Nghiên cứu mô hình sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi gia cầm để giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại tỉnh hà nam - Pdf 43

cac

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Trần Hồng Nhung

NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH SỬ DỤNG ĐỆM LÓT SINH HỌC TRONG
CHĂN NUÔI GIA CẦM ĐỂ GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG
TẠI TỈNH HÀ NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hà Nội – Năm 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Trần Hồng Nhung

NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH SỬ DỤNG ĐỆM LÓT SINH HỌC TRONG
CHĂN NUÔI GIA CẦM ĐỂ GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG
TẠI TỈNH HÀ NAM

Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60440301

LUẬN VĂN THẠC SĨ

nuôi gia cầm để giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại tỉnh Hà Nam.


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp ngành Khoa học môi trường
với đề tài” Nghiên cứu mô hình sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi gia
cầm tại tỉnh Hà Nam” đã được hoàn thành với sự nỗ lực của bản thân cùng với
sự giúp đỡ nhiệt tình, tâm huyết của các thầy cô và bạn bè.
Luận văn này trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong
khoa môi trường và các thầy cô giáo trong bộ môn sinh thái môi trường- Trường
đại học khoa học Tự nhiên- Đại học quốc gia Hà Nội.Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc đến PGS-TS Nguyễn Kiều Băng Tâm đã nhiệt tình trực tiếp
hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Vì thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên trong luận văn này không thể
tránh khỏi những thiếu sót nhất định.Kính mong thầy cô giáo và các bạn góp ý.
Tôi xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, tháng 12 năm 2016
Sinh viên

Trần Hồng Nhung


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ………………………………………………………………………..……..1
CHƢƠNG I - TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................... ..4
1.1. Hiện trạng chăn nuôi gà ở thế giới và Việt Nam ................................................. 4
1.1.1. Hiện trạng chăn nuôi gà trên thế giới ................................................................. 4
1.1.2. Tình hình chăn nuôi gia cầm tại tỉnh Hà Nam .................................................. 6
1.2. Chất thải trong chăn nuôi và vấn đề ô nhiễm môi trường .................................... 6

3.1.1.Tình hình chăn nuôi gà trên địa bàn huyện Lý Nhân năm 2015 ..................... 32
3.1.2.Tình hình chăn nuôi gà trên địa bàn huyện Bình Lục năm 2015 .................... 33
3.2. Đánh giá một số chỉ tiêu vi sinh và chất lƣợng không khí khu chăn nuôi gia cầm 35
3.2.1. Đánh giá khả năng cải thiện môi trường chăn nuôi gà thịt của đệm lót sinh
học (mô hình 1-MH1) .................................................................................................. 37
3.2.1.2. Đánh giá một số chỉ tiêu về không khí .......................................................... 39
3.2.2. Đánh giá khả năng cải thiện môi trường chăn nuôi gà đẻ của đệm lót sinh
học (mô hình 2-MH2) .................................................................................................. 43
3.2.2.1. Đánh giá một số chỉ tiêu về vi sinh vật ........................................................... 43
3.2.2.2. Đánh giá một số chỉ tiêu về không khí ........................................................... 44
3.2.3. Đánh giá khả năng cải thiện môi trường chăn nuôi gà con hậu bị của đệm lót
sinh học (mô hình 3-MH3) .......................................................................................... 48
3.2.3.1. Đánh giá một số chỉ tiêu vi sinh vật ............................................................... 48
3.2.3.2. Đánh giá một số chỉ tiêu về không khí ........................................................... 49
3.3. Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng chế phẩm vi sinh trong xử lý môi trường. ........... 53
3.3.1. Hiệu quả về xã hội và môi trường ..................................................................... 53
3.3.2. Sự phù hợp của công nghệ ................................................................................ 53
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................................... 55
Kết luận: ....................................................................................................................... 55
Kiến nghị: ..................................................................................................................... 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................... 56


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng1.1: Tình hình chăn nuôi gia cầm trên địa bàn tỉnh Hà Nam

