
1. Hoàng Hữu Bội (2008), Thiết kế dạy học Ngữ văn 9, Nxb Giáo dục.
2. Hoàng Hữu Bội (1997), Dạy và học tác phẩm Văn học ở trường phổ thông
trung học miền núi, Nxb Giáo dục.[tr 3]
3. Nguyễn Duy Bình (1983), Dạy văn dạy cái hay - cái đẹp, Nxb Giáo dục.
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Ngữ văn 9, Tập 1, Nxb Giáo dục.
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Ngữ văn 9, Tập 2, Nxb Giáo dục.
6. Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Trọng Hoàn, Vũ Nho (2007), Những vấn đề
chung về đổi mới giáo dục THPT môn Ngữ văn, Nxb Giáo dục.
7. Lê Linh Chi (2009), "Tiếp cận quan điểm đối thoại trong dạy học văn", Kỷ
yếu HTKH 50 năm trường Đại học Vinh, tập 2, Nxb Nghệ An.
8. Nguyễn Viết Chữ (2001), PPDH tác phẩm văn chương theo thể loại, Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội.
9. Nguyễn Viết Chữ (2007), "Về việc bồi dưỡng kĩ năng nghe - nói - đọc - viết
cho HS trong dạy học Ngữ văn", Tạp chí Giáo dục
10. Nguyễn Quang Cương (2007), "Đổi mới nhận thức của người GV văn
học", Tạp chí Giáo dục
11. Trần Thanh Đạm (1971), Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể,
Nxb Hà Nội.
12. Nguyễn Lâm Điền (2009), "Mấy vấn đề về đổi mới phương pháp giảng
dạy VHVNHĐ ở trường Đại học", Kỷ yếu HTKH 50 năm trường Đại học
Vinh, tập 2, Nxb Nghệ An.
13. Bùi Minh Đức (2008), "Phát huy vai trò bạn đọc sáng tạo của HS trong
hoạt động phân tích cắt nghĩa tác phẩm văn học", Tạp chí Giáo dục
14. Hà Minh Đức (chủ biên, 2001), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, tập 3, Nxb
Văn học, Hà Nội.
15. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Đồng chủ biên, 2009), Từ
điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục.
16. Đặng Hiển (1999), "Sức hấp dẫn của một giờ văn", Tạp chí nghiên cứu
Giáo dục
vi
vii
34. Phan Trọng Luận (1977), Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường,
Nxb Giáo dục. [tr 235]
35. Phan Trọng Luận (1983), Cảm thụ văn học giảng dạy văn học, NXB Giáo
dục.
36. Phan Trọng Luận (1998), Xã hội - Văn học - Nhà trường, Nxb ĐHQG Hà
Nội.
37. Phan Trọng Luận (1999), Đổi mới giờ học tác phẩm văn chương ở trường
THPT, Nxb Giáo dục.
38. Phan Trọng Luận (2001), Phương pháp dạy học văn, tập1, Nxb Giáo dục.
39. Phan Trọng Luận (2001), Phương pháp dạy học văn, tập 2, Nxb Giáo dục.
40. Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt,
1987, Phương pháp dạy học văn, NxbN ĐHQG Hà Nội
41.
Phương Lựu (chủ biên, 2003), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục.
42. Mai Xuân Miên (1999), "Mấy vấn đề có tính nguyên tắc định hướng tiếp
nhận của HS trong giờ giảng văn", Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục
43. Vũ Nho (1999), Nghệ thuật đọc diễn cảm, Nxb Thanh niên.
44. Vũ Nho, Nguyễn Thúy Hồng, Trần Thị Thành, Bài tập rèn kĩ năng tích
hợp Ngữ văn 9, Nxb Giáo dục.
45. Cao Thanh Phước (2000), "Ứng dụng phương pháp học tích cực nâng cao
chất lượng giáo dục", Tạp chí Văn hoá nghệ thuật
46. Nguyễn Huy Quát, Hoàng Hữu Bội (2001), Một số vấn đề PPDH văn
trong nhà trường, Nxb Giáo dục.
