BÀI THU HOẠCH bồi DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN MODULE 19, 20, 21, 22 cấp thcs - Pdf 43

PHÒNG GD&ĐT PHÚ VANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Trường THCS Vinh Thái

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BÀI THU HOẠCH

BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN CỦA CÁ NHÂN
NĂM HỌC 2014-2015
I. Thông tin cá nhân:
1. Họ và tên:

Giới tính:

2. Ngày, tháng, năm sinh:

Năm vào nghành giáo dục:

3. Trình độ chuyên môn:
4. Tổ chuyên môn:

Môn dạy:

5. Trình độ ngoại ngữ:

Trình độ tin học:

6. Chức vụ:
- Căn cứ thông tư số 31/2011/TT-BGDĐT ngày 08 tháng 08 năm 2011 của

dẫn dắt học sinh thực hiện kế hoạch đó, khai thác hết những điều kiện khách quan,
chủ quan trong và ngoài nhà trường đạt tới mục tiêu giáo dục.
1. Quản lí toàn diện hoạt động giáo dục:
- Tiếp thu, nắm vững những đặc điểm của từng học sinh của lớp với tất cả
các tiêu chí về nhân thân (họ tên, tuổi, giới tính, địa chỉ, hoàn cảnh gia đình, cha
mẹ, nghề nghiệp), đặc điểm của gia cảnh (về văn hóa, kinh tế, về tâm lí...). Cần đặc
biệt quan tâm tới những đặc điểm của học sinh (về sức khoẻ, sở thích, học lực, đạo
đức, quan hệ xã hội, bạn bè, tính tình...).
- Đánh giá phân loại, xác định những mặt mạnh, mặt yếu của tập thể học
sinh. GVCN phải xác định được và phân loại học sinh lớp học theo mục tiêu giáo
dục toàn diện như: Năng lực học tập, sự phát triển trí tuệ, khả năng học tập các môn
để xây dựng kế hoạch phụ đạo, bồi dưỡng học sinh theo môn học. Phân loại được
đặc điểm nhân cách, thái độ, đạo đức học sinh, để có kế hoạch tác động cá thể hoá
và phối hợp trong giáo dục. Phải phát hiện, nắm vững và phân loại được những học
sinh có năng khiếu về các mặt hoạt động như thể dục thể thao (TDTT), văn nghệ,
hoạt động xã hội để sử dụng cho các hoạt động của lớp. Đặc biệt phải quan tâm tới
những học sinh yếu về mọi mặt học tập, kĩ năng để có kế hoạch rèn luyện, bồi
dưỡng.
- Nắm vững gia cảnh, đặc điểm của các gia đình học sinh. Nắm vững đặc
điểm gia đình học sinh bao gồm: đời sống kinh tế, nghề nghiệp, trình độ văn hoá
của bố mẹ học sinh, bầu tâm lí của gia đình, sự quan tâm của các thành viên, truyền
thống, cách sinh hoạt, lối sống của các gia đình... khả năng và thái độ của các bậc
cha mẹ đối với các hoạt động giáo dục của nhà trường...
a. GVCN lớp là người đại diện quyền lợi, nguyện vọng chính đáng của tập
thể học sinh, là “cầu nối” giữa lớp với Hiệu trưởng và các thầy cô giáo:
Đối với tập thể học sinh một lớp học, không có một giáo viên nào (kể cả Hiệu
trưởng) lại có cơ hội, có điều kiện thiết lập quan hệ thân thiện, tự nhiên như
GVCN lớp. Với ưu thế của GVCN, nhiều người đã xây dựng được mối quan hệ
vừa là thầy trò, vừa là anh em, bạn bè... là chỗ dựa tinh thần, luôn được học sinh
tin yêu, chia sẻ những băn khoăn thắc mắc, bộc lộ những nguyện vọng, khát

