Đánh giá tác động vốn vay thuộc chương trình khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đến thu nhập của người nông dân, huyện bình chánh - Pdf 43

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bình Chánh là một trong 05 huyện ngoại thành, có tổng diện tích tự nhiên là
25.255,29 ha. Tính đến năm 2013 dân số trung bình của huyện đạt 446.084 người.
Trong đó, hơn 70% dân số chủ yếu sinh sống bằng nghề nông. Theo quy hoạch sản
xuất nông nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm
2025, Huyện Bình Chánh được xác định phải duy trì quỹ đất sản xuất nông nghiệp
và phát triển nông nghiệp theo hướng đô thị, sản xuất hàng hóa tập trung, mang tính
cạnh tranh, hiện đại, bền vững.
Chương trình khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai đoạn
2008-2013 nhằm thực hiện chủ trương của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hình thành nền nông
nghiệp đô thị năng suất cao, sản xuất tập trung, phát triển bền vững. Đẩy mạnh ứng
dụng công nghệ sinh học, từng bước hình thành trung tâm giống cây trồng, vật nuôi
cho cả khu vực
Mục tiêu của chương trình này là trong giai đoạn 2008-2013, Thành phố sẽ
xoá bỏ những mô hình sản xuất nông nghiệp lạc hậu, năng suất thấp và thay vào đó
là cơ cấu mới, được áp dụng nhiều phương thức kỹ thuật sản xuất tiên tiến, đem đến
kết quả cao hơn. Cụ thể là tại các địa bàn trọng điểm của chương trình khuyến khích
chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến năm 2013 sẽ phấn đấu đạt giá trị sản xuất nông
nghiệp bình quân 100 triệu đồng/ha/năm.
Nhằm để hỗ trợ kịp thời cho bà con nông dân trong việc hỗ trợ lãi suất để
chuyển đổi cây trồng vật nuôi và nâng cao thu nhập đời sống tốt hơn. Ủy ban nhân
dân Thành phố đã ban hành Quyết định số 105/2006/QĐ-UBND ngày 17 tháng 7
năm 2006 “về việc ban hành quy định về khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp giai đoạn 2008-2013”.


2

chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2008-2013 trên địa bàn huyện
Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Nghiên cứu, đánh giá quá trình vay vốn của các hộ dân theo
Chương trình khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn
huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về thời gian: Các số liệu, tài liệu phục vụ đánh giá thực trạng địa bàn được thu
thập chủ yếu từ năm 2008 đến năm 2013 tại huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí
Minh.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện bằng cách tiếp cận các khung lý thiết và mô hình về
vay vốn chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phân tích thực trạng chương trình
vay vốn chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện Bình Chánh,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Bên cạnh vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trong
nghiên cứu, luận văn cũng kết hợp sử dụng phương pháp thống kê, so sánh và phân
tích.


4

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG VỐN VAY THUỘC CHƯƠNG TRÌNH
KHUYẾN KHÍCH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP ĐẾN
THU NHẬP CỦA HỘ NÔNG DÂN
Cơ sở lý luận
1.1.1. Khung sinh kế bền vững

Đề tài nghiên cứu dựa trên ứng dụng khung sinh kế bền vững của Bộ phát triển

Ảnh
hưởng
và khả
năng
tiếp
cận

Chiến
lược sinh
kế:

Tài sản sinh kế:
Nhân
lực

Tự
nhiên

- Nông
nghiệp
- Phi
nông
nghiệp.

Con
người

Vật chất

Tài chính

1.1.2. Những yếu tố cấu thành tổng thu nhập của hộ gia đình
Theo Strauss (1986), thu nhập của hộ gia đình gồm thu nhập từ nông nghiệp
và thu nhập từ phi nông nghiệp.
Thu nhập nông nghiệp là thu nhập từ việc đầu tư đất đai, lao động và vốn các
hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Lợi nhuận từ nông nghiệp có thể tính vào hàm số sản xuất, giá trị thu về từ
sản xuất, giá trị thu về từ sản xuất nông nghiệp là một hàm số của đất, lao động và
những yếu tố đầu vào khác, lao động hay nguồn lực của gia đình phụ thuộc vào
những đặc điểm của gia đình. Jolliffe (1998) đã đề nghị mô hình sau để tính thu nhập
từ nông nghiệp.
π f = π (AF, XF, PF)
AF: giá trị đất canh tác và những thiết bị dành cho sản xuất nông nghiệp


