PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay kinh tế Việt Nam đang theo nền kinh tế thị trường, một nền kinh tế có sự
cạnh tranh gay gắt khốc liệt. Tham gia hội nhập nền kinh tế thế giới, Việt Nam có nhiều
cơ hội và thách thức trong vấn đề hội nhập. Đây là cơ hội đưa nước ta tiếp cận với nền
kinh tế hiện đại đang phát triển, tiếp cận với nền khoa học tri thức của nhân loại ngày
càng nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế. Bên cạnh đó không ít những khó
khăn buộc chúng ta phải đối mặt: nền kinh tế còn nghèo nàn lạc hậu, đời sống người dân
nhiều khó khăn thiếu thốn, trình độ đào tạo nhân lực còn kém. Để khắc phục một số
khiếm khuyết còn thiếu sót, Việt Nam cần có một đội ngũ những con người hoat động
tích cực năng động sáng tạo. Do vậy có thể nói giáo dục là quốc sách hàng đầu của các
quốc gia nói chung và của Việt Nam nói riêng. Giáo dục gắn liền với tương lai và sự
phát triển của đất nước. Mục tiêu phát triển của Việt Nam đến năm 2020 là cơ bản trở
thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Để đạt được mục tiêu nói trên cần
huy động và sử dụng một cách hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước đặc biệt là nguồn
lực của con người càng được xem trọng hơn. Điều đó cũng đòi hỏi một lực lượng trí
thức trẻ có chuyên môn và năng lực làm việc cao. Và sinh viên cũng không ngừng nỗ
lực học tập trau dồi vốn kiến thức để có thể chủ động trong việc lựa chọn nghề nghiệp
và hướng đi phù hợp cho bản thân sau khi tốt nghiệp góp phần xây dựng đất nước lớn
mạnh. Trong đó giáo dục đại học là nơi đào tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao cho
đất nước. Đại học luôn là môi trường bồi dưỡng, sáng tạo và chuyển giao những thành
tựu khoa học công nghệ mới nhất, là đầu tàu trong việc tạo ra nguồn lao động chất
lượng cao phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước.
Như chúng ta đã biết, môi trường học tập trong đại học đòi hỏi phải có sự tự giác
nỗ lực cá nhân rất lớn, đặc biệt là hình thức đào tạo theo tín chỉ. Tuy nhiên nhiều sinh
viên hiện nay vẫn không đạt được kết quả mong muốn mặc dù có sự chăm chỉ nhưng có
thể là vì phương pháp học tập của họ chưa thực sự đúng đắn. Thực tế khác cho thấy sinh
viên đại học sau khi ra trường muốn tìm được một việc làm đúng chuyên ngành, ổn định
thì rất khó với tấm bằng trung bình và cơ hội cao hơn khi họ có tấm bằng cao hơn. Với
những người đang ngồi trên ghế nhà trường nói chung và sinh viên nói riêng thì kết quả
học tập đạt được sau mỗi kỳ học rất quan trọng. Kết quả mỗi kỳ sẽ quyết định xem sinh
-Thời gian: Từ ngày 25/9/2016 đến ngày 26/10/2016
5. Phương pháp nghiên cứu
- Chọn mẫu điều tra: Chọn ngẫu nhiên 31 sinh viên thuộc khoa Tài chính Ngân hàng của
trường Đại học Thương Mại (khóa 49, 50, 51)
- Thu thập thông tin dữ liệu:
+ Sơ cấp: Từ sinh viên khoa TCNH trường ĐH Thương Mại (khóa 49, 50, 51)
+ Thứ cấp: Một số tài liệu trên mạng Internet, một số trên sách báo,...
-Phương pháp xử lý các thông tin: Trên máy tính cá nhân bằng các phần mềm hỗ trợ
như Word, Excel,...
6. Công trình nghiên cứu
a. Một số nghiên cứu ở nước ngoài
Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên là một trong
những vấn đề được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm ở phương Tây. Từ những năm nửa
đầu của thế kỷ XX và cho đến nay một số nhà nghiên cứu phương Tây đã có nhiều công
trình.
