xây dựng phần mềm tra cứu thông tin du lịch hải phòng trên điện thoại di động sử dụng hệ điều hành android - Pdf 43

BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

----------------------------

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài:
XÂY DỰNG PHẦN MỀM TRA CỨU THÔNG TIN DU LỊCH HẢI
PHÒNG TRÊN ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG SỬ DỤNG HỆ ĐIỀU HÀNH
ANDROID

Giáo viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Vương Thịnh

Hải Phòng, tháng 2 năm 2014


MỤC LỤC


Lời mở đầu
Hiện hay du lịch đang là một ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam nói chung và
đặc biệt là năm du lịch quốc gia với trọng tâm là thành phố Hải Phòng. Với tiềm năng
du lịch lớn của thành phố thì việc xúc tiến quảng bá du lịch và cung cấp thông tin du
lịch là điều rất quan trọng để đẩy mạnh hơn nữa ngành kinh tế mủi nhọn này.
Với sự xuất hiện phát triển chóng mặt của công nghệ mobile - thiết bị nhúng hiện
nay mang lại cơ hội quảng bá du lịch và cung cấp thông tin du lịch một cách thuận tiện
nhất cho khách du lịch. Và hiệu quả mạng lại là rất cao.
Với sự hướng dẫn, giúp đỡ của thầy Nguyễn Vương Thịnh em đã thực hiện đề tài
‘Xây dựng phần mềm tra cứu thông tin du lịch Hải Phòng trên điện thoại di động sử
dụng hệ điều hành Android’. Phần mềm sản phẩm có tên là ‘Du lịch Hải Phòng’. Được

phố cổ hay những công trình kiến trúc cổ, người dân Hải Phòng đi ở phương xa
vẫn rưng rưng nhớ về thành phố, nhớ về những bông hoa phượng rực đỏ ven hồ
Tam Bạc trong ngày hè.
Một nét độc đáo về đô thị Hải Phòng là những dòng sông. Những con sông
chảy trong lòng thành phố hiện đại cùng với những cây cầu lớn nhỏ bắc qua là một
nét độc đáo. Hiện nay trong lòng thành phố có khoảng 20 cây cầu lớn nhỏ, lớn nhất
là cầu Bính - một trong những cây cầu dây văng lớn nhất Đông Nam Á. Thành phố
đang được quy hoạch theo 5 hướng giống như 5 cánh phượng ra biển, đồng thời
bám theo những dòng sông lịch sử như sông Cấm, Tam Bạc, Lạch Tray,... để xứng
tầm là một đô thị đặc biệt và thành phố dịch vụ cảng văn minh, hiện đại trong
tương lai rất gần.
Thành phố có hệ thống công viên, vườn hoa, hồ phong phú, đa dạng. Đẹp nhất
là khu vực trung tâm với dải xanh công viên và hồ Tam Bạc đi qua Quán hoa và
Nhà hát thành phố.
Những vét văn hóa đặc trưng:
Cũng như mọi địa phương trên cả nước, Hải Phòng cũng là nơi có các lễ hội
mang đậm bản sắc văn hoá Việt Nam. Liên hoan Du lịch "Đồ Sơn biển gọi" : diễn
ra vào ngày 30-4 đến 2-5 hàng năm với nhiều hoạt động sôi nổi, hấp dẫn nhằm
quảng bá về du lịch Hải Phòng.
Hội chọi trâu Đồ sơn: Ngày Hội chọi trâu là ngày vui nhất trong những ngày
hội làng ở Đồ Sơn. Bởi lẽ, ngày Hội vừa mang tinh thần thượng võ của dân tộc,


vừa là biểu tượng bao đời của nền nông nghiệp Việt Nam, con trâu gắn liền với xứ
sở trồng lúa nước.
Những điểm đến thú vị tại Hải Phòng:
Đảo Cát Bà : Khu Bảo tồn sinh quyển thế giới Cát Bà nằm trên đảo Cát Bà,
thuộc thị trấn Cát Bà, huyện Cát Hải, Tp. Hải Phòng. Đây là một trong những khu
bảo tồn sinh quyển thế giới. Cát Bà là một quần đảo có tới 366 đảo lớn, nhỏ. Ðảo
chính là Cát Bà rộng khoảng 100km², cách cảng Hải Phòng 30 hải lý, tiếp nối với

thuộc phường Vạn Sơn, quận Đồ Sơn. Theo truyền ngôn, một nhà sư tên Bần,
người xứ Thiên Trúc theo thuyền đi truyền bá đạo Phật đã đến cư trú tại hang và


mở chùa này. Nhiều nhà nghiên cứu trong nước cho rằng đây là nơi đầu tiên đạo
Phật du nhập vào nước ta.