6

XF: đặc điểm của nông hộ (trình độ học vấn, tuổi, giới tính…)
PF: giá cả của yếu tố đầu vào và đầu ra
Thu nhập từ những hoạt động phi nông nghiệp gồm từ việc làm công ăn lương
là những thu nhập có được từ việc làm các ngành nghề thủ công, các nghề khác như
làm thuê, làm mướn cho các xí nghiệp, nhà máy…
Cũng theo Jolliffe (1998), các khoản thu nhập này cũng có thể biểu diễn qua
mô hình sau:
π f = π (A0, X0, P0)
A0: vốn, tài sản mà gia đình đầu tư vào sản xuất
X0: đặc điểm của nông hộ (trình độ học vấn, tuổi, giới tính…)
P0: giá cả của yếu tố đầu vào và đầu ra
Theo từ điển Tiếng Việt, “hộ” đơn vị quản lý dân số ở Việt Nam, bao gồm
những người có mối quan hệ về gia đình cùng ở chung một nhà, được cơ quan quản
lý cấp cho một sổ hộ khẩu ghi rõ tên, ngày sinh, nghề nghiệp của từng người.

nông thôn, đồng thời là một trong những ngành cơ bản của nên kinh tế quốc dân. Vì
vậy, nó vừa chịu sự chi phối của nền kinh tế quốc dân vừa gắn bó chặt chẽ với các
ngành khác, vừa phản ánh những nét riêng biệt mang tính đặc thù của một ngành mà
đối tượng sản xuất là những cơ thể sống.
- Ngành nông nghiệp (theo nghĩa hẹp): bao gồm trồng trọt và chăn nuôi, trong
trồng trọt được phân ra trồng cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả…ngành
chăn nuôi gồm có chăn nuôi gia súc, gia cầm…những ngành trên có thể phân ra
thành các ngành nhỏ hơn, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình
phát triển và tạo thành cơ cấu nông nghiệp.
1.1.3.2. Vai trò của sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân theo hướng
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Vai trò của nông nghiệp đối với nền kinh tế quốc dân được thể hiện ở một số
điểm sau:


8

Nông nghiệp là ngành sản xuất quan trọng trong quá trình sản xuất tư liệu tiêu
dùng thiết yếu cho con người như lương thực, thực phẩm và nguyên liệu cho công
nghiệp mà không một ngành nào có thể thay thế được.
Nông nghiệp có ảnh hưởng đến sự tăng trưởng, góp phần đáng kể vào tích lũy
ban đầu cho sự nghiệp phát triển đất nước, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các
nước đang phát triển như nước ta hiện nay.
Nông nghiệp có ảnh hưởng đến nhiều ngành kinh tế quốc dân, đặc biệt là
ngành công nghiệp, sự phát triển ổn định, vững chắc của nông nghiệp có ý nghĩa
quyết định đối với ngành công nghiệp, dịch vụ và toàn bộ nền kinh tế quốc dân, việc
giải quyết đủ lương thực cho nhu cầu trong nước và để xuất khẩu được coi là nền
tảng quan trọng nhất cho sự ổn định nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế. Ngoài lương thực và thực phẩm, nông nghiệp còn cung cấp nhiều loại
nguyên liệu cho các ngành công nghiệp, đặc biệt là ngành công nghiệp chế biến

Ngoài những đặc điểm trên, thì sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam còn có đặc
điểm riêng như sau:
Việt Nam là một nước đất hẹp, người đông, bình quân diện tích đất canh tác
đầu người thấp, chỉ khoảng 0.11ha/ người.
Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm,
tạo điều kiện thuận lợi cho các loại cây con phát triển, khí hậu Việt Nam lại có sự
phân hóa theo hướng Bắc – Nam tạo cơ hội để phát triển nhiều loại cây trồng, vật
nuôi khác nhau, kể cả những loại cây ôn đới. Tuy nhiên, bên cạnh đó Việt Nam cũng
là nơi gánh chịu nhiều thiên tai, bão, lũ,…điều đó cũng tác động không nhỏ đến sản
xuất nông nghiệp.
Sản xuất nông nghiệp mang nặng thế độc canh lúa nước và trồng trọt vẫn
chiếm ưu thế trong sản xuất nông nghiệp, cơ cấu kinh tế nông nghiệp tồn tại bất hợp
lý trong thời gian dài.