Một nghiên cứu tại Tây Ban Nha “Personal, family and academic factors affecting
low achievement in secondary school” của Antonia Lozano Diaz (2003) đã chỉ ra ảnh
hưởng của các yếu tố đến kết quả học tập của học sinh. Đó là trình độ học vấn của cha
mẹ, giới tính, động lực học tập, mối quan hệ giữa các học sinh và với những người
khác. Bằng phân tích hồi quy và kiểm định ANOVA nghiên cứu kết luận: Môi trường và
động lực học tập có ảnh hưởng đến kết quả học tập còn trình độ học vấn của người mẹ
thì không.
Tác giả Getinet Haile và Nguyễn Ngọc Anh (2008) trong đề tài “các yếu tố ảnh
hưởng đến kết quả học tập ở Hoa Kỳ, phân tích hồi quy điểm phân vị cho điểm kiểm
tra”. Các tác giả đã khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tâp của sinh viên ở
các môn toán, đọc và khoa học ở Hoa Kỳ đặc biệt chú trọng tới các ảnh hưởng khác
nhau có thể có của các yếu tố chủng tộc, hoàn cảnh gia đình với sự phân phối điểm kiểm
tra của sinh viên. Từ đó tác giả đưa ra hai kết luận quan trọng: Thứ nhất, kiểm tra các
thực tiễn trong nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên
nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ở nước ta.
Tác giả Mai Thị Quỳnh Lan và Nguyễn Qúy Thanh trong nghiên cứu “tiếp cận lý
thuyết về mối quan hệ giữa học vị giảng viên và kết quả học tập của sinh viên” đã
chứng minh và đưa ra những kết luận có ý nghĩa khoa học. Theo tác giả các phẩm chất
năng lực của thầy có ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên. Từ việc phân tích chi
tiết các yếu tố từ giảng viên, thực nghiệm qua điều tra phân tích thống kê bằng bảng hỏi
đối với sinh viên Đại học Quốc Gia Hà Nội, tác giả khẳng định các yếu tố thuộc về
giảng viên như: khả năng dạy học nói chung và 22 trí thông minh, kiến thức chuyên
ngành, kiến thức về dạy và học, kinh nghiệm của giảng viên, các hành vi và thực hành
của giảng viên có mối tương quan cao về kết quả học tập của sinh viên.
Tác giả Nguyễn Công Thanh (2009) với “nghiên cứu phong cách học của sinh viên
trường ĐH Khoa học Xã Hội Nhân Văn và trường ĐH Khoa học Tự Nhiên” đề tài đã
cho thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình học tập của sinh viên. Mỗi sinh viên
do môi trường văn hóa xã hội khác nhau nên hình thành những thói quen, cách suy nghĩ,
các năng lực nhận thức khác nhau từ đó có phong cách học khác nhau. Qua nghiên cứu
điều tra khảo sát, tác giả kết luận điểm phong cách có quan hệ tuyến tính với điểm học
lực trung bình các môn học và nó giải thích cho khoảng 3 – 14% sự biến thiên điểm
thành tích học tập của những sinh viên được nghiên cứu. Nhóm sinh viên có điểm
phong cách học cao cũng là các sinh viên có điểm học lực trung bình các môn cao ở các
học kỳ.
I.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đã tổng quan các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên
2.1.2. Công cụ thu thập dữ liệu
- Là biểu mẫu do nhóm 9 thiết kế để hỏi, sau đó các bạn sinh viên trả lời và
cung cấp số liệu.
2.1.3. Biến số độc lập
- Là các yếu tố ảnh hưởng tới KQHT của sinh viên, gồm các biến số thuộc về
sinh viên (động lực học, phương pháp học, thời gian dành cho việc tự học)
và các biến số thuộc về nhà trường (phương pháp giảng dạy của giáo viên,
điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường).
2.1.4. Biến phụ thuộc
- Là KQHT của sinh viên.