……………………6

Bảng1.2: Các khí gây mùi được tạo ra do quá trình phân giải phân và nước tiểu ........... 12
Bảng 3.1: Tình hình chăn nuôi gà trên địa bàn huyện Lý Nhân năm 2015 .................. 33

nhiễm môi trường là từ chăn nuôi. Ngành chăn nuôi ở nước ta những năm gần đây
đã và đang phát triển nhanh chóng về cả chất lượng và quy mô.
Tuy nhiên, việc quản lý và sử dụng các nguồn chất thải trong chăn nuôi còn
nhiều bất cập. Do chỉ tập trung đầu tư nâng cao năng suất và chất lượng vật nuôi,
phần lớn các trang trại chưa chú trọng đến công tác kiểm soát, quản lý chất thải nên
làm phát sinh dịch bệnh, tác động xấu đến sức khỏe cộng đồng và ảnh hưởng trực
tiếp đến việc phát triển bền vững của ngành chăn nuôi. Một số trang trại lớn đã có
những biện pháp xử lý nguồn chất thải chăn nuôi, bên cạnh đó một số trang trại
chưa quan tâm đến việc xử lý nguồn chất thải và đặc biệt trong chăn nuôi nhỏ lẻ hộ
gia đình trên thực tế thực trạng chăn nuôi theo phương pháp truyền thống đã bộc lộ
nhiều hạn chế. Do thiết kế chuồng hở và việc vệ sinh không đảm bảo, nên mùi hôi
của thức ăn và phân gà toả ra môi trường bên ngoài gây tình trạng hôi thối, mất vệ
sinh. Nghiêm trọng nhất là nạn ruồi, nhặng phát sinh từ trang trại gà ảnh hưởng đến
sức khoẻ của con người. Việc thải phân và nước rửa chuồng trực tiếp ra môi trường
gây ra mùi hôi thối cũng gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. việc xử lý chất
thải hầu như còn bị thả nổi. Một trong những nguyên nhân là do người chăn nuôi
chưa hiểu rõ tầm quan trọng của việc xử lý nguồn chất thải; kinh phí phục vụ cho
việc xử lý chất thải còn thấp; luật xử lý chất thải còn chưa đồng bộ và khó áp dụng;
chăn nuôi nhỏ lẻ là một trong những nguyên nhân làm việc quản lý và xử lý chất
thải còn gặp nhiều khó khăn. Đây là một trong các nguyên nhân gây ô nhiễm và lây
truyền các dịch bệnh cho người, vật nuôi và cây trồng[4,5]
Trong qui trình nuôi gà tập trung ở các trang trại, phải sử dụng vỏ trấu hoặc
mùn cưa để lót nền chuồng để giữ cho nền chuồng được khô và hạn chế sự ô nhiễm
môi trường.Huyện Lý Nhân và Bình Lục, tỉnh Hà Nam đang phát triển mạnh các
trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm lớn cung cấp cho thị trường trong tỉnh và phần

1


lớn cho thị trường Hà Nội. Đối với các cơ sở chăn nuôi, các chất thải gây ô nhiễm



môi trường do chăn nuôi gia cầm gây ra mà không ảnh hưởng đến vật nuôi. Phương
pháp phải đơn giản, dễ áp dụng và chi phí rẻ hơn so với các phương pháp mà các hộ
chăn nuôi đang áp dụng. Để giải quyết các yêu cầu bức thiết trên tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “ Nghiên cứu mô hình sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi gia
cầm để giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại tỉnh Hà Nam”