10

Nền nông nghiệp Việt Nam đang chuyển dần từ nền kinh tế tự cấp, tự túc
sang nền nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn gắn với thị trường theo xu hướng hội
nhập Quốc tế.
1.1.4. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.1.4.1. Khái niệm cơ cấu kinh tế nông nghiệp
- Cơ cấu kinh tế
Sự phát triển sản xuất dẫn đến quá trình phân công lao động, tùy vào tính chất
sản phẩm, chuyên môn kỹ thuật mà chia thành từng ngành, lĩnh vực khác nhau,
nhưng trong nền sản xuất, các ngành, các lĩnh vực này không thể hoạt động một cách
độc lập mà phải có sự tương tác qua lại lẫn nhau, hỗ trợ nhau, tùy thuộc vào nhau,
thúc đẩy nhau cùng phát triển. Từ đó, đòi hỏi nhận thức đầy đủ về mối quan hệ giữa
các bộ phận, sự phân công và mối quan hệ hợp tác trong hệ thống thống nhất là tiền
đề cho quá trình hình thành cơ cấu kinh tế.

hoàn toàn nó.
Mặt khác, mỗi cơ cấu kinh tế lại mang tính lịch sử xã hội nhất định, cơ cấu
kinh tế được hình thành khi quan hệ giữa các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế được
thiết lập một cách cân đối và sự phân công lao động diễn ra một cách hợp lý.
+ Xu hướng vận động của cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế luôn vận động nhưng là sự vận động trong mối quan hệ cân
đối ổn định, các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế luôn biến đổi, phá vỡ thế cân bằng
và lại được điều chỉnh để tạo ra sự cân đối ổn định.
Xu hướng vận động của nền kinh tế thế giới là tăng tỷ trọng của các ngành
công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong nên kinh tế quốc
dân, nói như vậy có nghĩa là về giá trị sản lượng tất cả các ngành đều phải tăng lên
để đáp ứng nhu cầu của con người và sự gia tăng dân số, song về cơ cấu tỷ trọng
giữa các bộ phận phải có sự thay đổi nghĩa là sự phát triển của ngành công nghiệp và
dịch vụ sẽ nhanh hơn sự phát triển của ngành nông nghiệp.


12

Hiện nay ở nhiều nước trên thế giới, quá trình CNH, HĐH đã giúp các nước
này sản xuất ra một khối lượng hàng hóa tương đối lớn vì vậy trong cơ cấu kinh tế
của họ các ngành sản xuất như nông nghiệp và công nghiệp có xu hướng giảm mạnh,
trong khi đó các ngành dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân lại tăng lên nhanh chóng.
Còn ở nước ta, do đang trong quá trình CNH, HĐH nên các ngành công
nghiệp – xây dựng, dịch vụ cần phải tăng nhanh hơn nữa để xây dựng nước ta cơ bản
trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020.
Riêng trong ngành nông nghiệp, vừa phải giảm tỷ trọng của ngành trong nền
kinh tế, vừa thay đổi cơ cấu bên trong của ngành theo hướng giảm tỷ trọng ngành
trồng trọt, tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, thủy sản.
1.1.4.2. Đặc trưng cơ bản của cơ cấu kinh tế nông nghiệp
- Mang tính khách quan

trọng ở chỗ phải bắt đầu từ đâu, với những biện pháp nào, khâu nào để có thể gây
phản ứng dây chuyền tạo ra bước phát triển mới tổng thể nền kinh tế quốc dân.
1.1.4.3. Nội dung của cơ cấu kinh tế nông nghiệp
- Một là theo cơ cấu ngành
+ Ngành nông nghiệp theo nghĩa rộng: Là tổ hợp các ngành gắn liền với quá
trình sinh học gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp, khi phân tích đãnh giá
cơ cấu kinh tế thì tiêu chí, cơ cấu ngành thường được coi trọng nhất bởi vì nó phản
ánh trình độ phát triển của phân công lao động xã hội, lực lượng sản xuất càng phát
triển, phân công lao động xã hội càng sâu sắc thì càng có nhiều ngành kinh tế hình
thành và phát triển đa dạng khác nhau. Ở nước ta cho đến nay, về cơ bản vẫn là một
nước nông nghiệp cho nên sự phát triển của nông nghiệp giữ vai trò quyết định trong
kinh tế nông thôn, đồng thời là một trong những ngành cơ bản của nền kinh tế quốc
dân. Vì vậy, nó vừa chịu sự chi phối của nền kinh tế quốc dân vừa gắn bó chặt chẽ
với các ngành khác, vừa phản ánh những nét riêng biệt mang tính đặc thù của một
ngành mà đối tượng sản xuất là những cơ thể sống.
+ Ngành nông nghiệp theo nghĩa hẹp: Bao gồm trồng trọt và chăn nuôi, trong
trồng trọt được phân ra trồng cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả…Ngành


