Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của người dân trong chương trình 135 ở huyện nho quan tỉnh ninh bình - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
BỘ GIÁO DỤC VÀTRƯỜNG
ĐÀO TẠOĐẠI HỌC LÂM
BỘ NGHIỆP
NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
----------------------------TRƯỜNG
ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-----------------------------

TRƯƠNGHOÀNG
HOÀNGTHUẬN
THUẬN
TRƯƠNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA
NGƯỜI DÂN TRONG CHƯƠNG TRÌNH 135 Ở
NHONHẰM
QUANNÂNG
- TỈNHCAO
NINH
BÌNH
MỘT SỐHUYỆN
GIẢI PHÁP
VAI
TRÒ CỦA
NGƯỜI DÂN TRONG CHƯƠNG TRÌNH 135 Ở
HUYỆN NHO QUAN - TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp
Mã số: 60.31.10


Khu vực nông thôn, miền núi hiện vẫn đang giữ một vị trí chiến lược hết
sức quan trọng trong quá trình phát triển KT-XH của nước ta. Hiện nay nông
thôn vẫn chiếm phần lớn dân số và diện tích của cả nước và kinh tế nông nghiệp
đang đóng góp khoảng 24% tổng thu nhập quốc dân, 30% giá trị xuất khẩu.
Xuất phát từ vị trí chiến lược của nông thôn và miền núi, trong quá
trình đổi mới và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước chủ trương đẩy mạnh
CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông
nghiệp, nông thôn và nông dân, trong đó trọng tâm là chăm lo đời sống của
người nông dân. Vì vậy, Đảng và Nhà nước đã có nhiều nỗ lực huy động cho
sự phát triển của nông thôn và miền núi, như nguồn lực về vốn, phương tiện
vật chất - kỹ thuật, đặc biệt là việc phát huy nguồn lực con người. Đối với
miền núi, Đảng và Nhà nước đã triển khai thực hiện nhiều chương trình phát


2

triển KT-XH như: Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg về Phê duyệt chương
trình phát triển KT-XH các xã miền núi và vùng sâu, vùng xa (Chương trình
135); Nghị quyết số 37-NQ/TW về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội
và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng trung du miền núi Bắc Bộ đến năm
2010; việc triển khai thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia như:
chương trình xoá đói giảm nghèo, chương trình nước sạch và vệ sinh môi
trường nông thôn... Những quyết sách hết sức sáng suốt đó đã mở đường cho
sự phát triển vượt bậc, khá toàn diện của nông nghiệp và nông thôn Việt Nam
trong những năm qua, mà nổi bật là sự tăng trưởng liên tục với nhịp độ cao về
sản xuất lương thực và xuất khẩu gạo. Thành tựu về phát triển nông nghiệp đã
góp phần quan trọng tạo nên thành tựu chung của công cuộc đổi mới, sự ổn
định và phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
Huyện Nho Quan là một huyện miền núi của tỉnh Ninh Bình, thực hiện
đường lối đổi mới của Đảng, các cấp bộ Đảng, chính quyền và nhân dân trong

2.1. Mục tiêu tổng quát.
Đánh giá và đề xuất được những giải pháp nhằm tăng cường sự tham
gia của người dân trong các chương trình phát triển nông thôn tại địa bàn
huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình.
2.2. Mục tiêu cụ thể.
- Hệ thống hoá được cơ sở lý luận và thực tiễn Việt Nam về chương
trình phát triển nông thôn và vai trò của người dân trong phát triển kinh tế xã
hội ở nông thôn.
- Giới thiệu tổng quan về chương trình phát triển kinh tế xã hội ở các xã
đặc biệt khó khăn ( chương trình 135 ) và đặc thù chương trình 135 ở huyện
Nho Quan tỉnh Ninh Bình.
- Đánh giá được vai trò của người dân trong quá trình thực hiện chương
trình 135 tại địa bàn huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình.
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò và sự tham gia
của người dân trong quá trình thực hiện chương trình 135 tại huyện Nho Quan
tỉnh Ninh Bình.