2.1.5 Quy trình nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Xây dựng bảng hỏi
Nghiên cứu sơ bộ
Nghiên cứu chính
thức
Sơ đồ 2.1 Quy trình nghiên cứu
2.1.6
Cách thức chọn mẫu
2.1.6.1. Chọn mẫu cho nghiên cứu sơ bộ
Phát phiếu ngẫu nhiên cho 30 bạn sinh viên để đánh giá độ tin cậy của phiếu trao
đổi ý kiến trước khi đưa vào viên cứu chính thức.
Khóa 50
29
93.6
Khóa 51
1
3.2
Tổng
31
100
KQHT của sinh viên khoa TCNH khóa 49, 50, 51tính đến hết học kỳ II năm học
2015-2016
Bảng 2
Kết quả học tập
Giỏi
Khá
Trung bình
Kém
Tổng cộng
Số lượng sinh viên
2
15
13
1
31
3.1
38.7
54.8
Qua bảng khảo sát, có tới hơn một nửa số sinh viên của khoa chưa không hài lòng
với kết quả hiện tại của mình (chiếm 54.8%). Có 38.7% số sinh viên được hỏi chưa
thực sự hài lòng với KQHT hiện tại, cần phải cố gắng nhiều hơn nữa.
3.2.1 Ý thức học tập
Ngày nay sự khác biệt sự khác biệt của giáo dục đại học và giáo dục phổ thông
rất quan trọng. Nếu giáo dục phổ thông là học sinh học ỏ thầy cô giáo và trên
lớp nhiều thì ở giáo dục đại học các sinh viên đôi khi phải tự tìm tài liệu và tự
học là chính nên chỉ có thời gian tự học nâng cao ý thức học tập của bản thân
thì mới có thế cải thiện được kết quả học tập.
Đa số sinh viên có rất nhiều thời gian rảnh rỗi. Nếu không biết phân bổ thời
gian một cách hợp lý thì thời gian rảnh rỗi sẽ không làm được việc gì cả, cũng
không dành được thời gian cho việc học, mà học ở đại học thì thời gian tự học
và ý thức học tập nó quyết định đến kết quả học tập của sinh viên là chủ yếu.
Tham gia các hoạt động xã hôị, vui chơi, giải trí, học thêm, học trên tivi, báo,
đài... cũng là một hình thức tự học rất tốt vừa giúp nâng cao học vấn, vừa giúp
tăng khả năng giao tiếp. Vì vậy, tham gia các hoạt động xã hội, vui chơi, giải trí,
học thêm ...rất bổ ích và hiệu quả.
3.2.1.1
Ý thức học và cách thức phát huy tư duy tích cực của sinh viên.
Để hiểu sinh viên thế nào để chiếm lĩnh tri thức một cách có hiệu quả thì ta phải
tìm hiểu ý thưc học tập cũng như cách thức học của họ. Liệu ý thức học tập đó
có gíup sinh viên lĩnh hội tri thức một cách tối ưu hay không?
28
4.tập trung vào các môn
chuyên nghành và ngoại
34
ngữ
Tỷ lệ (%)
17
21
28
34
Theo kết quả nghiên cứu của sinh viên học khoa tài chính ngân hàng cho thấy: sinh
viên không quan tâm đến việc này chiếm 17%, chỉ học các môn cảm thấy hứng thú
chiếm 21%, học đều tất cả các môn 28%, và tập trung vào các môn học chuyên
nghành và ngoại ngữ chiếm 34%
Qua số liệu thu được có thể thấy sinh viên khoa tài chính ngân hàng phân bổ môn
học của mình còn chưa hợp lý như vẫn còn nhiều sinh viên vẫn chưa ý thức được
vấn đề học tập của bản thân, không có kế hoạch cụ thể cho việ học tập, còn mải
chơi không quan tâm đến việc học tập.
3.2.1.3. sinh viên dành thời gian tự học
Tự học có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình học đại học của sinh viên.