47. Nguyễn Huy Quát (2011), Nghiên cứu văn học và đổi mới phương pháp
dạy học văn, Nxb Đại học Thái Nguyên.
63. 50 năm Văn Yên xây dựng và trưởng thành 1965 – 2015, Nxb lao động
ix
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới về phương pháp dạy học bộ môn Ngữ
văn hiện nay
Môn Ngữ văn là một trong những môn học chính trong chương trình học
của học sinh. Trong đó hoạt động đọc - hiểu là hoạt động cơ bản nhất của môn
học này. Việc tổ chức dạy đọc - hiểu tốt hay không rất quan trọng vì nó quyết
định đến kết quả đạt được của HS.
Trong dạy học nói chung và dạy đọc - hiểu tác phẩm văn học hiện đại nói
riêng, ở mỗi thời đại, mỗi vùng miền khác nhau luôn phải có sự đổi mới điều
chỉnh trong phương pháp để nâng cao chất lượng dạy và học. Rèn luyện phương
pháp học tập, phương pháp tìm tòi, vận dụng kiến thức vào định hướng đổi mới
phương pháp dạy và học, hướng tới phát huy tính tích cực, chủ động của học
sinh, đào tạo ra những con người mới mang đầy đủ tiêu chuẩn của thời đại
Văn học hiện đại là một trong những giai đoạn văn học lớn của lịch sử văn
học dân tộc, là giai đoạn gần gũi với chúng ta nhất trong ba giai đoạn văn học,
đồng thời là một trong ba phạm trù lớn của văn học bên cạnh văn học dân gian
và văn học trung đại. Do vậy, vấn đề dạy và học VHVNHĐ giúp GV và HS đi
sâu vào việc chiếm lĩnh tư tưởng nghệ thuật của mỗi văn bản và làm sáng tỏ đặc
điểm của VHVNHĐ trong sự đối sánh với các giai đoạn văn học khác, đồng thời
giúp HS có vốn hiểu biết về một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc, nuôi
dưỡng lòng yêu nước, tự hào dân tộc. Bởi lẽ mỗi tác giả với thiên tài của mình
và giới hạn của thời đại, phản ánh một thời kì lịch sử, đánh dấu một bước tiến
của văn học, làm giàu thêm cho tư tưởng, tình cảm, tiếng nói Việt Nam.
Hiện nay văn học hiện đại chiếm một phần không nhỏ trong chương trình
học để lấy chồng, đi làm xa... Đời sống vật chất còn nghèo nên họ chỉ chú ý đến
việc trang trải sinh hoạt trước mắt chứ chưa biết lo lắng cho tương lai con em
bằng việc học. Ở những trường như THCS Dụ Thượng, THCS Quế Thượng,
THCS Quang Minh,... phần lớn các em đi học là do GV đã đến nhà vận động
nhiều lần chứ không phải do tự giác.
Vì là vùng cao nên GV dạy thường là những nguời ở nơi khác đến nên về
phương pháp của GV cũng cần có sự điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp với người
2
học tạo hứng thú học tập cho các em, tránh tình trạng áp dụng chung giáo án
thiết kế dạy HS những vùng miền có trình độ tiếp thu cao hơn.
Việc vận động HS đến lớp đã gặp nhiều khó khăn như vậy thì khi đến lớp,
các em cũng khó mà tập chung tiếp thu bài học trên lớp được. Vì vậy để cho HS
có hứng thú học và đạt kết quả tốt trong môn văn cũng như các môn học khác,
cần thiết phải có một phương pháp dạy thích hợp dựa trên trình độ hiểu biết và
điều kiện học tập của các em.
Việc dạy – học tác phẩm Đồng chí (Chính Hữu) hay Làng (Kim Lân) cũng
như dạy – học các tác phẩm khác trong mảng VHHĐ nói chung, là rất quan
trọng. Nhưng tùy theo đối tượng tiếp nhận, cần xem xét, điều chỉnh PPDH cho
phù hợp để đạt hiệu quả đồng bộ.