3


CHƢƠNG I - TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Hiện trạng chăn nuôi gà ở thế giới và Việt Nam
1.1.1.Hiện trạng chăn nuôi gà trên thế giới
Lương thực, thực phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề sống còn của
nhân loại. Ngày nay, nông nghiệp có vai trò quan trọng cung cấp lương thực và các
loại thực phẩm nuôi sống cả nhân loại trên trái đất. Ngành chăn nuôi không chỉ có
vai trò cung cấp thịt, trứng, sữa là các thực phẩm cơ bản cho dân số của cả hành tinh
mà còn góp phần đa dạng nguồn gen và đa dạng sinh học trên trái đất.
Theo số liệu thống kê của Tổ chức Nông lương thế giới – FAO, năm 2009 số
lượng đầu gia súc và gia cầm chính của thế giới như sau: tổng đàn trâu 182,2 triệu
con và phân bố chủ yếu ở các nước Châu Á, tổng đàn bò 1.164,8 triệu con, dê 591,7
triệu con, cừu 847,7 triệu con, lợn 887,5 triệu con, gà 14.191,1 triệu con và tổng đàn
vịt là 1.008,3 triệu con... [19].
Tốc độ tăng về số lượng vật nuôi của thế giới trong thời gian vừa qua thường
chỉ đạt trên dưới 1% năm. Về chăn nuôi gà: số một là Trung Quốc với 4702,2 triệu
con, thứ hai là Indonesia với 1341,7 triệu con, thứ ba là Braxin với 1205,0 triệu con,
thứ tư là Ấn Độ với 613 triệu con và thứ năm Iran với 513 triệu con [19].
Về số lượng vật nuôi của thế giới: các nước Trung quốc, Hoa kỳ, Ấn Độ,
Braxin, Indonesia, Đức là những cường quốc, trong khi đó Việt Nam cũng là nước

phẩm này khá lớn và là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển. Thời gian gần đây, việc đưa
các giống gà mới như Tam Hoàng, Rốt Ri về hộ nông dân phát triển thả vườn đem lại
hiệu quả tốt, góp phần tăng thu nhập cho người chăn nuôi [4,5].
Sản xuất chăn nuôi ở Việt Nam có 3 cách thức chăn nuôi chính: chăn nuôi
nông hộ nhỏ lẻ, chăn nuôi bán công nghiệp và chăn nuôi công nghiệp.
Việt Nam với khoảng 73% dân số sống ở vùng nông thôn, do vậy phát triển kinh tế
nông nghiệp và nông thôn là một trong những mục tiêu được Đảng và Nhà nước hết sức
chú trọng, trong đó có phát triển kinh tế hộ gia đình thông qua các hoạt động phát triển
chăn nuôi. Theo báo cáo của 60/64 tỉnh thành tính đến 01/10/2006 có tổng số 16.012
trang trại, trong đó miền Bắc có 6.101 trang trại, miền Nam có 9.911
Trang trại. Chăn nuôi gia cầm chiếm 15,4% trang trại chăn nuôi[4]. Chăn nuôi gà
Trong giai đoạn 2001 – 2005 đạt 2,74% về số lượng con, trong đó giai đoạn trước
dịch cúm tăng 9,02% và giảm trong dịch cúm gia cầm 6,67%. Sản lượng đầu con tăng từ

5


158,03 triệu con năm 2001 và đạt cao nhất vào năm 2003: 185,22 triệu con. Do dịch cúm
gia cầm, năm 2004, đàn gà giảm còn 159,23 triệu con bằng 86,2% năm 2003; năm 2005,
đàn gà đạt 159,89 triệu con, tăng 0,9% so với năm 2004[5].
Theo thống kê năm 2010 của Cục Chăn nuôi, cả nước có khoảng 8,5 triệu hộ
chăn nuôi quy mô gia đình và 18.000 trang trại chăn nuôi tập trungvới tổng đàn 300
triệu con gia cầm và hơn 37 triệu con gia súc.
1.1.2. Tình hình chăn nuôi gia cầm tại tỉnh Hà Nam
Theo thống kê thì tổng các đàn gia cầm chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Hà Nam
qua các năm 2012, 2013, đầu năm 2014 ta thấy số lượng chăn nuôi gia cầm là lớn
và đi cùng là chất thải, mùi hôi trong chăn nuôi gia cầm là rất lớn.

Bảng 1. 1: Tình hình chăn nuôi gia cầm trên địa bàn tỉnh Hà Nam
Năm

(con)
Gia cầm khác

(tính đến
1/4)

Đàn gà (con)

Đàn Ngỗng

(con)

2014

2.710.700

1.976.500

39.000

Nguồn: Báo cáo tình hình chăn nuôi của tỉnh Hà Nam giai đoạn 2005-2015;
nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm giai đoạn tới- Sở Nông nghiệp và PTNT Hà Nam
1.2. Chất thải trong chăn nuôi và vấn đề ô nhiễm môi trƣờng
1.2.1.Thành phần chất thải chăn nuôi gia cầm
Chất thải chăn nuôi là chất thải ra trong quá trình chăn nuôi, gồm ba dạng
chủ yếu: chất thải rắn (bao gồm chủ yếu là phân, chất độn chuồng, thức ăn thừa và
đôi khi là xác gia súc, gia cầm chết hàng ngày), chất thải lỏng (bao gồm nước rửa