4

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các hoạt động của
người dân trong việc xây dựng kế hoạch, thực hiện và giám sát thực hiện
chương trình 135 tại huyện Nho Quan.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò và sự tham gia của
người dân trong chương trình 135, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao
vai trò của người dân trong chương trình.
+ Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu các hoạt động của người dân
trong chương trình 135 trên địa bàn huyện Nho Quan - tỉnh Ninh Bình.

còn thấp so với thành thị ,diện tích rộng, mức đầu tư cho nông thôn không lớn.
Thu nhập và đời sống của người dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo đói thì cao. Khu
vực nông thôn trải dài trên địa bàn rộng lớn nên chịu nhiều ảnh hưởng của
điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội.
- Nông thôn được quan niệm khác nhau ở mỗi nước vì điều kiện kinh
tế - xã hội, điều kiện tự nhiên ở mỗi nước khác nhau. Cho đến nay chưa có
một khái niệm nào được chấp nhận một cách rộng rãi về nông thôn. Để có
được khái niệm nông thôn, thông thường người ta so sánh nông thôn và
thành thị. Trong khi so sánh:
Có ý kiến dùng chỉ tiêu mật độ dân số và số lượng dân cư
Có ý kiến dùng chỉ tiêu trình độ phát triển kết cấu hạ tầng để phân biệt
thành thị và nông thôn.
Có ý kiến dùng chỉ tiêu phát triển sản xuất hàng hoá tiếp cận thì trường
để phân biệt thành thị và nông thôn (điều này còn phụ thuộc vào cơ chế kinh
tế của mỗi nước).
Có ý kiến cho rằng vùng nông thôn là vùng mà dân cư ở đó làm nông
nghiệp là chủ yếu (nó phụ thuộc vào cơ cấu kinh tế của vùng).
Qua một số ý kiến trên nếu dùng chỉ tiêu riêng lẻ thì chỉ thể hiện từng


6

mặt của vùng nông thôn mà chưa thể hiện vùng nông thôn một cách đầy đủ.
Theo ý kiến phân tích của các nhà kinh tế và xã hội học có thể đưa ra
khái niệm tổng quát về nông thôn như sau: (1)
Nông thôn là vùng khác với thành thị, ở đó một cộng đồng chủ yếu là
nông dân sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, có kết cấu hạ tầng kém
phát triển hơn, có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất
hàng hóa kém hơn.
Tuy nhiên khái niệm trên cần được đặt trong điều kiện thời gian và

dụng các nguồn lực khan hiếm, nhằm tạo ra sản phẩm hay dịch vụ, trong thời
gian xác định nhằm thoã mãn mục tiêu nhất định và đầu tư một lần có tác
dụng lâu dài. Dự án bao gồm đầu vào (kinh phí, thời gian, nhân lực, vật
lực…), các hoạt động dự án được thực hiện trong môi trường (tự nhiên, xã hội,
chính trị và kinh tế), các đầu ra (sản phẩm và dịch vụ) để thoả mãn nhu cầu
mong muốn. Tuỳ theo mục đích, dự án có thể chia thành 3 loại: Dự án đầu tư
kinh doanh; dự án nghiên cứu; dự án phát triển.
- Dự án phát triển nông thôn: Dự án phát triển nông thôn là một quá
trình thay đổi có chủ ý về kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường nhằm nâng
cao chất lượng đời sống của người dân địa phương. Với khái niệm này, cả thế
giới đã biết và đã thực hiện theo, họ công nhận phát triển nông thôn là một
quá trình, có nghĩa là cần có thời gian, không thể một sớm một chiều mà đạt
mục tiêu của phát triển nông thôn mới toàn diện, bền vững được.(1)
1.1.2.Tổng quan về các chương trình phát triển nông thôn
1.1.2.1. Quan điểm phát triển nông thôn của Đảng và Nhà nước ta
Trong những năm gần đây trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước,
Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề phát triển nông thôn. Quan
điểm về phát triển nông thôn của Đảng và Nhà nước ta là:
- Phát triển nông thôn phải đảm bảo đồng bộ cả về mặt kinh tế, xã hội
và môi trường. Phát triển nông thôn là một vấn đề phức tạp và rộng lớn, đầu
tư nhiều nguồn lực do đó phải làm sao có hiệu quả.
+ Hiệu quả kinh tế: Phát triển nông thôn nhằm đảm bảo sản xuất ngày
càng nhiều nông sản phẩm với giá thành hạ, chất lượng sản phẩm tăng, năng
PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông (chủ biên)- Giáo trình quy hoạch PTNT- Trường ĐH Thái Nguyên – NXB
Nông Nghiệp, Hà Nội - 2004.
(1)