2. Công nghệ thiết bị di động
2.1. Di động đi tắt đón đầu trong thế giới công nghệ
Công nghệ di động trong những năm gần đây đã có những bước nhảy vọt nhanh
chóng cả về sức mạnh phần cứng lẫn tốc độ phổ biến của nó trong dân cư. Những
chiếc điện thoại thậm chí còn phát triển nhanh hơn cả thời kỳ hoàng kim của các
công nghệ trong quá khứ như ti vi, máy vi tính ... Bên cạnh đó, trong vòng 2 năm
trở lại đây thì thị trường máy tính bảng cũng trở nên vô cùng sôi động.
Những thành tựu mà công nghệ di động đã tạo ra là không thể phủ nhận. Khi
chiếc iPhone đầu tiên ra đời, kỷ nguyên của điện thoại thông minh bắt đầu phát
triển mạnh mẽ và từng bước chiếm lĩnh thị trường từ 5% cho đến 40% thị phần.
Đặc biệt, ở một số thị trường, sự phát triển điện thoại thông minh còn diễn ra
nhanh hơn rất nhiều, đơn cử như ở Mỹ đã có hơn 2/3 số điện thoại được bán ra hiện
nay là các điện thoại thông minh. Nhiều khả năng thì điện thoại thông minh sẽ
chiếm lĩnh tới 75% thị trường Mỹ trong vài năm tới, trở thành công nghệ có tốc độ
phổ biến nhanh nhất trong lịch sử loài người. Trong quý I năm 2012, điện thoại
thông minh chiếm đến 36% tổng số điện thoại di động được bán ra, tăng 25% so
với cùng kì năm trước, một tỷ lệ rất cao.
Nền móng cho sự phát triển của điện thoại di động chính là hệ thống mạng
không dây. Theo ITU (Liên Minh Viễn Thông Quốc tế), có 90% dân số thế giới
(hiện nay đã đạt gần 7 tỷ người) được bao phủ bởi mạng di động GSM, phần lớn
trong số đó là truy cập thông qua mạng lưới EDGE và GPRS. Hơn thế nữa, có 45%
dân số thế giới đã được biết hoặc đã từng sử dụng mạng di động 3G. Ngày nay việc
triển khai Internet tốc độ cao đã trở nên phổ biến ở mọi quốc gia ngay cả những

năng chạy hệ điều hành quản lý đa nhiệm, kết nối dữ liệu tốc độ cao có thể đảm
nhận hầu hết nhiệm năng của một máy tính cá nhân bình thường (PC) mà thậm chí
còn nhiều điểm tiện lợi hơn.
Đại diện tiêu biển nhất cho thời đại “hậu PC” đó là những chiếc điện thoại
thông minh và máy tính bảng. Hai thiết bị đã tạo nên một làng sóng công nghệ
mạnh mẽ. Các xu hướng công nghệ của thế giới đều tập trung nhiều vào những
thiết bị này. Cùng với nó là sự phát triển chóng mặt của phần cứng và nhất là các
phần mềm, các ứng dụng di động và hệ điều hành di động.
Trong năm 2011, 10 xu hướng công nghệ chiến lược được các chuyên gia đánh
giá có bao gồm điện toán đám mây, ứng dụng di động (điện thoại thông minh… ).
Mỗi ngày có hàng triệu thiết bị đi động được bán ra dẫn đến nhu cầu về ứng dụng
di động ngày càng tăng. Đây là một cơ hội lớn cho các nhà lập trình các thiết bị di
động . Với các của hàng ứng dụng như AppStore, Google Play, lập trình viên hay
nhóm lập trình các nhân có thể đưa các sản phẩm đưa lên để bán cho người dùng.
Đây là một lợi thế lớn cho các lập trình viên lập trình trên thiết bị di động. Nhờ đó
không cần phải trực thuộc một công ty lập trình đủ lớn mà sản phần của người lập
trình có thể được trả tiền nếu sử dụng tốt và đáp ứng nhu cầu của người sử dụng.
Nhà viết ứng dụng cá nhân cũng có thể tiết kiệm được một khoảng tiền lớn chi phí
quản cáo và kênh phân phối đến cho khách hàng của mình.
Cụ thể hơn ở Việt Nam, lập trình di động đang là một cơ hội rất tốt cho các lập
trình viên bán ra các sản phẩm của mình. Có thể dễ dàng đưa sản phẩm của mình ra
thế giới tiêu thụ và thu được tiền từ những ứng dụng tốt và độc đáo. Đối với thị
trường ứng dụng trong nước, từ năm 2010 đến nay, cùng với xu thế phát triển thiết
bị di động của thế giới, Việt Nam cũng có một sự phát triển vượt bật trong mảng
này.Với các chợ ứng dụng của chính hãng như AppStore, Google Play nhiều người