thay mặt hiệu trưởng, hội đồng nhà trường và phụ huynh học sinh (PHHS) quản lý
và chịu trách nhiệm về chất lượng toàn diện học sinh lớp mình phụ trách, tổ chức
thực hiện chủ trương, kế hoạch của nhà trường ở lớp chủ nhiệm.
- Đối với HS và tập thể lớp, GVCN là nhà giáo dục và là người lãnh đạo gần
gũi nhất, người lãnh đạo, tổ chức, điều khiển, kiểm tra toàn diện mọi hoạt động và
các mối quan hệ ứng xử thuộc phạm vi lớp mình phụ trách dựa trên đội ngũ tự quản
là cán bộ lớp, cán bộ Đội và tính tự giác của mọi HS trong lớp.
- Trong quan hệ với các lực lượng giáo dục khác trong và ngoài nhà trường,
GVCN là nhân vật trung tâm để hình thành, phát triển nhân cách học sinh và là cầu
nối giữa gia đình, nhà trường và xã hội.
2. Công việc của GVCN lớp với GVCN các lớp khác cùng khối:
Trong tổ chức nhân sự của nhà trường, những GVCN thuộc cùng một khối lớp
được thiết lập thành một tổ chủ nhiệm khối lớp, có tổ trưởng phụ trách và sinh hoạt
theo định kỳ hàng tháng, học kỳ và năm học, là thành viên thuộc tổ, mỗi GVCN
cần thực hiện những công việc sau:
- Bàn bạc, thống nhất với những thành viên thuộc tổ về nội dung, kế hoạch,
cách thức, tiến bộ các hoạt động chủ nhiệm tương ứng với những thời điểm cụ thể
của kế hoạch năm học, trao đổi kế hoạch phối hợp với các khối chủ nhiệm khác
trong trường.

3


- Báo cáo hoạt động của lớp chủ nhiệm về các mặt giáo dục, đề xuất thỉnh
cầu sự giúp đỡ, phối hợp của các lớp cùng khối đối với một số công việc nhằm tạo
phong tráo, phát huy sức mạnh của cộng đồng khối lớp.
3. Công việc của GVCN với các giáo viên bộ môn giảng dạy tại lớp chủ
nhiệm:
- Nắm bắt số lượng cụ thể giáo viên bộ môn dạy lớp chủ nhiệm, lịch trình
giảng dạy của mỗi người trong năm học.

thấy cần thiết đề nghị với GVCN.

4


- Lập một danh sách số điện thoại chung của các gia đình HS gửi cho tất cả
các GV của lớp.
- Gửi thông báo cho cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng biết về kế hoạch Đại hội
cha mẹ HS, kể cả nội dung và ngày giờ cụ thể. Có thể gợi ý những vấn đề cần thảo
luận cũng như những mối quan tâm đặc biệt về việc học tập của con em mình.
5. Xây dựng, bảo quản và sử dụng có hiệu quả hồ sơ giáo dục và giảng dạy:
- Lập đủ hồ sơ để quản lý quá trình học tập, rèn luyện của học sinh; bảo quản
tốt các bài kiểm tra của học sinh
- Lưu trữ tốt hồ sơ giảng dạy bao gồm giáo án, các tư liệu, tài liệu tham khảo
thiết thực liên quan đến giảng dạy các môn học được phân công dạy
- Sắp xếp hồ sơ một cách khoa học, đúng thực tế và có giá trị sử dụng cao
- Lưu trữ tất cả các bài làm của học sinh chậm phát triển và học sinh khuyết
tật để báo cáo kết quả giáo dục vì sự tiến bộ của học sinh
6. GVCN phải có sự phối hợp với các lực lượng xã hội:
Tận dụng tiềm năng giáo dục trong trường và ngoài xã hội để đạt tới hiệu
quả trong việc thực hiện giáo dục là một nhiệm vụ đặc trưng của người giáo viên
chủ nhiệm lớp trong trường phổ thông. Giải quyết tốt nhiệm vụ này cũng chính là
thực hiện xã hội hoá giáo dục, một trong những giải pháp trọng yếu thực hiện chiến
lược phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
Phần 2: Việc vận dụng kiến thức, kỹ năng đã được bồi dưỡng vào hoạt động
nghề nghiệp thông qua các hoạt động dạy học và giáo dục.
I. Xây dụng kế hoạch chủ nhiệm lớp
1. Sự cần thiết xây dựng kế hoạch chủ nhiệm:
- GVCN là người thay thế Hiệu trưởng quản lý toàn diện tập thể học sinh một
lớp học. Muốn làm tốt công tác chủ nhiệm lớp, GVCN phải xây dựng kế hoạch chủ