6



7


Thành phần chính của nước tiểu là nước, chiếm 99% khối lượng. Ngoài ra một
lượng lớn nitơ (chủ yếu dưới dạng urê) và một số chất khoáng, các hormone, creatin, sắc
tố, axít mật và nhiều sản phẩm phụ của quá trình trao đổi chất của con vật, ...
Trong tất cả các chất có trong nước tiểu, urê là chất chiếm tỷ lệ cao và dễ dàng
bị vi sinh vật phân hủy trong điều kiện có oxy tạo thành khí amoniac gây mùi khó
chịu. Amoniac là một khí rất độc và thường được tạo ra rất nhiều từ ngay trong hệ
thống chuồng trại, nơi lưu trữ, chế biến và trong giai đoạn sử dụng chất thải[5].
Thức ăn thừa, đệm lót chuồng và các chất thải khác: trong các chuồng trại chăn
nuôi, người chăn nuôi thường dùng rơm, rạ hay các chất độn khác,... để lót chuồng. Sau
một thời gian sử dụng, những vật liệu này sẽ được thải bỏ. Loại chất thải này tuy chiếm
khối lượng không lớn, nhưng chúng cũng là một nguồn gây ô nhiễm quan trọng, do
phân, nước tiểu và các mầm bệnh có thể bám theo chúng.Ngoài ra, thức ăn thừa, thức ăn
bị rơi vãi cũng là nguồn gây ô nhiễm; vì thức ăn chứa nhiều chất dinh dưỡng dễ bị phân
hủy trong môi trường tự nhiên. Khi chúng bị phân hủy sẽ tạo ra các chất kể cả chất gây
mùi hôi, gây ô nhiễm môi trường xung quanh, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển
của gia súc và sức khỏe con người[5].
Khí thải: chăn nuôi là một ngành sản xuất tạo ra nhiều loại khí thải nhất. Theo
Hobbs và cộng sự (1995), có tới trên 170 chất khí có thể sinh ra từ chăn nuôi, điển
hình là các khí CO2, CH4, NH3, NO2, N2O, NO, H2S, indol, schatol mecaptan,…và
hàng loạt các khí gây mùi khác. Hầu hết các khí thải chăn nuôi có thể gây độc cho
gia súc, cho con người và môi trường.
Ở những khu vực chăn nuôi có chuồng trại thông thoáng kém thường dễ tạo ra
các khí độc, ảnh hưởng trực tiếp, gây các bệnh nghề nghiệp cho công nhân chăn
nuôi và ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân xung quanh khu vực. Trừ khi chất
thải chăn nuôi được thu gom sớm, lưu trữ và xử lý hợp quy cách, ở điều kiện bình
thường, các chất bài tiết từ gia súc, gia cầm (như phân và nước tiểu) nhanh chóng bị


Thức ăn,
Nước uống

Vật nuôi

Nước tắm
gia súc, rửa
chuồng…

Nước thải

Phân

-Dạng chất thải
-Thời gian lưu trữ
-Hoạt động của vi sinh
vật
-pH
-Phương pháp lưu trữ
Hình 1.1. Các yếu tố ảnh hƣởng tới sự tạo thành và phát tán khí thải