Trước đây, đã có một số công trình đề cập đến hoạt động đọc - hiểu văn bản,
cũng như đọc - hiểu VHHĐ, thậm chí cũng có nhiều bài viết hướng dẫn dạy hai
tác phẩm Đồng chí và Làng. Các tác giả đã cố gắng đưa ra những mô hình của
học văn nói chung để nhằm áp dụng vào dạy đọc - hiểu. Tuy nhiên việc xác định
mô hình đọc - hiểu văn bản đúng đắn, phù hợp cho học sinh miền núi còn là một
vấn đề cần được làm rõ.
Những lý do trên thôi thúc chúng tôi chọn đề tài “Dạy đọc - hiểu hai tác
phẩm Đồng chí và Làng cho học sinh lớp 9 huyện Văn Yên - Yên Bái” làm đối
tượng nghiên cứu cho luận văn của mình. Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong
Đến năm 1987, cuốn Phương pháp giảng dạy văn học trên được thay thế
bằng cuốn giáo trình Phương pháp dạy học văn do nhóm tác giả Phan Trọng
Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt biên soạn. Cuốn sách
được Hội đồng thẩm định Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép dùng chung cho tất
cả các trường Đại học và Cao Đẳng Sư phạm trên cả nước.
Mỗi giai đoạn lịch sử lại có những yêu cầu mới về mục tiêu của việc dạy
và học. Muốn đạt được mục tiêu mới cũng cần có những phương pháp mới. Vì
vậy, công cuộc đổi mới PPDH trong nhà trường đang được toàn ngành giáo dục
ra sức thực hiện. Từ những bộ giáo trình nền tảng đầu tiên đó, hầu hết các
trường Đại học đã biên soạn lại, xây dựng thành những tập bài giảng riêng phù
hợp với đặc điểm, yêu cầu riêng của mỗi trường. Năm 1998, ĐHSP Huế đã cho
in giáo trình Phương pháp dạy học văn do Trương Dĩnh biên soạn. Năm 2003,
Đại học Quốc gia TPHCM xuất bản cuốn Phương pháp dạy học văn ở bậc trung
4
học do tác giả Trịnh Xuân Vũ biên soạn. Mới đây, trường Đại học Sư phạm Hà
Nội cho in cuốn giáo trình Phương pháp dạy học văn (2 tập) do Phan Trọng
Luận và Trương Dĩnh viết trên cơ sở tiếp thu những tư tưởng đổi mới PPDH của
Đảng và Nhà nước ta đề ra. Nhìn chung, các bộ giáo trình nói trên đã trình bày
khá đầy đủ và kĩ lưỡng các PPDH văn, rất hữu ích giúp cho các giáo viên đạt
được hiệu quả trong mỗi giờ dạy văn.
Giáo sư Phan Trọng Luận là một trong những chuyên gia đầu ngành của bộ
môn phương pháp. Ông đã không ngừng nghiên cứu, tìm tòi và công bố hàng
loạt công trình, chuyên luận có giá trị lí luận và thực tiễn, những công trình này
đã trở thành cẩm nang cho rất nhiều giáo viên, học viên, sinh viên cùng tất cả
những ai quan tâm đến PPDH văn tham khảo và ứng dụng. Trong tác phẩm Rèn
luyện tư duy qua giảng dạy văn học, ông kết luận "Song song với việc truyền thụ
kiến thức, phải rèn luyện phương pháp cho HS, phải làm cho họ suy nghĩ và biết
cách suy nghĩ để rồi hành động tự lập được" [33, tr.26]. Trong tác phẩm Phân
cảm mới mẻ nhất, thiêng liêng nhất, gắn bó tất cả mọi người: Đồng chí - sự kết
tinh, sự hội tụ những gì tốt đẹp và tinh hoa trong tình cảm xã hội của con
người...