sử dụng vẫn còn vấp phải rào cảng thanh toán. Vì vậy đây là cơ hội để các lập trình
viên phát triển ứng dụng tiêu thụ trong nước với các chợ ứng dụng của hãng thứ 3.
Điện thoại thông minh và máy tính bảng đã góp phần thúc đẩy kỷ nguyên “hậu

bản đồ có thể xác định đươc vị trí hiện tại và từ đó gợi ý tuyến đường ngắn nhất
đến mục tiêu. Và đặt biệt thiết bị di động luôn sẵn sàng hoạt động 24/24, kích
thước nhỏ gọn luôn mang theo, cùng với mạng internet 3G hay WIFI thì việc tìm
một địa điểm du lịch và đi đến đó không còn gì thuận tiện hơn.
Với một số lượng địa điểm vui chơi, nhà hàng, quán bar, khách sạn, mua sắm ..
ở Hải Phòng nhiều như hiện nay rất cần thiết phải có một cách tìm kiếm thông tin
du lịch thuận tiện nhất, đơn giản nhất, hiệu quả nhất. Để du khách đến Hải Phòng


có thể biết đến Hải Phòng một cách trọn vẹn không chỉ ở phong cảnh thiên nhiên,
khí hậu.


CHƯƠNG II: HỆ ĐIỀU HÀNH ANDROID VÀ CÔNG
NGHỆ LIÊN QUAN
1. Hệ điều hành Android
1.1. Giới thiệu hệ điều hành Android
Android là một hệ điều hành di động dựa trên một phiên bản sửa đổi của Linux.
Được phát triển vào năm 2005 với một dự án cùng tên “Android”. Như một phần
chiến lược của mình để lấn sâu vào lĩnh vực di động Google Android đã mua về
toàn bộ quá trình phát triển cũng như đội phát triển nó.Đây là con át chủ bài của
Google để cạnh tranh thị phần hệ điều hành di động với Apple.
Google Android muốn mở và miễn phí, vì vậy hầu hết các mã android được
được đưa ra dưới dạng mã nguồn mở Apache License, điều này tương đương với
việc bất cứ ai muốn sử dụng Android có thể làm như vậy bằng cách tải về mã
nguồn android đầy đủ. Hơn nữa các nhà cung cấp (thường là những nhà phát triển
phần cứng) có thể thêm phần mở rộng và tùy biến cho android để phân biệt sản
phẩm của họ với sản phẩm của những người khác. Điều này đơn giản làm cho mô
hình phát triển android rất hấp dẫn và do đó khơi dậy sự quan tâm của nhiều nhà
cung cấp. Những nhà sản xuất coi android như một giải pháp – họ sẽ tiếp tục thiết




Môi trường phát triển phong phú: bao gồm thiết bị mô phỏng, công cụ
cho việc dò tìm lỗi, bộ nhớ và định hình hiệu năng và một plugin cho
Eclipse IDE.