-Lượng thức ăn và
nước uống ăn vào
-Thành phần thức ăn

-Giống
-Sức khỏe
-Tập tính


Nhiều hợp chất gây mùi là sản phẩm của quá trình phân giải enzymecủa vi sinh vật
các chất trong phân hay nước tiểu. Thí dụ trong nước tiểu quá trình khử các hợp
chất sulfate thành H2S thủy phân các glucoronic thành phenol, axít hypuric
thành axít benzoic hay urea thành NH3…Khi nước tiểu trộn lẫn với phân sẽ làm
tăng mạnh sự tạo thành các sản phẩm khí nhất là các khí gây mùi do hoạt động của
các vi sinh vật có mặt trong phân. Hầu hết các khí gây mùi được tạo thành chủ yếu
từ quá trình phân giải kỵ khí các hợp chất hữu cơ được bài tiết từ gia súc, gia cầm
qua phân. Các khí H2S, phenol có thể sinh ra nhanh hơn.Đặc biệt cáckhí gây mùi
nặng sinhra bởi sự mất cân bằng giữa quá trình sinh axit và sinh metan.Trong điều
kiện cân bằng các hợp chất dễ bay hơi có thể bịchuyển hóa hoàn toàn thành CO2 và
CH4 là những chất khí ít gây mùi. Bảng 1.2cho thấy các sản phẩm khí gây mùi chủ
yếu được tạo ra bằng quá trình phân giải vi sinh vật từ phân hay nước tiểu của gia
súc[21,23].

11


Bảng 1. 2: Các khí gây mùi đƣợc tạo ra do quá trình phân giải phân và
nƣớc tiểu
Nguồn chất thải

Thành phần

Nước tiểu

Ure
Glucoronic
Axit hipuric
Sulphat


đó, cùng với việc tăng sinh các loại vi sinh vật, quá trình phân hủy chất thải diễn ra
nhanh chóng, nồng độ mùi sẽ tăng thêm nhiều do các loại khí gây mùi được tạo ra
ngày càng tăng, đặc biệt là ở những chuồng ẩm thấp, kém thông thoáng, có điều
kiện cho vi sinh vật hoạt động. Các khí này gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của
gia súc, gia cầm và sức khỏe của con người. Tác hại của chúng ngày càng lớn khi
các khí này tồn tại lâu trong môi trường không khí chuồng nuôi hay khu vực xung

12


quanh, do làm tăng thời lượng phơi nhiễm (thời gian tiếp xúc) các khí độc của vật
nuôi hay con người. Mỗi khí sinh ra có một mùi đặc trưng để nhận biết và có một
ngưỡng tiếp xúc gây kích ứng cho cơ thể.Sau đây là một số đặc điểm của một số khí
thải chính chiếm tỷ trọng lớn trong các khí chăn nuôi[21,24].
- Khí dioxit carbon (CO2)
Trong chăn nuôi, CO2 được tạo thành do hô hấp của bản thân con vật và do
quá trình oxy hoá các chất hữu cơ có trong chất thải. Chúng là khí gây hiệu ứng nhà
kính quan trọng, nguyên nhân chính của sự tăng nhiệt độ trái đất cho nên chăn nuôi
cũng là nguồn tiềm tàng góp phần làm suy thoái môi trường toàn cầu[21].
- Khí metan(CH4)
Metan là sản phẩm khí của quá trình oxy hóa kỵ khí các chất hữu cơ trong chất
thải chăn nuôi. Các chất hữu cơ nhất là các polysaccharit được chuyển hoá thành
các axít béo mạch ngắn (axetic, propionic và butyric) và một số khí khác. Các hợp
chất trung gian này bị oxy hoá thành CO2 và nước.CO2 cuối cùng sẽ bị khử thành
metan.Metan cũng là một khí nhà kính như CO2.Tuy nhiên khả năng gây hiệu ứng
nhà kính của khí metan cao gấp 21 lần (tính cùng 1 mol) so với CO2. Metan còn là
một chất khí có tác dụng phá hủy mạnh tầng ozone (một lớp áo bảo vệ trái đất khỏi
ảnh hưởngcủa các tia tử ngoại từ ánh sáng mặt trời). Metan không màu, không
mùi,dễ cháy,nồng độ metan trong không khí trên 45% sẽ gây mê, gây ngạt thở cho
người, ở nồng độ 40000 mg/m3 metan sẽ gây tai biến cấp tính cho người với triệu