8



9

nông nghiệp đi đôi với phát triển công nghiệp và dịch vụ. Thực hiện chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH khu vực nông thôn.
Phát triển nông thôn toàn diện phải tính đến lợi thế so sánh của các
ngành, các vùng nông thôn nhằm xây dựng một cơ cấu kinh tế tiến bộ, đồng
bộ có hiệu quả theo hướng chuyên môn hoá, phối hợp thế mạnh của các vùng
trong tổng thể chung của cả nước.
- Phát triển nông thôn theo hướng CNH-HĐH
Nông thôn không thể phát triển nếu chỉ chú trọng phát triển nông
nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng bỏ dần tính thuần
nông, phát triển công nghiệp và dịch vụ, đặc biệt là công nghịêp chế biến
nông, lâm, thuỷ sản phục vụ xuất khẩu. Chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng giao thông, điện, thông tin liên lạc, các công trình văn hoá, y tế, giáo dục
làm thay đổi bộ mặt nông thôn. Khuyến khích đầu tư xây dựng các doanh
nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ ở địa phương.
CNH-HĐH nông thôn đòi hỏi ngày càng phải áp dụng các tiến bộ kỷ
thuật về giống cây trồng vật nuôi thích hợp với vùng sinh thái. Cho phép tăng
năng xuất, tăng chất lượng sản phẩm, áp dụng các công nghệ đặc biệt là công
nghệ sinh học về phân bón, về bảo vệ thực vật, về thú y, về thức ăn gia súc,
vừa cho phép tăng năng xuất, tiết kiệm chi phí vừa giảm việc sử dụng phân
bón hoá học, thuốc trừ sâu, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững, lâu dài.
1.1.2.2. Mục tiêu của các chương trình phát triển nông thôn
Các chương trình phát triển nông thôn đều nhắm tới mục tiêu là:
- Phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hóa tập
trung, có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao gắn với bảo vệ môi trường sinh
thái.
- Xây dựng nông thôn mới phát triển theo quy hoạch, có cơ sở hạ tầng
đồng bộ, hiện đại, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, môi trường sinh thái, cảnh

- Hỗ trợ xây dựng và phổ biến nhân rộng mô hình sản xuất mới: mô
hình chuyển giao tiến bộ KH-KT vào sản xuất; mô hình sản xuất gắn với
chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm; mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế xã;
- Hỗ trợ giống cây trồng; vật nuôi, vật tư sản xuất (áp dụng với hộ