Khó khăn
- Lớp của chúng ta có những điểm yếu nào?
- Những yếu tố nào dẫn đến thất bại của lớp trong năm học vừa qua?
- Chúng ta đã làm những công việc nào có kết quả kém nhất ?
- Những thất bại của lớp, của cá nhân được diễn ra theo con đường, chiều
hướng nào? Có thể làm khác không?
Thời cơ
- Chủ trương sắp tới của Nhà nước.
- Chỉ thị năm học của Bộ.
- Kế hoạch năm học (Sở, Phòng).
- Sự quan tâm của lãnh đạo địa phương…
- Phương pháp giảng dạy mới…
* Những thời cơ nêu trên sẽ đem lại những lợi thế gì cho trường, cho lớp
chúng ta? Có giúp gì cho nhà trường hay không?
Thách thức
+ Quán net, games, karaoke…, nạn bạo lực học đường, giao thông xuống
cấp… có ảnh hưởng không?
Lưu ý:
- Việc phân chia các yếu tố thành điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức
không nhất thiết phải là một sự phân chia cứng nhắc, vì “cơ” có thể chuyển thành
6


“nguy” và ngược lại…Điều quan trọng là khi phân tích, cần chỉ ra được nguyên
nhân khiến cho lớp học yếu, kém về một số chỉ tiêu cụ thể nào đó, để từ đó đưa ra
giải pháp, tập trung ưu tiên giải quyết nhằm đạt được mục đích mong đợi.
- Đề ra chỉ tiêu trong xây dựng kế hoạch nên vừa sức (nhất là chỉ tiêu về mặt
học lực) để có thể đạt được. Biết rằng chỉ tiêu phải có tính thách thức để cố gắng,
nhưng cũng đừng đặt chỉ tiêu cao quá mà không thể đạt nổi.
3.2. Phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu và các danh hiệu phấn đấu


7


Bản thân tôi đã được học tập các Nghị quyết Hội nghị TW 8, Hội nghị TW 9 ;
Nắm được tình hình thời sự trong nước, ngoài nước và tình hình phát triển – kế
hoạch của Huyện Phú Vang qua đợt học chính trị đầu năm học vào ngày 20, 21
tháng 8 năm 2014, và qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Tôi đã làm bài
thu hoạch vào cuối đợt bồi dưỡng.
Bản thân đã nắm được và thực hiện đúng nhiệm vụ năm học theo bản phương
hướng hoạt động và nhiệm vụ năm học của nhà trường .
- Tự xếp loại: Tốt
NỘI DUNG 3: TĂNG CƯỜNG SỬ DỤNG TBDH VÀ ỨNG DỤNG CNTT
TRONG DẠY HỌC.
I. DẠY HỌC VỚI CÔNG NGHỆ THÔNG TIN (THCS 19)
Phần 1: Nhận thức việc tiếp thu kiến thức và kỹ năng.
1.Tìm hiểu khái niệm CNTT:
CNTT đuợc định nghĩa như sau: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học,
các phương tiện và công cụ kỉ thuật hiện đại – chủ yếu là kỉ thuật máy tính và viễn
thông - nhằm tổ chúc khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông
tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vục hoạt động của con người và xã
hội.
CNTT đuợc phát triển trên nền tảng phát triển của các công nghệ điện tử - Tin họcViễn thông và tự động hoá”
2. Các nguyên tắc khi ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Để việc ứng dụng CNTT trong dạy học đạt hiệu quả mong muốn, người
GV cần đảm bảo thực hiện các nguyên tắc cơ bản sau:
- Việc lựa chọn khả năng và mức độ ứng dụng CNTT trong mỗi bài học phải
căn cứ vào mục tiêu, nội dung và hình thức của bài học đó.
- Việc ứng dụng CNTT trong mỗi bài học cần xác định rõ: sử dụng CNTT nhằm
mục đích gì, giải quyết ván đề gì, nội dung gì trong bài học.