14

chăn nuôi gồm có chăn nuôi đại gia súc, gia súc, gia cầm…Những ngành trên có thể
phân ra thành các ngành nhỏ hơn, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau trong
quá trình phát triển và tạo thành cơ cấu nông nghiệp. Hiện nay, trong cơ cấu nông
nghiệp có hay vấn đề quan trọng là cơ cấu hợp lý giữa trồng trọt và chăn nuôi, giữa
trồng cây lương thực và cây công nghiệp, cây ăn quả, cây thực phẩm, chuyển từ
trạng thái độc canh cây lương thực sang đa canh cây trồng là xu hướng khách quan
nhằm sử dụng hợp lý các điều kiện và các nguồn lực như đất đai, lao động, tăng thu
nhập cho người lao động, đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội cũng như phát huy
được một cách triệt để tiềm năng, lợi thế của từng địa phương trong quá trình phát

Trong đó, kinh tế hộ gia đình nông dân là chủ yếu và đang chiếm vai trò quan trọng
trong đời sống kinh tế nông nghiệp.
Ngoài 03 loại cơ cấu chính nêu trên, trong sản xuất nông nghiệp còn có các
loại cơ cấu khác như cơ cấu vụ mùa, cơ cấu kỹ thuật, cơ cấu công nghệ sử dụng
trong nông nghiệp…
- Cơ cấu vụ mùa, nói lên thời điểm gieo trồng các loại cây, chu kỳ sinh trưởng
và thu hoạch chúng, việc bố trí mùa vụ cho từng loại cây phụ thuộc vào các yếu tố
chính như thời tiết, đất đai, đặc điểm sinh học của giống cây trồng, tiến bộ khoa học
kỹ thuật…Trong sản xuất nông nghiệp, sự thay đổi cơ cấu mùa vụ cũng bao hàm sự
thay đổi cơ cấu cây trồng và góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp.
- Cơ cấu kỹ thuật, trong thời hạn dài cũng giống như cơ cấu thành phần kinh
tế, cơ cấu kỹ thuật trong nông nghiệp nước ta mang nặng tính chất cổ truyền, nông
nghiệp truyền thống lạc hậu, phân tán, manh mún và có tính bảo thủ, kỹ thuật mang
tính cha truyền con nối, tự đào tạo và truyền khẩu những kinh nghiệm trong phạm vi
từng gia đình. Vì vậy, sản xuất nông nghiệp lệ thuộc vào tự nhiên, cơ cấu kỹ thuật
chậm chuyển biến, đứng trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, sự phát triển
mạnh mẽ của công nghiệp tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ đã tác động vào nông
nghiệp làm phá vỡ tính cổ truyền, lạc hậu và trì trệ, làm cho tính truyền thống giảm
mạnh, công nghiệp hòa nhập vào nông nghiệp, kinh tế nông nghiệp có sự kết hợp


16

của kỹ thuật truyền thống đang xen với kỹ thuật tiến tiến hiện đại. Từ đó, làm cho cơ
cấu kỹ thuật trong nông nghiệp nước ta trong những năm qua chuyển biến mạnh mẽ.
- Cơ cấu công nghệ, nói lên tỷ trọng và mức độ áp dụng các loại công nghệ
trong sản xuất nông nghiệp như công nghệ lạc hậu, tiên tiến và hiện đại. Ngày nay,
dưới sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ nói chung và trong lĩnh vực

sự thay đổi số lượng các ngành nông, lâm, ngư nghiệp, hoặc mối quan hệ tỷ lệ giữa
các ngành, các vùng, các thành phần do sự xuất hiện hoặc biến mất của một số ngành
và tốc độ tăng trưởng giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế là không đồng đều.
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải dựa trên cơ sở một cơ cấu
hiện có, do đó nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế mới tiên tiến, hoàn thiện và
bổ sung cơ cấu kinh tế cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn. Như vậy,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực chất là sự điều chỉnh cơ cấu trên các mặt biểu hiện
của cơ cấu, nhằm hướng sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế theo các mục tiêu kinh
tế – xã hội đã xác định cho từng thời kỳ phát triển.
- Mục đích của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp cần được tiến hành khẩn
trương, mục đích của chuyển dịch là tạo ra sự cân đối giữa nông nghiệp và các ngành
kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân, đồng thời tạo dựng một ngành nông nghiệp
có cơ cấu hợp lý, qua đó phát huy mọi tiềm năng sản xuất, lợi thế so sánh của từng
vùng, từng miền và trên cả nước nhằm phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa
lớn, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân, nâng cao thu nhập và mức sống cho
người nông dân ở nông thôn.
- Các điều kiện đảm bảo cơ cấu kinh tế hợp lý.
Cơ cấu kinh tế phải phù hợp với quy luật khách quan.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải phù hợp với xu thế kinh tế chính trị của khu
vực và trên thế giới. Bối cảnh thế giới và trong nước hiện nay đòi hỏi nền nông
nghiệp Việt Nam phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm thích ứng sự
biến động của quan hệ cung – cầu nông sản hàng hóa ở cả thị trường trong nước và
thế giới trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.