Trong những sách tham khảo, sách bài tập, sách văn mẫu, tác phẩm Đồng
chí cũng như tác phẩm Làng cũng được khai thác ở những khía cạnh khác như
xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm, hay hướng dẫn tìm hiểu bài thơ, hướng
dẫn soạn giáo án...Tùy theo mục đích của các tác giả.
Xung quanh tác phẩm Làng và nhà văn Kim Lân cũng có những tác phẩm
phân tích, bình luận sâu sắc, tiêu biểu là tác phẩm Kim Lân – Nhà văn trong nhà
trường của tác giả Hoài Việt, Nxb Giáo dục, 1999. Nội dung cuốn sách cung cấp
cho người đọc những tư liệu quan trọng về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn
Kim Lân, đồng thời giới thiệu và phân tích, đánh giá những tác phẩm xuất sắc
của ông trong đó có tác phẩm Làng: “Trong chương trình ở bậc THCS và THPT
có một số tác giả VHVN cùng tác phẩm của họ được giới thiệu, để những GV và
HS có thêm tư liệu tham khảo, chúng tôi giới thiệu cuốn sách Nhà văn trong nhà
trường..[60, tr 3]
Như vậy những công trình trên chủ yếu hướng vào phân tích, bình giá tác
phẩm hoặc bàn đến hướng tiếp nhận, cảm thụ hai tác phẩm trên chứ chưa có tài
liệu nào giải quyết một cách thấu đáo vấn đề dạy hai tác phẩm Đồng chí (Chính
Hữu), và Làng (Kim Lân) cho học sinh ở các trường THCS miền núi.
7
Qua những ý kiến, nhận định trên, có thể nói, các nhà nghiên cứu, phê bình
văn học đã bàn đến PPDH văn khá nhiều. Nhưng vì mục đích của người viết,
tính chất của công trình, cho nên các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc phân tích,
khái quát hoặc nêu vấn đề một cách chung chung hoặc tập chung nghiên cứu các
tác phẩm chứ chưa giải quyết một cách trọn vẹn, thấu đáo vấn đề dạy đọc – hiểu
VHVNHĐ trong trường THCS ở miền núi. Chính vì vậy, ở luận văn này, với
dung lượng có hạn, chúng tôi sẽ đi sâu vào nghiên cứu trên cơ sở tham khảo,
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
6. Đóng góp của luận văn
Về lý luận: Góp phần củng cố và trang bị cho giáo viên Ngữ văn ở các
trường THCS miền núi Văn Yên - Yên Bái cơ sở lí luận về phương pháp dạy
đọc - hiểu tác phẩm văn học hiện đại Việt Nam.
Về thực tiễn: Nghiên cứu phương pháp dạy đọc - hiểu tác phẩm văn học hiện
đại Việt Nam ở cấp THCS. Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp tổ chức dạy
học hai tác phẩm Làng và Đồng chí cho học sinh các trường THCS ở miền núi
Văn Yên - Yên Bái.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, nội dung
luận văn có kết cấu 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy đọc – hiểu hai tác phẩm
“Đồng chí” và “Làng” cho HS lớp 9 huyện Văn Yên – Yên Bái.
Chương 2: Những biện pháp tổ chức dạy học tác phẩm “Đồng chí” và” Làng”
cho học sinh lớp 9 huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
9
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CỦA VIỆC DẠY ĐỌC - HIỂU HAI TÁC PHẨM
ĐỒNG CHÍ (CHÍNH HỮU) VÀ LÀNG (KIM LÂN)
1.1. Một số tiền đề lí luận về đọc - hiểu
1.1.1. Khái niệm đọc - hiểu
Trước đây, trong dạy học văn, người ta thường dùng những thuật ngữ:
“Giảng văn”, “Phân tích văn”…thực chất đó chính là hoạt động “Đọc- hiểu văn
bản”. Sự thay đổi về tên gọi đó cũng nói lên sự thay đổi quan niệm về bản chất
văn. Muốn đưa HS đến với tác phẩm văn học thì khi đọc phải "tôn trọng ngữ
cảnh của văn bản, ngữ cảnh của tác giả và thời đại, ngữ cảnh của văn bản đời
sống mà người đọc phụ thuộc vào" [61, 3].