1.3. Các tính năng hỗ trợ sẵn trong hệ điều hành Android
Các tính năng được hổ trỡ tùy thuộc vào cấu hình phần cứng và phần mềm.












Storage: Sử dụng SQLite, một cơ sở dữ liệu quan hệ nhẹ cho việc lưu trữ
dữ liệu
Connectivity: Hỗ trợ GSM/EDGE, IDEN, CDMA, EV-DO, UMTS,
Bluetooth (bao gồm AD2P và AVRCP), Wifi, LTE và WiMAX
Messaging: hỗ trợ cả SMS và MMS
Web browser: Dựa trên mã nguồn mở Webkit, cùng với công nghệ
JavaScript V8 của Chrome
Media support: Bao gồm hỗ trợ các phương tiện truyền thông sau: H.263,
H.264 (Trong 3GP hoặc MP4 container ), MPEG-4 SP, AMR, AMR-WB

• Surface Manager – Quản lý truy cập đến các hệ thống con hiển thị cũng
như các lớp đồ họa 2D, 3D từ tầng ứng dụng.









LibWebCore – Thư viện được dùng để tạo nên thành phần webview trong
Android và có thể nhúng được vào nhiều ứng dụng.
SGL – Thư viện hỗ trợ đồ hoạ 2D.
3D libraries – Thư viện đồ họa 3D.
FreeType - bitmap and vector font rendering.
SQLite – Một cơ sở dữ liệu nhỏ được dùng cho các thiết bị cầm tay có bộ
nhớ hạn chế. SQLite không có quan hệ như các cơ sở dữ liệu khác.

1.4.3. Android runtime
Tại cùng một tầng với Libraries, android runtime cung cấp một bộ lõi thư viện
cho phép các nhà phát triển viết các ứng dụng android bằng cách sử dụng ngôn ngữ
lập trình java. Android runtime cũng bao gồm các máy ảo Dalvik, cho phép mọi
ứng dụng android chạy trong tiến trình riêng của mình. Dalvik là một máy ảo
chuyên dụng được thiết kế đặc biệt cho android và tối ưu hóa cho các thiết bị điện
thoại di động với giới hạn bộ nhớ và CPU.

1.4.4. Application framework
Bằng cách cung cấp một nền tảng phát triển mở, Android cung cấp cho các nhà
phát triển khả năng xây dựng các ứng dụng cực kỳ phong phú và sáng tạo. Nhà

Một ứng dụng có thể gồm chỉ một activity hay nhiều activity. Activity chính
phải được hiển thị đầu tiên khi khởi động chương trình. Chuyển từ một activity
sang activity khác bằng cách cho activity hiện thời khởi động activity kế tiếp.
Mỗi activity được vẽ vào một cửa sổ trên màn hình, mặc định sẽ lấp đầy màn
hình, nhưng nó có thể nhỏ hơn màn hình và nằm trên các cửa sổ khác ví dụ như
activity thông báo một thông tin gì đó.
Nội dung trực quan của cửa sổ được cung cấp bởi một cây phân cấp các đối
tượng view dẫn xuất từ lớp View. Mỗi view điều khiển một khoảng hình chữ nhật
cụ thể bên trong cửa sổ. View cha chứa và tổ chức bố cục các view con. Các view
lá vẽ trong hình chữ nhật mà chúng điều khiển và đáp ứng lại các hành động người
dùng trực tiếp ở khoảng trống này. Do đó, các view là nơi mà các tương tác của
activity với người dùng diễn ra.
Một cây phân cấp view được đặt trong một cửa sổ của activity bằng phương
thức Activity.setContentView(). Content view là đối tượng View ở gốc của cây
phân cấp.
Class cơ sở Activity định nghĩa một loạt các sự kiện mà điều chỉnh vòng đời
của một hoạt động. Class Activity định nghĩa các sự kiện sau đây :




onCreate(): Được gọi khi hoạt động được tạo ra lần đầu tiên
onStart(): Được gọi khi hoạt động trở nên hữu hình so với người dùng
onResume(): Được gọi khi hoạt động bắt đầu tương tác với người sử

dụng
onPause(): Được gọi để dừng các hoạt động hiện tại và nối lại các hoạt
động trước đó