18

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải phán ánh khả năng khai thác các điều kiện tự
nhiên và lợi thế so sánh của từng vùng, từng miền và trong cả nước đáp ứng được

“Thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.
Sự nghiệp CNH, HĐH ngày nay mà Đảng ta đã chỉ ra là: “Quá trình chuyển đổi căn
bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và quản lý kinh tế – xã
hội, từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao
động với công nghệ, phương tiện tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển công nghệ
và khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”.
Với mục tiêu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp, có sơ sở vật
chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với
trình độ của lực lượng sản xuất, Đảng ta đặc biệt coi trọng vấn đề CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn đồng thời xác định rõ: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nông
nghiệp nông thôn là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, là nhiệm vụ trực tiếp của
giai cấp nông dân liên minh với giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh
đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước”.
Đại hội đảng toàn quốc lần thứ VIII đã khẳng định nước ta muốn phát triển
nhất thiết phải thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đại hội nhấn mạnh nội dung
cơ bản của CNH, HĐH giai đoạn hiện nay là: Đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn. Vì nó tạo tiền đề và cơ sở vững chắc thúc đẩy toàn bộ quá trình
CNH, HĐH nền kinh tế đất nước là mũi đột phá quan trọng nhằm giải phóng sức lao
động trong nông nghiệp hiện chiếm trên 70% lao động cả nước, tạo điều kiện khai
thác tốt tiềm năng dồi dào về lao động đất đai, CNH, HĐH nông nghiệp tạo điều
kiện giải quyết vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, tạo điều kiện để phát triển
năng lực sản xuất khuyến khích mọi lực lượng lao động trong các thành phần kinh tế
hướng vào sản xuất trong từng thời kỳ, chính việc tạo điều kiện giải quyết các mối
quan hệ trên là việc tác động vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vì chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nhằm thực hiện giải quyết các mối quan hệ trên. Do đó CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn là cơ sở để thực hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu,
chính tại văn kiện Đại hội IX của Đảng trong mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế
xã hội giai đoạn 2008 – 2013 đã lại tiếp tục khẳng định:




21

vùng và cơ cấu các thành phần kinh tế; huy động đồng bộ mọi điều kiện, mọi biện
pháp, mọi yếu tố để phát triển kinh tế.
Hai là, chú trọng cải tạo, nâng cao trình độ hiện đại của trang thiết bị hiện có,
đồng thời đổi mới quy trình công nghệ trong sản xuất và quản lý ở mọi ngành, mọi
lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội.
Nói cách khác, quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu
thành phần kinh tế theo hướng hợp lý và hiệu quả cao hơn đòi hỏi nền kinh tế phải
được CNH, HĐH. Ngược lại CNH, HĐH làm cho nền kinh tế tăng trưởng và thúc
đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Quan điểm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng và Nhà nước ta là giảm tỷ
trọng nông nghiệp trong cơ cấu nền kinh tế song vẫn coi trọng phát triển kinh tế
nông nghiệp, nông thôn: “Phát triển nông – lâm – ngư nghiệp gắn với công nghiệp
chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định
tình hình kinh tế – xã hội”