Tự học nhằm phát huy tính tự giác học và nghiên cứu. Việc tự học đối với sinh
viên có vai trò hết sức quan trọng vì qua đó góp phần giúp sinh viên rèn luyện
khả năng tư duy và sáng tạo của cá nhân.
Qua số liệu thu được cho thấy sinh viên khoa tài chính ngân hàng. Học 1 mình và
không. Nó thể hiện sự say mê, thiết tha và chủ động tham gia vào quá trình
khám phá tri thức, đồng thời thể hiện sự tương tác giữa sinh viên và giảng viên.
Thảo luận, học nhóm
Theo như nghiên cứu của sinh viên tài chính ngân hàng thì sinh viên tổ chức
học nhóm và ôn luyện áp dụng kiến thức xác thực tế chỉ chiếm 6,5% một con số
quá thấp. Hiện tại, hầu hết các trường đại học giảng dậy theo tín chỉ, đại học
thương mại cũng đang đào tạo theo tín chỉ. Cách đào tạo theo tín chỉ chỉ đòi hỏi
bản thân sinh viên tự học và tìm tài liệu phục vụ cho môn học là chính còn
giảng viên chỉ định hướng cách học, cung cấp một số tài liệu mà các thầy cô có
cho sinh viên.
3.2.1.5
Làm việc theo nhóm là một phần bổ sung quan trọng cho các bài giảng . Các
môn học bây giờ ngày càng có xu hướng tham gia thỏa luận nhóm nhiều hơn. Càng
là sinh viên khối ngành kinh tế thì tham gia học nhóm là một hoạt động cần thiết và
sẽ đem lại nhiều bổ ích cho việc học tập.
Thông qua việc học nhóm, sinh viên có thể tự đánh giá được thực sự của bản thân
mình đã có và chưa có gì? Cái gì mình tốt thì chia sẻ cho mọi người còn cái gì
mình thiếu sót có thể học hỏi các thành viên trong nhóm. Cũng nhờ hoạt động và
học tập theo nhóm, mỗi sinh viên có thể rèn thêm cho bản thân khả năng đứng nói
trước mọi người và phát triển thêm nhiều mối quan hệ bạn bè.
3.2.1.6
Muốn việc học theo nhóm có hiệu quả thì:
+ sinh viên cần tự nâng cao ý thức học tập.
+ các nhóm tham gia hoạt động nhóm cần nghiêm túc, làm việc có hiệu quả.
+ sôi nổi bàn luận, đưa ra chính kiến của mình và phải có tính dân chủ.
•
Ưu điểm
Phương pháp học: Môi trường học tập, làm việc theo nhóm tạo điều kiện cho sinh
viên trao đổi thông tin và suy nghĩ của mình với nhóm từ đó đưa ra những thảo
luận và nhận xét mang tính khách quan và khoa học hơn.
- Cơ sở vật chất: Trường hiện nay được đầu tư tốt về cơ sở vật chất như phòng học,
trang thiết bị, máy móc hỗ trợ học tập; hệ thống thư viện với nguồn tài liệu tham
khảo phong phú, dồi dào, wifi miễn phí ở thư viện là cơ sở thuận lợi ban đầu để
sinh viên có được môi trường học tập tốt, cập nhật thông tin trong và ngoài nước
phục vụ cho học tập và nghiên cứu.
- Giảng viên: Sinh viên có cơ hội không những được giảng dạy với những giảng
viên lớn tuổi giàu kinh nghiệm giảng dạy và nghiên cứu thực tiễn mà còn được
truyền đạt bời những giảng viên trẻ, tâm huyết với nghề, được đào tạo ở các nước
tiên tiến, truyền tải kịp thời những bài học và kinh nghiệm tiên tiến trên thế giới.
Bên cạnh đó, cách dạy học chủ động, đòi hỏi sự tương tác hai chiều của các giảng
viên hiện nay tạo điều kiện cho sinh viên phát huy được những ý kiến, suy nghĩ
của bản thân, khơi dậy tính sáng tạo và ham học hỏi, năng động trong nghiên cứu
của sinh viên.