11

nghèo).
- Hỗ trợ mua sắm trang thiết bị, máy móc, công cụ chế biến bảo
quản sản phẩm sau thu hoạch.
- Hỗ trợ về cơ cấu vốn: Thực hiện hỗ trợ vốn theo các quy định
hiện hành.
1.1.2.4. Đặc điểm của các chương trình phát triển nông thôn
Trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước, nông thôn Việt Nam
có một chiến lược đặc biệt quan trọng thể hiện qua các mặt sau:
- Nông thôn là địa bàn sản xuất những sản phẩm thiết yếu: Giá trị sản
lượng nông, lâm, ngư, nghiệp liên tục tăng trưởng, với tốc độ bình quân
5,4%/năm và tăng GDP là 3,36%/năm. Đáp ứng đủ lương thực, thực phẩm
cho nhu cầu trong nước với mức tăng dân số 1,2 triệu người/năm và xuất khẩu
nông sản ngày càng tăng. Nếu như kim ngạch xuất khẩu nông sản năm 1985
chỉ đạt 400 triệu USD thì đến năm 2003 đã đạt khoảng 3 tỷ USD, chiếm 15%
tổng kim ngạch xuất khẩu, đứng thứ nhất về hồ tiêu (chiếm 14,3% thị phần)
và cà phê (chiếm 40% thị phần), thứ hai về lúa gạo (chiếm 12% thị phần) và
hạt điều (chiếm 9,5% thị phần). Tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm sản năm
2005 đạt 5,8 tỷ USD, tăng 29% so với năm 2004. (1)
- Khu vực nông thôn có số lượng dân cư lớn chiếm 75% dân cư, gần
70% lực lượng lao động xã hội, là nguồn cung cấp lao động cho ngành công
nghiệp và dịch vụ, là thị trường rộng lớn cho ngành công nghiệp; nông thôn

cận thuyền thống về phát triển đó là cách tiếp cận dựa trên cơ sở chính sách
“từ trên xuống” và áp dụng trong hầu hết các trường hợp.
Phương pháp này có đặc điểm là các ý tưởng đều do các cơ quan Nhà
nước đề ra, người dân đóng vai trò thụ động, trông đợi và thiếu sự hợp tác
trong phát triển, các chương trình này đều làm theo số lượng không có sự
đồng tình của người dân và thường làm theo kế hoạch, do đó mà xa rời với
nhu cầu mà người dân đòi hỏi, không đem lại kết quả cao.


13
Nhà nước, các tổ
chức tài trợ

Nhận biết
vấn đề

Xác định chiến lược

Thực hiện quản


Cộng đồng địa
phương

Hình 1.1: Sơ đồ phương pháp tiếp cận thuyền thống
+ Phương pháp tổ chức theo lối hiện đại ( từ dưới lên).
Đặc điểm của quan điểm này là các ý tưởng phát triển là do cơ quan Nhà
nước đề xướng, được dân đồng thuận và trở thành quyết định cuả dân, các
chương trình này được tiến hành trên chính quê hương của họ, người dân đóng
vai trò chủ động, là trung tâm của sự phát triển, là người hưởng lợi chính, là


Cộng đồng địa
phương

Hình 1.2: Sơ đồ phương pháp tiếp cận từ dưới lên
1.1.3. Vai trò của chương trình phát triển kinh tế - xã hội nông thôn,
miền núi
Hiện nay ở nước ta, trình độ lực lượng sản xuất còn thấp nên phân công
lao động chưa phát triển và không đồng đều giữa các vùng, khoảng cách
chênh lệch giàu nghèo giữa miền xuôi và miền núi rất lớn. Thêm vào đó, nông
thôn miền núi mang nhiều tính đa dạng về yếu tố tự nhiên, khác biệt về tập
quán canh tác, thói quen, lối sống và đặc biệt là điều kiện khả năng thích nghi
các yếu tố thị trường, tạo nên khoảng cách chênh lệch. Phân phối giàu nghèo
không chỉ diễn ra ở một vùng mà cả giữa các vùng với nhau. Mục tiêu của
Đảng và Nhà nước ta là công bằng xã hội cho đồng bào các dân tộc thiểu số.
Một số dự án đã đưa ra và vai trò của nó là rất lớn trong quá trình phát triển
và giảm nghèo tại địa bàn nông thôn Việt Nam như:
- Dự án định canh định cư: Mục tiêu đưa ra là ổn định nơi ở, nơi sản
xuất và bảo vệ rừng đối với những nơi đồng bào còn du canh, du cư. Hoạt
động của dự án gồm xây dựng các cơ sở sản xuất như khai hoang, làm ruộng