Ứng dụng CNTT để dạy học trên trường học trực tuyến.

-

Ứng dụng CNTT để quản lý Tổ, thảo luận,trao đổi chuyên môn trong tổ,
nhóm chuyên môn.

Cụ thể:
a) Vai trò của công nghệ thông tin trong dạy học.
Ngày nay, việc đổi mới phương pháp dạy học trong trường học đang rất được
ngành giáo dục và xã hội quan tâm. Với mục tiêu dạy học tích cực – lấy học sinh
làm trung tâm của hoạt động dạy và học để có thể phát huy được tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của học sinh, tạo cho học sinh hứng thú trong học tập. Người giáo
viên cần phải bồi dưỡng cho học sinh kĩ năng nhận biết bản chất vấn đề, có năng
lực tư duy độc lập và vận dụng sáng tạo kiến thức đã học vào thực tiễn. Để đạt mục
tiêu trên, giáo viên phải vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực. Một
trong những công cụ hữu ích hỗ trợ cho giáo viên, đó chính là ứng dụng công nghệ
thông tin vào trong quá trình dạy học bởi những lí do sau:
- Trong thời đại ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì việc ứng
dụng CNTT vào dạy học là phù hợp với quy luật và là một việc làm cần thiết, đem
lại hiệu quả thiết thực.
- Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là phù hợp với chủ trương,
chính sách của Đảng, Nhà nước và Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Công nghệ thông tin đã góp phần hiện đại hóa các phương tiện dạy học, các
phần mềm dạy học đã giúp giáo viên tạo bài giảng phù hợp nhu cầu của học sinh,
giúp học sinh có nhiều phương pháp tiếp thu kiến thức. Đặc biệt, nó sẽ giúp cho
giáo viên tạo ra một lớp học mang tính tương tác hai chiều: giáo viên – học sinh.
Do đó, ứng dụng công nghệ thông tin sẽ giúp học sinh tiếp nhận thông tin bài học
hiệu quả hơn và sẽ biến những thông tin đó thành kiến thức của mình. Đồng thời,
nó cũng phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, khai thác

web, GV THCS có thể khai thác thông tin hoặc khai thác tranh ảnh, âm thanh,
video clip để bổ sung cho bài dạy; HS THCS có thể chủ động tìm kiếm thông tin
mở rộng hoặc các bài tập, bài thực hành cho các kiến thức đã được truyền thụ trên
lớp học.
- Nâng cao hiệu quả truyền đạt và lĩnh hội tri thức: GV THCS có thể ứng dụng
CNTT để soạn giáo án điện tử, trình chiếu trên lớp học trong các giờ lên lớp.
Thông qua giáo án điện tử, kiến thức có thể biểu dìến dưới dạng kênh chữ, kênh
hình, qua đó tạo hứng thú cho người học, kích thích người học chủ động, tích cực
trong việc lĩnh hội tri thức.
- Tăng cường việc giao lưu, trao đổi thông tin giữa người dạy và người học:
Thông qua việc ứng dụng CNTT, GV THCS có thể tạo nhiều cơ hội để người học
bộc lộ những quan điểm, suy nghĩ của bản thân về các kiến thức trong bài học cũng
như cách truyền thụ kiến thức của người dạy. Người dạy dễ dàng tiếp nhận được
thông tin phân hồi từ người học và người học được rèn luyện các kỹ năng trao đổi,
thảo luận, thuyết trình...
- Sử dụng CNTT để trao đổi thông tin, quản lý, hoạt đông chuyên môn của Tổ,
Nhóm chuyên môn.
- Sử dụng CNTT dạy học trên trường học trực tuyến.
- Nâng cao hiệu quả của hoạt động kiểm tra, đánh giá.