• Nhược điểm
-
-
Ý thức học tập: Khi sinh viên sống xa nhà, thì không còn lo lắng về giờ giới
nghiêm, không phải bận tâm tìm lý do để đi chơi cùng bạn bè, không phải nghe
những lời phàn nàn khi lỡ “ nướng” tới trưa... Nhưng cũng chính vì sự tự do đó mà
Giảng viên: Với mức khảo sát chiếm 48,4% sinh viên cho rằng cách giảng dạy của
giảng viên tập trung quá nhiều vào lý thuyết nên dẫn đến khó hiểu và nhàm chán.
Vậy nên để tránh tình trạng nhàm chán khó tiếp thu của sinh viên thì giảng viên
nên đưa thêm nhiều tình huống thực tiễn, kết hợp lý thuyết liên hệ thực tiễn để sinh
viên dễ tiếp thu kiến thức hơn.
-
Vấn đề làm thêm: rất nhiều bạn sinh viên ngay từ năm nhất đã quyết định đi làm
thêm để có thêm thu nhập, gánh bớt khoản tiền bố mẹ gửi cho mình hàng tháng.
Đó cũng là việc tốt, nhưng có nhiều bạn ham làm, dẫn đến gián đoạn việc học.
3.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới KQHT
3.3.1 Ý thức học tập
Ý thức học tập: Đa số sinh viên đều ý thức được việc học của mình sau này ra
trường để có một công việc ổn định ( với mức khảo sát chiếm 87,1%) và mục tiêu
kết quả học trong trường hầu như đều mong muốn đạt loại khá trở lên (83,9%).
3.2.3
Phương pháp học tập
Phương pháp học tập có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của học sinh, sinh
viên nói chung cũng như sinh viên khoa Tài chính- Ngân hàng trường Đại học
Thương mại nói riêng, đặc biệt là vấn đề tự học. Bởi ngày nay, sự khác biệt giữa
giáo dục phổ thông và giáo dục đại học rấtquan trọng. Nếu giáo dục phổ thông là
học sinh học ở thầy cô giáo và trên lớp nhiều thì ở giáo dục Đại học các sinh viên
đôi khi phải tự tìm tài liệu và tự học là chính nên chỉ có thời gian tự học sinh viên
mới có thể nâng cao và cải thiện kết quả học tập.
29
2
6,5
31
100
38,7% sinh viên học 1 mình và chỉ ôn tập trước khi thi 1-2 tuần, chiếm tỷ lệ
cao nhất.
25,8% sinh viên kết hợp vừa học vừa chơi, thường xuyên nghiên cứu them
các sách tham khảo.
29% sinh viên cho biết rằng khi cảm thấy hứng thú thì học và chỉ học trên
giáo trình, đề cương.
6,5% sinh viên tổ chức học nhóm, ôn luyện, áp dụng kiến thức với thực tế,
chiếm tỷ lệ thấp nhất
Như vậy qua khảo sát chúng ta thấy rằng, hầu hết sinh viên không có
phương pháp học tập, hay phương pháp học tập không khoa học. Điều này
ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập. Vì vậy, chúng ta cần tìm ra các giải
pháp để nâng cao chất lượng của học tập của sinh viên nói chung và của bản
than nói riêng.
3.2.4
Phương pháp giảng dạy của giáo viên
Giảng viên là người vô cùng quan trọng trong suốt quá trình học tập của sinh viên.