onStop(): Được gọi khi hoạt động không còn hiển thị với người dùng

Một content provider tạo ra một tập cụ thể các dữ liệu của ứng dụng khả dụng
cho các ứng dụng khác. Dữ liệu có thể được lưu trữ trong hệ thống file, trong một
cơ sở dữ liệu SQLite, hay trong một cách khác nào đó. Content provider mở rộng
lớp cơ sở ContentProvider để cài đặt một tập các chuẩn các phương thức cho phép
các ứng dụng khác đạt được và lưu trữ dữ liệu của kiểu mà nó điều khiển. Tuy
nhiên, các ứng dụng không gọi trực tiếp các phương thức này, chúng sử dụng một
đối tượng ContentResolver và gọi các phương thức của nó. Một ContentResolver
có thể nói chuyện với bất cứ content provider nào, chúng cộng tác với provider để
quản lý giao tiếp liên tiến trình.

1.5.4. Broadcast Receive
Một Broadcast Rreceiver là một thành phần không làm gì ngoài việc nhận và
đáp lại các thông báo broadcast. Nhiều broadcast khởi đầu trong mã hệ thống - ví
dụ như thông báo múi giờ thay đổi, pin yếu, ảnh đã được chụp, hay người dùng đã
thay đổi ngôn ngữ … Các ứng dụng có thể tạo ra các broadcast, chẳng hạn để ứng


dụng khác biết được một số dữ liệu đã được tải về thiết bị và sẵn sàng cho việc sử
dụng chúng.
Một ứng dụng có thể có một số Broadcast Receiver để đáp lại bất cứ thông báo
nào mà nó cho là quan trọng. Tất cả các receiver mở rộng từ lớp cơ sở
BroadcastReceiver.
Broadcast Receiver không hiển thị một giao diện người dùng. Tuy nhiên chúng
có thể bắt đầu một activity để đáp lại thông tin mà chúng nhận, hay chúng có thể sử
dụng NotificationManager để cảnh báo người dùng. Notifications có thể lấy sự chú
ý của người dùng bằng nhiều cách, lóe sáng đèn sau, rung, tạo ra âm thanh, vân
vân. Chúng thường lấy một biểu tượng bền vững trong thanh trạng thái, cái mà
người dùng có thể mở để lấy thông điệp.

1.5.5. View

phiên bản SDK cũng như màn hình chính sẽ chạy đầu tiên.
File này được tự động sinh ra khi tạo một dự án Android. Trong file manifest
bao giờ cũng có 3 thành phần chính đó là: application, permission và version.
Application: chứa các giá trị định nghĩa cho một ứng dụng Android như
icon,tên ứng dụng, chế độ hiển thị giao diện…Ngoài ra cần phải khai báo
các Activity và Service có trong chương trình tại đây.
• Permission: bao gồm các thuộc tính chỉ định quyền truy xuất và sử dụng tài
nguyên của ứng dụng. Khi cần sử dụng một loại tài nguyên nào đó thì trong
file manifest của ứng dụng cần phải khai báo các quyền truy xuất tương ứng.
• SDK version: Xác định phiên bản SDK nhỏ nhất mà ứng dụng hiện đang sử
dụng tương ứng với một phiên bản hệ điều hành Android mà ứng dụng có
thể tương thích.


1.6.2. File R.java
File R.java là một file tự động sinh ra ngay khi tạo ứng dụng, file này được sử
dụng để quản lý các thuộc tính được khai báo trong file XML của ứng dụng và các
tài nguyên hình ảnh.Mã nguồn của file R.java được tự động sinh khi có bất kì một
sự kiện nào xảy xa làm thay đổi các thuộc tính trong ứng dụng.
Có thể nói file R.java hoàn toàn không cần phải đụng chạm gì đến trong cả quá
trình xây dựng ứng dụng.

1.6.3. Thư mục src
Là vị trí chứa gói các class trong ứng dụng. Các class có thể là các một Activity
hoặc Service hoặc các lớp chức năng nào đó được viết bằng ngôn ngữ Java dựa
trên API được cung cấp sẵn của Android. Cần phải có ít nhất một Activity và khai
báo là Activity chính để chương trình có thể chạy được.