10


5. Tìm hiêu một số hạn chế thường gặp trong ứng dụng công nghệ thông tin
vào quá trình dạy học hiện nay.
- Coi CNTT chỉ như một phương tiện trình chiếu( thay bảng đen và phấn trắng
truyền thống).
- Chưa biết cách kết hợp có hiệu quả giữa ứng CNTT và vận dụng các PPDH tích
cực khác.
- Lạm dụng CNTT, để HS chúủ động khai thác kiến thức thông qua CNTT mà


Nam về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã nêu rõ: "Đổi mới nội dung
chương trình, sách giáo khoa, phuơng pháp dạy và học phải được thực hiện đồng
bộ với nâng cấp và đổi mới trang TBDH".
1. Các chức năng của thiết bị dạy học.
1.1 Chức năng quan trọng nhất của thiết bị dạy học là chức năng thông tin.
- TBDH chứa đầy đủ thông tin kiến thức về nội dung dạy học. Người dạy hiểu
biết về nôi dung kiến thức đó và sử dung TBDH để chuyển tải thông tin đến người
học.
- TBDH chứa thông tin về PPDH, nó hướng người dạy lựa chọn phương pháp nào
là hợp lý và hiệu quả.
1.2 Thiết bị dạy học có chức năng phản ánh.
- TBDH nó phản ánh sự vật, hiện tượng, các quá trình, các quy luật khách quan
của xã hội, của tự nhiên và tư duy.Các nội dung và chi tiết mà nó phản ánh sẽ được
người dạy và người học tiếp nhận trong quá trình dạy học và cùng tương tác, phối
hợp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ dạy học.
1.3 Thiết bị dạy học có chức năng giáo dục.
- TBDH có khả năng làm cho quá trình giáo dục trờ thành quá trình tự giáo dục,
làm cho quá trình nhận thức trở thành quá trình tự nhận thức, làm cho quá trình dạy
học trờ thành quá trình tự học của HS. HS có thể làm việc với TBDH để tự học, tự
nhận thức với sự hướng dẫn, định hướng của GV.
- TBDH ngầm chứa tư duy của các nhà khoa học. HS không chỉ tiếp nhận tri thức
mà thông qua làm việc với TBDH, HS còn nhận thức cả cách suy nghĩ, cách làm
của các nhà khoa học.
- TBDH ngầm chứa quá trình phát triển của nền văn minh nhân loại, vì vậy nó có
chức năng giáo dục toàn diện.
1.4 Thiết bị dạy học có chức năng phục vụ.
- TBDH là phương tiện phục vụ trục tiếp cho GV và HS hoạt động trong quá trình
dạy học nói chung, cho từng bài học, từng đơn vị kiến thức trong một bài học nói
riêng.

thống rẻ tiền (giá thành không cao), do đó có thể trang bị đại trà và đầy đủ cho các
bộ môn trong các trường THCS.
- Một ưu điểm nổi bật là nhiều TBDH truyền thống GV có thể tự thiết kế, tự làm.
Điều đó thúc đẩy sự say mê, phát huy sáng kiến của các Giáo viên trong việc tự
làm TBDH.
- Với các TBDH truyền thống GV và HS ở trường THCS dễ sử dụng và dễ bảo
quản, dùng được nhìều lần. Mặt khác, cỏ thể lưu lại trên phòng học để sử dụng khi
cần thiết, ví dụ như các sơ đồ, bản vẽ kỉ thuật có thể lưu lại trong suổt quá trình làm
thực hành, thí nghiệm của HS.
* Một số hạn chế khi sử dụng các TBDH truyền thổng:
- Những TBDH truyền thống phần lớn là cồng kềnh, bảo quán khỏ khăn, tốn diện
tích để cẩt giữ.
- Các TBDH truyền thống chỉ cỏ thể mô tả, biểu diễn đuợc các hình ảnh tĩnh,
không thể mô tả được các hình ảnh động hoặc không mô tả được quá trình của hiện
tượng, nguyên lí hoạt động.
3.2 Thiết bị hiện đại:

13


* Những ưu điểm nỗi bật khi sử dụng các TBDH hiện đại:
- Mỗi loại TBDH hiện đại có những ưu điểm và công dụng riêng. Tuy nhìên, có
thể mô tả những ưu điểm khái quát của các loại thiết bị:
- Các TBDH hiện đại mang lượng lớn những thông tin cần thiết cho việc dạy và
học. Lượng thông tin này được chọn lọc ờ múc độ cần thiết thoả mãn cho mọi đối
tượng.
- Những TBDH hiện đại cỏ thể trình bầy được các thông tin một cách cụ thể, trực
quan, dễ hiểu làm cho HS dế dàng tiếp thu nội dung kiến thức. Đồng thời chúng
cũng cỏ khả năng cung cấp thêm những tài liệu đa dạng phong phú giúp cho việc tự
hoc, tự nghiên cứu của GV, HS (PMDH).



- Rút ngắn thời gian giảng dạy mà vẫn bảo đảm HS lĩnh hội đủ nội dung học
tập.
- Gia tăng cường độ lao động của cả GV và HS; do đó nâng cao hiệu quả dạy
học.
- Thể hiện được những yếu tố trong thực tế khó hoặc không quan sát, tiếp
cận được.
5. Sử dụng thiết bị dạy học; kết hợp sử dụng các thiết bị dạy học truyền
thống với thiết bị dạy học hiện đại để làm tăng hiệu quả dạy học.
+ Một số yêu cầu khi sử dụng thiết bị dạy học:
Sử dụng thiết bị dạy học phải phù hợp với mục tiêu bài học và phát huy
được vai trò tối ưu của nó
- Cần phải lập kế hoạch.
- Giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo, rèn luyện
thói quen và khả năng tự học,biết kết hợp lý thuyết với thực hành, có tinh thần hợp
tác.
- Đồ dùng trực quan có nhiều loại, đồ dùng trực quan hiện vật, đồ dùng trực
quan tạo hình, đồ dùng là tranh ảnh...Vì thế khi sử dụng giáo viên phải lựa chọn đồ
dùng trực quan phù hợp với mục đích, yêu cầu bài học, đi theo một trình tự nhất
định thì mới đạt được hiệu quả bài dạy.
- Giáo viên phải khéo léo đưa ra những câu hỏi vừa sức với học sinh, tránh
những câu hỏi thách đố để các em rơi vào thế bí điều đó chỉ làm mất thời gian tiết
dạy. Giáo viên phải biết kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như miêu tả, tường
thuật, phân tích, hướng dẫn nhằm huy động tối đa kỹ năng làm việc của học sinh:
tai nghe, mắt thấy, biết phân tích suy luận vấn đề.
- Tuy nhiên nếu sử dụng thiết bị không phù hợp với mục tiêu bài học, hoặc
quá lạm dụng nó thì dễ làm cho học sinh bị phân tâm, phân tán tư tưởng trong tiết
học dẫn đến năng lực tư duy trừu tượng bị hạn chế.
- Việc sử dụng đồ dùng trực quan không được lạm dụng quá nhiều thời gian,