15

thâm canh, thuỷ lợi nhỏ, trồng cây công nghiệp, trồng rừng, xây dựng cơ sở
hạ tầng như điện, đường, trường, trạm, nhà trẻ, di chuyển và ổn định làng bản.
- Dự án quy hoạch sắp xếp lại dân cư: Mục tiêu của dự án là điều chỉnh
mật độ dân số, phát triển kinh tế, ổn định xã hội. Đây là một chương trình
quan trọng nhằm tạo điều kiện phát triển một số vùng, nhất là vùng dân cư
thưa thớt, vùng xâu, vùng xa, vùng hải đảo khó khăn hoặc những vùng có

hậu hiệu quả thấp. Công nghiệp nông thôn chưa phát triển, kỹ thuật thấp,
không đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất theo hướng chuyên môn, tập trung
hoá (hiện nay còn trên 500 xã chưa có đường giao thông tới xã, 2362 xã đặc
biệt khó khăn, 13% xã chưa có điện, 58% có nhà tốt…)
Rừng bị tàn phá nặng nề, đất đai bị sói mòn và có nguy cơ bị huỷ hoại
nghiêm trọng, độ che phủ của rừng hiện còn 38%, hiện có hơn 10 triệu ha đất
trống đồi núi trọc gây cản trở đến môi trường sinh thái và chống úng hạn,
nhiều nơi thiếu nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt.
Tốc độ tăng dân số cao (dân số nước ta tăng bình quân khoảng 1,3%,
năm 2000 là 77,6 triệu người, đến nay khoảng 84 triệu người) gây khó khăn
và sức ép nhiều mặt về sản xuất, nhà ở, việc làm, trường học, tình trạng bán
thất nghiệp ở nhiều nơi nhất là các vùng sâu vùng xa. Tình trạng thiếu việc
làm đang là vấn đề bức xúc. Hiện nay người dân nông thôn mới chỉ sử dụng
50 đến 60% quỹ thời gian, và có 6 đến 7 triệu người đang cần việc làm.(1)
Đời sống nhân dân đã được cải thiện trong thời gian vừa qua, song vẫn
còn rất nhiều khó khăn, thiếu thốn, mức sống của nhân dân thấp, tỷ lệ hộ
nghèo đói còn rất cao, nhất là vùng trung du miền núi. Chênh lệch giàu nghèo
giữa các vùng ngày càng tăng, hiện nay thu nhập của nông thôn có khoảng
cách rất xa so với thu nhập ở thành thị và có nguy cơ ngày càng tăng lên.
1.2. Tổng quan về chương trình 135
Chương trình 135 là chương trình phát triển KT-XH ở các xã đặc biệt
khó khăn, miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa. Chương trình được phê
duyệt theo Quyết định 135/1998/QĐ-TTg, ngày 31/7/1998 của Thủ tướng
Chính phủ. Đây là chương trình có quy mô rộng lớn, tính đến cuối năm 2007

(1)

Nguồn: Tổng Cục thống kê




18

- Bảo đảm cung cấp cho đồng bào có đủ nước sinh hoạt; thu hút trên
70% trẻ em trong độ tuổi đến trường; đại bộ phận đồng bào được bồi dưỡng,
tiếp thu kinh nghiệm sản xuất, kiến thức khoa học, văn hóa, xã hội, chủ động
vận dụng vào sản xuất và đời sống; kiểm soát được phần lớn các dịch bệnh xã
hội hiểm nghèo; có đường giao thông cho xe cơ giới và đường dân sinh kinh
tế đến các trung tâm cụm xã; thúc đẩy phát triển thị trường nông thôn.
c) Giai đoạn 2006- 2010
- Về phát triển sản xuất: nâng cao kỹ năng và xây dựng tập quán sản
xuất mới cho đ ồng bào các dân tộc, tạo sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế
nông nghiệp, nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững.
- Phấn đấu trên 70% số hộ đạt được mức thu nhập bình quân đầu
người trên 3,5 triệu đồng/năm vào năm 2010.
- Về phát triển cơ sở hạ tầng: các xã có đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu phù
hợp quy hoạch dân cư và quy hoạch sản xuất bảo đảm phục vụ có hiệu quả
nâng cao đời sống và phát triển sản xuất tăng thu nhập.
Các chỉ tiêu cụ thể: phấn đấu trên 80% xã có đường giao thông cho xe
cơ giới (từ xe máy trở lên) từ trung tâm xã đến tất cả thôn, bản; trên 80% xã
có công trình thủy lợi nhỏ bảo đảm năng lực phục vụ sản xuất cho trên 85%
diện tích đất trồng lúa nước; 100% xã có đủ trường, lớp học kiên cố, có lớp
bán trú ở nơi cần thiết; 80% số thôn, bản có đện ở cụm dân cư; giải quyết và
đáp ứng yêu cầu cơ bản về nhà sinh hoạt cộng đồng; 100% xã có trạm y tế
kiên cố đúng tiêu chuẩn.
- Về nâng cao đời sống văn hóa, xã hội cho nhân dân ở các xã đặc biệt
khó khăn. Phấn đấu trên 80% số hộ được sử dụng nước sinh hoạt hơp vệ sinh,
trên 80% số hộ được sử dựng điện sinh hoạt; kiểm soát, ngăn chặn các bệnh
dịch nguy hiểm; tăng tỷ lệ hộ có hố xí hợp vệ sinh lên trên 50%; trên 95% số
học sinh tiểu học, 75% học sinh trung học cơ sở trong độ tuổi đến trường;