Họ là người mang tri thức và dẫn dắt người học tiếp cận tri thức. Việc xây dựng
sinh viên đã thu được kết quả từ tổng 32 sinh viên khoa Tài chính ngân hàng như
sau:
Bảng 5:
Giảng viên
Qúa tập trung vào lý thuyết
Yêu cầu quá khắt khe
Thầy cô tích cực, bài giảng dễ hiểu
Bài học áp dụng thực tiễn, có ích và thú vị
Số lượng sinh viên làm
khảo sát
15
2
11
4
Tỷ lệ
(%)
48,4 %
6,5 %
35,5 %
12,9%
- Đứng nhất về số lượng sinh viên lựa chọn là 48,4% sinh viên cho rằng giáo viên
giảng dạy quá tập trung vào lý thuyết nên rất khó hiểu và nhàm chán
- Chiếm số phiếu lớn thứ 2 là 35,5% sinh viên cho rằng bài giảng dễ hiểu, thầy cô
giảng dạy tích cực
- Tiếp theo và 12,9 % sinh viên cho rằng thầy cô luôn tạo cho sinh viên những bài
học bổ ích và thú vị
Thương Mại,cụ thể là khoa Tài chính –Ngân hàng với các vấn đề về cơ sở vật
chất của nhà trường như:máy chiếu trên phòng học,hệ thống quạt đèn ở các
phòng học,tài liệu tham khảo,máy tính cá nhân….
Bảng 6: Mức độ ảnh hưởng cụ thể như sau:
Đáp ứng ĐKCSVC
Rất tốt
(%)
0
0
0
Máy chiếu
Quạt
Tài liệu trên thư viện
Tốt
(%)
9.7
7.1
12.9
Mức độ
Trung bình
(%)
51.6
61.3
74.2
Kém
Nhiều
(%)
48.4
Mức độ
Trung bình
Ít ảnh
(%)
hưởng (%)
19.4
16.1
Không ảnh
hưởng
6.4
Qua việc điều tra và dựa vào các bảng trên, thì điều kiện vật chất cũng có ảnh
hưởng đến việc học của sinh viên hay cụ thể là kết quả học tập của sinh viên, đa số
đều được sinh viên đánh giá ở mức độ trung bình, vì thế nên tạo điều kiện để phát
triển hơn nữa cơ sở vật chất để giúp sinh viên cải thiện được kết quả học tập.
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu đã đáp ứng được mục đích nghiên cứu, đã xác nhận được các
yếu tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến KQHT của sinh
viên gồm: ý thức học tập, động lực học tập, thời gian tự học, phương pháp học tập,
phương pháp giảng dạy của GV, điều kiện cơ sở vật chất.
-
-
KHUYẾN NGHỊ
KQHT của sinh viên đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình học tập của
sinh viên, nếu không đạt tới mức điểm nhà trường quy định, không tích lũy đủ số
tín chỉ thì sinh viên sẽ không thể tốt nghiệp ra trường được. Nghiên cứu này tập
trung tìm hiểu ảnh hưởng của yếu tố nhà trường và bản thân sinh viên với KQHT.
Từ kết quả nghiên cứu, nhóm xin đưa ra một số khuyến nghị:
•
•
•
Về phía nhà trường: Tăng cường công tác tư vấn tuyển sinh để sinh viên
giúp SV hiểu và lựa chọn ngành học phù hợp với bản thân, tạo động lực giúp
SV yêu ngành, yêu nghề. Đồng thời tạo cho SV có phương pháp học hiệu
quả, định hướng tuyên truyền ý thức tự học cho SV ngay từ khi bước chân
vào cổng trường đại học như tổ chức hội thảo về phương pháp học tập hiệu
quả, hội thảo về nâng cao năng lực học tập cho SV. Bên cạnh đó nhà trường
cần quan tâm đến việc đổi mới phương pháp dạy học theo năng lực của SV,
tổ chức các cuộc hội thảo, tập huấn về đổi mới phương pháp dạy học cho
đội ngũ GV trường.
Về phía giảng viên: GV cần hạn chế phương pháp giảng dạy theo kiểu độc
thoại một chiều, giảng viên cần tạo dựng cho SV phương pháp học tập khoa
học, hiệu quả như cần đề ra mục tiêu học tập, hướng dẫn SV xây dựng kế
hoạch học tập. Thông qua nội dung bài học GV cần giúp SV hiểu được vấn
đề về ngành học của mình tạo thêm động lực cho SV yêu ngành nghề hơn,
tạo cho sự hứng thú, say mê học tập. Tránh tình trạng SV nhàm chán, GV