Hoạt động đọc suy cho cùng là để hiểu được nghĩa của văn bản, cho nên
mọi sự đọc, suy cho cùng đều là đọc hiểu.
Giáo sư Phan Trọng Luận cũng là một trong những nhà khoa học nghiên
cứu về vấn đề đọc - hiểu văn bản sớm nhất. Trong chuyên luận Cảm thụ văn
học, giảng dạy văn học tác giả đã chỉ ra tầm quan trọng của hoạt động đọc: "Đọc
từ chữ đầu đến chữ cuối, đọc cho âm vang, đọc để tri giác, cảm giác được bằng
mắt bằng tai từ ngữ, hình ảnh, chi tiết,..." [42, 34]. Quá trình đọc là quá trình
tiếp xúc đầu tiên, từng bước thâm nhập, tiếp nhận tác phẩm. Những tư tưởng này
tiếp tục được ông làm rõ trong giáo trình Phương pháp dạy học văn viết cùng
Trương Dĩnh: "Đọc để nắm bắt được giọng điệu cả tác giả, âm điệu chủ yếu
trong tác phẩm. Đọc để hoà nhập vào thế giới cảm xúc, để phát hiện ý đồ nghệ
thuật của tác giả. Đọc để nhìn ra thế giới cuộc sống trong tác phẩm. Đọc để tiếng
nói nội tâm người đọc vào trong tiếng nói nội tâm của tác giả" [45, 267].
Trong chuyên luận Đọc và tiếp nhận văn chương, Nguyễn Thanh Hùng đã
khẳng định vị trí tối quan trọng của hoạt động đọc: "Đọc văn chương được xem
như là năng lực văn hoá có ý nghĩa cơ bản đối với việc phát triển nhân cách, bởi
vì phần lớn những tri thức hiện đại chuyên ngành được truyền thụ qua hoạt động
đọc" [26, tr.87]. "đọc văn chương luôn đòi hỏi con người phải được sống chứ
không phải là người bị cột chặt vào tác phẩm" [26, tr.90], còn "hiểu" thì không
11
nên xem là hoạt động mà là kết quả mong muốn của hoạt động đọc "Hiểu trong
đọc văn, về một phương diện nào đó là sự vượt qua khoảng cách mơ hồ, chưa
nhận thức ra một cách đầy đủ, hoàn chỉnh giữa chủ thể đọc tác phẩm và văn bản
nghệ thuật của tác phẩm để khám phá ra tình người sâu xa trong cuộc sống mà
sự đóng góp của ngôn ngữ nghệ thuật không có gì thay thế được" [26, tr.88]. Do
sản, tiểu tư sản (viên chức, HS, những người buôn bán, sản xuất nhỏ,…) công
nhân, dân nghèo thành thị,… xuất hiện ngày càng đông đảo. Một lớp công
chúng có đời sống tinh thần và thị hiếu mới đã đòi hỏi hình thành một thứ văn
chương mới để có thể hội nhập với nền văn học thế giới. Đây là thời kì văn học
để lại nhiều tên tuổi lớn, nhiều tác phẩm xuất sắc, trong đó có những tác phẩm
xứng đáng là kiệt tác.
Giai đoạn từ Cách mạng tháng tám năm 1945 – 1975: Từ năm 1945 1975, trên đất nước ta diễn ra nhiều sự kiện lớn: cuộc chiến tranh giải phóng dân
tộc vô cùng ác liệt kéo dài suốt 30 năm, công cuộc xây dựng cuộc sống mới, con
người mới ở miền Bắc... khiến xã hội có những chuyển biến sâu sắc. Trong đó,
văn học nghệ thuật có những biến đổi mạnh mẽ. Chủ đề bao trùm các tác phẩm
văn học trong những ngày đầu đất nước giành được độc lập là ca ngợi Tổ quốc
và quần chúng cách mạng, kêu gọi tinh thần đoàn kết toàn dân, cổ vũ phong trào
Nam tiến, biểu dương những tấm gương vì nước quên mình. Lịch sử thơ ca
chặng đường này đặc biệt ghi nhận sự xuất hiện và những đóng góp của những
người trực tiếp cầm súng, vừa đánh giặc vừa làm thơ. Thơ của họ giàu những chi
tiết chân thực của đời sống chiến trường, phản ánh được một phần sự ác liệt,
những hy sinh, tổn thất trong chiến tranh, đặc biệt là đã dựng nên bức chân dung
tinh thần của cả một thế hệ trẻ cầm súng.