thuyết vào thực hành, đặt ở vị trí thích hợp để học sinh dễ quan sát, dễ dàng tiếp
cận. Phát huy được tác dụng của đồ dùng dạy học và CNTT mà bảng đen khó đạt
được.
- Tự thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử của mình.
- Kết hợp sử dụng phương pháp dạy học truyền thống với các phương pháp
dạy học tích cực khác.
- Kết hợp TBDH truyền thống với TBDH hiện đại (máy tính, máy
chiếu, ...).
Phần 3: Tự nhận xét và đánh giá:
Qua quá trình tiếp thu và vận dụng những kiến thức đã được tiếp thu vào
thực tiễn công tác thì bản thân tôi nhận thấy đã thực hiện được 80-90% so với kế
hoạch.
- Tự xếp loại: Tốt
III. BẢO QUẢN, SỬA CHỬA, SÁNG TẠO TBDH (THCS 21)
Phần 1:Nhận thức việc tiếp thu kiến thức và kỹ năng.
Bảo quản TBDH là một việc làm cần thiết và quan trọng trong mỗi nhà trường.
Nếu không thực hiện tốt công tác bảo quản thì thiết bị sẽ dễ hư hỏng, mất mát; làm
lãng phí tiền của, công sức, làm ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả của thiết bị
dạy học. Bên cạnh việc bảo quản, sửa chữa thiết bị, giáo viên tự làm thiết bị dạy
học đơn giản sẽ giúp tiết kiệm và sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí mua sắm
TBDH.
Phần 2: Việc vận dụng kiến thức, kỹ năng đã được bồi dưỡng vào hoạt động
nghề nghiệp thông qua các hoạt động dạy học và giáo dục.
16


1.Bảo quản TBDH:
a. Dụng cụ: Dụng cụ gồm nhiều loại như dụng cụ đo lường, thí nghiệm, sản
xuất...
- Dụng cụ bằng gỗ: tránh ánh sáng trực tiếp, nhiệt độ cao, va chạm mạnh gây cong

Phần 1: Nhận thức việc tiếp thu kiến thức và kỹ năng.
PMDH là phần mềm ứng dụng được trong quá trình dạy học với khối lượng
thông tin chọn lọc, phong phú và có chất lượng cao, giúp việc học tập của học sinh
được diễn ra sinh động, hấp dẫn, dễ tiếp thu và GV có điều kiện dạy học phân hóa,
17


cá thể hóa nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động và sáng tạo của mỗi học sinh; tạo
điều kiện thuận lợi cho việc giảng dạy của GV và việc tìm hiểu, tự học phù hợp với
nhu cầu, hứng thú, năng lực, sở thích của từng học sinh. Do đó PMDH là phương
tiện quan trọng góp phần thực hiện được những đổi mới giáo dục, bên cạnh việc đổi
mới nội dung, PMDH nhằm hình thành ở HS năng lực làm việc, học tập một cách
độc lập, thích ứng với xã hội hiện đại.
1. Phân loại phần mềm dạy học:
-

Căn cứ vào mã nguồn: Gồm có phần mềm mã nguồn mở (như phần mềm
Moodle, GeoGebra...) và phần mềm mã nguồn đóng (như phần mềm
Microsoft PowerPoint, ...).

-

Căn cứ vào tính kinh tế: Phần mềm thương mại (như phần mềm ViOLET,...).

-

Căn cứ vào nội dung: PMDH dùng chung (như phần mềm LectureMaker,
Adobe Presenter,...) và PMDH theo môn học (như phần mềm Toán học
Maple…).


- Trao đổi với đồng nghiệp thông qua email, thông qua website của trường
- Tham gia đầy đủ các lớp tập huấn sử dụng các phần mềm dạy học do Phòng,
Sở tổ chức và ứng dụng các phần mềm đó trong quá trình dạy học
Phần 3: Tự nhận xét và đánh giá:
- Bản thân đã không ngừng tìm hiểu, học tập để hiểu rõ các PMDH, bản thân đã
sử dụng khá thành thạo các PMDH soạn giảng . Là giáo viên nên thường hay sử
dụng các phần mên như: Word, Exel, Powepoint, Violet; Minmap,.... Bản thân cũng
đã áp dụng trong trong nhiều tiết dạy học mang lại hiệu quả cao.
- Qua quá trình tiếp thu và vận dụng những kiến thức đã được tiếp thu vào thực
tiễn công tác thì bản thân tôi nhận thấy đã thực hiện được 85-90% so với kế hoạch
- Tự xếp loại: Tốt

Phú Dương, ngày 20 / 04/ 2015
Người viết thu hoạch

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status