22

CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG VỐN VAY THUỘC CHƯƠNG TRÌNH KHUYẾN
KHÍCH CHUYỂN DICH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN BÌNH CHÁNH GIAI ĐOẠN 2008-2013
2.1. Tình hình nghiên cứu, giải quyết vấn đề nghiên cứu
2.1.1. Trên thế giới
Cơ cấu sản xuât ngành nông nghiệp ở mỗi nước thường là không giống nhau
nó phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của mỗi nước, ở các nước đang
phát triển, do lịch sử để lại cơ cấu nông nghiệp mang tính thuần nông độc canh là

canh phát triển chăn nuôi, trồng rừng, đa canh; tạo cho cư dân nông thôn cơ hội việc
làm và tăng thu nhập phi nông nghiệp. Quá trình phát triển kinh tế ở Hàn Quốc luôn
đi cùng với việc phát triển công nghiệp quy mô nhỏ theo hình thức vệ tinh ở nông
thôn phục vụ cho các tập đoàn công nghiệp lớn ở đô thị, phát triển công nghiệp đã
thu hút một lượng lớn lao động nông thôn ra thành thị, giải quyết cơ bản tình trạng
thất nghiệp nông thôn. Chính sách chuyển dịch lao động nông thôn Hàn Quốc tập
chung vào phát triển hạ tầng nông thôn đẩy mạnh công nghiệp hóa, đô thị hóa nông
thôn; ngay những năm đầu của thập kỷ 60, Hàn Quốc đã có chính sách khuyến khích
phát triển các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn để thu hút lao động nông nhàn,
trong đó chính sách tập trung vào khuyến khích các hoạt động chế biến nông sản.
Chính phủ cung cấp vốn và hỗ trợ kĩ thuật đối với các hoạt động tạo việc làm phi
nông nghiệp và việc tổ chức sản xuất theo hình thức hợp tác.
Ở Đài Loan, từ năm 1952 đã đẩy mạnh chính sách công nghiệp hóa nông
nghiệp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp để tạo thêm việc làm cho
người lao động. Từ đầu năm 1980 Đài Loan mở rộng quy mô trang trại, đồng thời
loại bỏ những ngành sản xuất làm tốn tài nguyên gây ô nhiễm môi trường, chuyển
sang các sản phẩm chất lượng cao như rau sạch, hoa, quả, nấm cao cấp, đánh bắt
cá...trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, nông nghiệp Đài Loan tăng trưởng
với mức trung bình nặng 4.4% /năm chủ yếu nhờ thâm canh tăng năng xuất bằng áp
dụng kỹ thuật mới mà không tăng thêm vật tư nông nghiệp. Để tạo việc làm và thu
nhập cho lao động, Đài Loan thực hiện chính sách chuyển đổi cơ cấu sản trong


24

ngành nông nghiệp để tạo thêm việc làm cho người lao động, Đài Loan tập trung
phát triển ngành nghề nông thôn và chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp để giải quyết
việc làm và giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Ở Trung Quốc năm 2008 đã ban hành Nghị quyết về Tam nông nhấn mạnh
tăng cường địa vị nền tảng của nông nghiệp, tăng cường sức phát triển kinh tế nông

Trong giai đoạn từ năm 1986 đến nay các Nghị Quyết đại hội
VI,VII,VIII,IX,X,XI Đảng ta luôn nhấn mạnh thực hiện nhất quán, lâu dài chủ
trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành, phần kinh tế thị trường có sự quản lý
kinh tế của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ trương đó trong nông
nghiệp được cụ thể và hoàn thiện trong các văn bản quan trọng mang tính lịch sử
như: Nghị quyết 10 của bộ chính trị khóa VI (5/4/1988) Nghị quyết 6 trung ương
khóa VI (3/1989), luật đất đai năm 1993, Nghị quyết 5 trung ương khóa VII
(6/1993), luật hợp tác xã (4/1996), đặc biệt là Nghị quyết số 26-NQ/TW của BCHTU
Đảng về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn(8/2008), chương trình mục tiêu quốc gia
xây dựng nông thôn mới...
Văn kiện đại hội đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: đẩy mạnh chuyển
dịch cơ cấu kinh tế chuyển đổi mô hình tăng trường, phát triển nông, lâm, ngư
nghiệp toàn diện theo hướng CNH, HĐH gắn với giải quyết vấn đề nông dân, nông
thôn, khai thác lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới để phát triển sản xuất hàng hóa
lớn với năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao.
Với mục đích cao nhất mà Đảng và Nhà nước là phải hướng tới, đó là công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta vì:
Nông nghiệp, nông thôn, nông dân là vấn đề có vị trí chiến lược, có vai trò to
lớn trong sự nghiệp đổi mới đất nước.
Phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn là giải pháp cơ bản để khắc phục
tình trạng tự cung tự cấp, đẩy mạnh được phân công lao động, giải quyết việc làm
nâng cao thu nhập cho người lao động.
Kinh tế nông nghiệp nông thôn vẫn còn nhiều mặt yếu kém, gây khó khăn, trở
ngại lớn cho CNH,HĐH đất nước đòi hỏi phải được khắc phục, giải quyết.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status