Giai đoạn từ năm 1975 đến nay: Ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc
chiến tranh ái quốc chống đế quốc Mĩ đã kết thúc thắng lợi. Lịch sử dân tộc lại
mở ra một thời kì mới - thời kì độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Tuy từ
năm 1975 đến năm 2000, đất nước ta lại gặp những thử thách, khó khăn về
kinh tế chủ yếu do hậu quả nặng nề của chiến tranh tàn khốc kéo dài suốt ba
mươi năm nhưng văn học vẫn phát triển mạnh. Đăc biệt từ sau đổi mới 1986,
văn học Việt Nam từng bước chuyển sang giai đoạn mới. Có thể xem từ năm
1975 đến năm 1985 là chặng đường văn học chuyển tiếp, trăn trở tìm kiếm con
13
đường đổi mới. Còn từ năm 1986 trở đi là chặng đường văn học đổi mới mạnh
hình thành. Các em có thể tự mình khám phá một bài thơ hiện đại bất kì ngoài
chương trình.
Tác phẩm Làng (1948) của nhà văn Kim Lân - Tác phẩm văn xuôi hiện đại
đầu tiên trong chương trình ngữ văn lớp 9. Là tâm trạng đau xót, tủi hổ của ông
Hai ở nơi tản cư khi nghe tin đồn làng mình theo giặc và niềm hạnh phúc vô bờ
khi biết cả làng mình yêu nước. Truyện thể hiện tình yêu làng quê sâu sắc, lòng
yêu nước và tinh thần kháng chiến của người nông dân.
Khi dạy văn bản này, bên cạnh kiến thức, GV cần hướng dẫn HS phương
pháp khám phá một truyện ngắn hiện đại. Từ đó, các em sẽ áp dụng vào khai
thác, khám phá các truyện ngắn tiếp theo như Lặng lẽ Sa Pa ( Nguyễn Thành
Long), Chiếc lược Ngà (Nguyễn Quang Sáng) Những ngôi sao xa xôi (Lê Minh
Khuê)... Thậm chí các em có đủ năng lực tự mình tiếp nhận một truyện ngắn bất
kì ngoài chương trình SGK.
1.2.Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Vài nét khái quát về vị trí địa lý và tình hình kinh tế - chính trị - văn
hóa - xã hội của huyện Văn Yên – tỉnh Yên Bái
Huyện Văn Yên được thành lập ngày 01 tháng 03 năm 1965, đến nay đã trải
qua 50 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành. Trong suốt nửa thế kỉ qua, các
thế hệ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân
trong huyên luôn phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết, tin tưởng vào sự
lãnh đạo của Đảng, Cùng nhau chung sức chung lòng xây dựng cuộc sống thanh
bình, ấm no, tự do, hạnh phúc.
Văn Yên nằm cách trung tâm thành phố Yên Bái 40 km, phía Bắc giáp
huyện Văn Bàn, huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai; phía Nam giáp huyện Trấn Yên;
phía Đông giáp huyện Lục Yên và Yên Bình; phía Tây giáp huyện Văn Chấn và
huyện Mù Cang Chải.
Diện tích đất tự nhiên là 139.043,8 ha; địa hình là những dãy núi đồi liên
tiếp, cao dần từ nam lên bắc, nằm giữa hai dãy núi Con Voi và dãy Hoàng Liên
Sơn – Pú Luông với đứt gãy sông Hồng chảy từ Lào Cai về. Huyện có hệ thống