1.6.4. Thư mục rec

dữ liệu trong XML (DTD) dùng để khai báo cấu trúc của các thẻ dùng trong XML.
Root element hay còn gọi là Document Element: chứa tất cả các phần tử và nội
dung của nó. 1 phần tử của XML phải có thẻ mở và thẻ đóng.
Dưới đây là sơ đồ cấu trúc của tài liệu XML


Hình 2.6
Cấu trúc tài liệu xml:
Gồm có hai phần đó là cấu trúc logic và cấu trúc vật lý .



Cấu trúc logic: Định nghĩa các phần tử, các thuộc tính, kiểu dữ liệu
Cấu trúc vật lý:chứa dữ liệu và các phần tử chứa dữ liệu như text, hình ảnh,
media …

2.1.3. Đặc điểm của XML
XML cung cấp một phương tiện dùng văn bản (text) để mô tả thông tin và áp
dụng một cấu trúc kiểu cây cho thông tin đó.
Đơn vị cơ sở của XML là các ký tự theo định nghĩa của Universal Character Set
(Bộ ký tự toàn cầu).
Các tệp XML có thể dùng cho nhiều loại dữ liệu đa phương tiện. RFC3023 định
nghĩa các loại "application/xml" và "text/xml", với ý rằng dữ liệu được biểu diễn
bằng XML mà không nói gì đến ngữ nghĩa của dữ liệu.
XML được dùng kết hợp với HTML, rất hữu ích cho việc trao đổi dữ liệu và tạo
ra tùy biến cho các tags.

2.1.4. Ngôn ngữ đặt tả cấu trúc
DTD (Document Type Definition)
Một DTD xác định ngữ pháp của một tài liệu XML, DTD định nghĩa cấu trúc

2.2. Webservice
2.2.1. Webservice là gì ?
Webservice(dịch vụ web) là sự kết hợp các máy tính cá nhân với các thiết bị
khác, các cơ sở dữ liệu và các mạng máy tính để tạo thành một cơ cấu tính toán ảo
mà người sử dụng có thể làm việc thông qua các trình duyệt mạng hoặc ứng dụng
có kết nối mạng.

Hình 2.7
Một web service có thể được mô tả như là một chức năng có thể duy trì trên
web, và có thể được gọi bởi bất kỳ ứng dụng nào hay dịch vụ nào. Nó có thể là một
business application hay một system function.
Bản thân các dịch vụ này sẽ chạy trên các máy chủ trên nền Internet chứ không
phải là các máy tính cá nhân, do vậy có thể chuyển các chức nǎng từ máy tính cá
nhân lên Internet. Người sử dụng có thể làm việc với các dịch vụ thông qua bất kỳ
loại máy hay phần mềm nào có hỗ trợ web service và có truy cập internet, kể cả các


thiết bị cầm tay. Do đó các web service sẽ làm internet biến đổi thành một nơi làm
việc chứ không phải là một phương tiện để xem và tải nội dung.
Điều này cũng sẽ đưa các dữ liệu và các ứng dụng từ máy tính cá nhân tới các
máy phục vụ của một nhà cung cấp dịch vụ web. Các máy phục vụ này cũng cần
trở thành nguồn cung cấp cho người sử dụng cả về độ an toàn, độ riêng tư và khả
nǎng truy nhập.
Các máy phục vụ ứng dụng sẽ là một phần quan trọng của các web service bởi
vì thường thì các máy chủ này thực hiện các hoạt động ứng dụng phức tạp dựa trên
sự chuyển giao giữa người sử dụng và các chương trình kinh doanh hay các cơ sở
dữ liệu của một tổ chức nào đó.

2.2.2. Một số đặt điểm cơ bản của webservice
Một webservice có thể được truy cập thông qua web.

Lấy ví dụ đơn giản dễ nhận thấy nhất về webservice là hệ thống .NET passport
của Hotmail. Vấn đề đăng nhập trở nên đơn giản giữa các website nếu giải quyết
bằng webservice. Website tương tác với các site khác thông qua WebService, điều
này cho phép thông tin người dùng được chia xẻ giữa chúng. Một user khi điền
thông tin đăng nhập chỉ một lần duy nhất, và có thể dùng nó cho dịch vụ email, và
dùng cùng login user cùng mật khẩu trong một “accounting package service site”.