màng nhầy niêm mạc, gây chảy nước mắt, nước mũi, co thắt thanh quản, và ho.
Trong trường hợp tiếp xúc lâu ngày, nó có thể gây viêm phổi và hoại tử đường hô
hấp. NH3 dễ dàng được hấp thu vào máu, tác động lên thần kinh, gây nhức đầu;
trong trường hợp nặng, có thể gây hôn mê. Tác hại của NH3 thường kết hợp với bụi
và vi sinh vật trong không khí. NH3 được hấp thu trên bụi, cùng bụi được hít vào
đường hô hấp, gây kích ứng và mở đường cho các bệnh đường hô hấp cũng như sự
tấn công của vi sinhvật.
Trên gà, nồng độNH3 trong không khí vượt quá 30ppm có thể làm giảm sản
lượng trứng và thịt; làm gia cầm sợ ánh sáng, ngứa mắt và có thể gây viêm mắt; và
chứng bệnh phổi trên gia cầm (Norén, 1987). Nồng độ ammonia trong không khí
cao làm cho gia cầm dễ nhạy cảm với virus Newcastle. Một thí nghiệm cho thấy,
khi cho gà tiếp xúc với virus gây bệnh Newcastle trong môi trường không có khí

14


ammonia, chỉ có 40% vật nuôi bị nhiễm bệnh; nhưng tỷ lệ này là 100% khi nồng
độ khí này là 20 ppm trong không khí. Nồng độ cao hơn 30 ppm có thểlàm tăng
khả năng nhiễm virus Marek và mycoplasma. Sự hiện diện của NH3 cũng làm tăng
tính gây bệnh của E. coli trên đường hô hấp[21].
- Khí sulfurhydro(H2S)
H2S là khí không màu, có mùi trứng thối, được sinh ra trong quá trình khử
cáchợp chất chứa lưu huỳnh trong chất thải. Cơ quan khứu giác của người có thể
cảm nhận H2S ở ngưỡng 0,01-0,7 ppm và gây mùi nặng khi đạt nồng độ 3-5 ppm.
H2S là khí độc, có thể gây chết khi tiếp xúc với một lượng nhỏ. Khi tiếp xúc với
H2S sẽ gây tác động toàn thân, ức chế men hô hấp dẫn đến ngạt và gây tử vong ở
nồng độ150 ppm (Bruce, 1981). H2S kết hợp với chất kiềm trên niêm mạc tạo
thành các loại sulfur dễ đi vào máu. Trong máu, H2S được giải phóng trở lại và theo
máu đến não, phá hủy tế bào thần kinh, làm suy nhược hệ thần kinh trung ương.
H2S còn chuyển hóa hemoglobin, làm ức chế khả năng vận chuyển oxy của

làm giảm tổng số hợp chất dễ bayhơiđược bài tiết trong phân tươi. Như vậy, chế độ
dinh dưỡng của gia súc, gia cầm liên quan đến khả năng tạo chất gây mùi trong chất
thải [5].
Các vấn đề môi trường từ việc chăn nuôi gà
Đi cùng sự phát triển đô thị, phát triển công nghiệp, dịch vụ đời sống xã hội
ngày càng tăng thì nhu cầu lương thực, thực phẩm phục vụ phát triển con người
ngày càng tăng, trong đó nhu cầu thịtsữa trứng ngày càng tăng cao, tất yếu thúc đẩy
chăn nuôi phát triển mạnh mẽ. Trong sự phát triển chung ấy, nếu không đi kèm các
biện pháp giảm thiểu ô nhiễm sẽ làm cho môi trường sống ngày càng xuống cấp
nhanh chóng. Do vậy, đã đến lúc ngành chăn nuôi cũng cần sự cảnh báo ô nhiễm
môi trường như những ngành khác và phải tập trung một số giải pháp bảo vệ, xử lý
môi trường có tính chiến lược lâu dài, giải quyết thực trạng chăn nuôi nhỏ lẻ hiện
nay và sự phát triển chăn nuôi trang trại công nghiệp có qui mô đàn lớn trong thời
gian tới. Ô nhiễm môi trường do chăn nuôi gây nên chủ yếu từ các nguồn chất thải
rắn, chất thải lỏng, bụi, tiếng ồn, xác gia cầm chết chôn lấp, tiêu huỷ không đúng kỹ
thuật[6,18].
-Ô nhiễm kim loại nặng có thể do nhiều nguồn: chất thải công nghiệp, chất
thải chăn nuôi, phân bón, các chất hoá nông, … Trong đó các nguyên tố vi lượng,

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status