3. Google Map và Google Maps API Web Services
3.1. Google Map
3.1.1. Giới thiệu Google Map
Google Maps (thời gian trước còn gọi là Google Local) là một dịch vụ ứng
dụng và công nghệ bản đồ trực tuyến trên web miễn phí được cung cấp bởi Google
và hỗ trợ nhiều dịch vụ dựa vào bản đồ như Google Ride Finder và một số có thể
dùng để nhúng vào các trang web của bên thứ ba thông qua Google Maps API. Nó
cho phép thấy bản đồ đường sá, đường đi cho xe đạp, cho người đi bộ và x e hơi,
và những địa điểm kinh doanh trong khu vực cũng như khắp nơi trên thế giới.
Google Map là một trong những ứng dụng phổ biến nhất của Google hiện nay.
Khi mà việc sử dụng bản đồ giấy đã trở lên lỗi thời thì dịch vụ tìm kiếm bản đồ số,
bản đồ vệ tinh, hệ thống GPS là hết sức cần thiết. Giờ đây chúng ta có thể dễ dàng
truy cập vào Google Map dù ở bất cứ nơi đâu để tra cứu địa chỉ hoặc sử dụng hệ
thống GPS cũng rất phổ biến. Đặt biệt khả năng tích hợp dịch vụ bản đồ Google
Map là rất cần thiết và quan trọng.

3.1.2. Google Maps for Mobile
Năm 2006, Google đã giới thiệu một ứng dụng Java có tên là Google Maps for
Mobile.
Ngày 28 tháng 11, 2007, Google Maps for Mobile 2.0 được phát hành.
Thứ tự ưu tiên tính toán vị trí như sau:
Thiết bị bắt vị trí GPS
Trạm WiFi

Tiếp tục phát triển và hoàn thiện.

3.2. Google Maps API Web Services
3.2.1. Giới thiệu Google Maps API Web Services
Google Maps API Web Services là một tập các giao diện HTTP cung cấp thông
tin địa lý cho ứng dụng.
Google Maps API Web Services bao gồm:







Directions API
Distance Matrix API
Elevation API
Geocoding API
Places API
Time Zone API

3.2.2. Sử dụng Google Maps API Web Services
Google Maps API cung cấp các dịch vụ như là các giao diện phục vụ cho việc
yêu cầu dữ liệu địa lý và sử dụng dữ liệu đó trong ứng dụng của nhà phát triền. Các
dịch vụ này được thiết kế để sử dụng với một ứng dụng bản đồ.
Các dịch vụ này sử dụng HTTP request, thiết lập các chuỗi URL request để gởi
yêu cầu cho web service. Thông thường, web service sẽ trả về kết quả là tập tin
JSON hoặc XML. Phân tích cú pháp kết quả trả về để sử dụng.
URL request có dạng:
/>•

Nhóm
Alphanumeric

Ký tự
ab cd ef gh ij k lm no pq rs tu vw xy zABCDEF G
H
Unreserved
IJKLMNOPQRSTUVWXYZ0123456789
Reserved
-_.~
Việc chuỗi URL chỉ chứa các ký tự ASCII đã được qui định dẫn đến 2 tình
huống:
Ký tự muốn đưa vào URL không nằm trong tập ký tự được cho phép (ví dụ
tiếng Việt có dấu)cần được mã hóa bằng các ký tự trên. Ký tự khoảng cách thường
được thay thế bằng ký tự “+”.
Ký tự muốn sử dụng theo cách thông thường nằm trong nhóm ký tự dành riêng
(Ví dụ ký tự “?”). Nếu muốn sử dụng ký tự dành riêng phải mã hóa.
Ký tự được mã hóa bằng cách sử dụng ký tự “%” theo sau là hai ký tự chứa giá
trị hex đại diện cho ký tự hệ UTF-8.
Giới hạn của chuối URL là 2048 ký tự. Hầu hết các URL request ít khi đạt đến
ngưỡng này, tuy nhiên vẫn phải cẩn thận để tránh trường hợp webservice không trả
lời vì chuỗi URL quá dài.
Processing Responses



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status