doanh nghiệp, các tầng lớp nhân dân trong cả nước, đồng bào Việt Nam ở
nước ngoài... tích cực đóng góp, ủng hộ thực hiện chương trình.
1.2.3. Nhiệm vụ của chương trình.
+ Quy hoạch bố trí lại dân cư ở những nơi cần thiết, từng bước tổ chức
hợp lý đời sống sinh hoạt của đồng bào các bản, làng, phum, soóc ở những


20

nơi có điều kiện, nhất là những xã vùng biên giới và hải đảo, tạo điều kiện để
đồng bào nhanh chóng ổn định sản xuất và đời sống.
+ Đẩy mạnh phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, gắn với chế biến,
tiêu thụ sản phẩm để khai thác nguồn tài nguyên và sử dụng lao động tại chỗ,
tạo thêm nhiều cơ hội về việc làm và tăng thu nhập, ổn định đời sống, từng
bước phát triển sản xuất hàng hóa.
+ Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn phù hợp với quy hoạch sản xuất và
bố trí lại dân cư, trước hết là hệ thống đường giao thông; nước sinh hoạt; hệ
thống điện ở những nơi có điều kiện, kể cả thủy điện nhỏ.
+ Quy hoạch và xây dựng các trung tâm cụm xã, ưu tiên đầu tư xây
dựng các công trình về y tế, giáo dục, dịch vụ thương mại, cơ sở sản xuất tiểu
thủ công nghiệp, cơ sở phục vụ sản xuất và phát thanh truyền hình.
+ Đào tạo cán bộ xã, bản, làng, phum, soóc, giúp cán bộ cơ sở nâng cao
trình độ quản lý hành chính và kinh tế để phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế
xã hội tại địa phương.
1.3. Vai trò của người dân trong các chương trình phát triển nông thôn
1.3.1. Khái niệm vai trò
Theo từ điển tiếng Việt có định nghĩa: Vai trò thường là tính từ tính
chất của sự vật, sự việc hiện tượng, dùng để nói về vị trí chức năng, nhiệm vụ
mục đích của sự vật, sự việc, hiện tượng trong một hoàn cảnh, bối cảnh và
mối quan hệ nào đó.(1)

được hoạch định từ sáng kiến, đề xuất của quần chúng.
1.3.2. Nội dung vai trò của người dân trong các hoạt động chương
trình phát triển nông thôn
Việt nam ta có câu: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó ngàn lần
dân liệu cũng xong”. Từ ngạn ngữ trên ta hiểu rằng mọi việc của bản làng nếu
dân đồng lòng cùng tham gia thì sẽ thành công, nếu dân không tham gia thì
việc dù dễ đến đâu, được hổ trợ, đầu tư trợ giúp đến đâu cũng khó thành công
hoặc có thành công thì cũng không lâu dài. Xác định được vai trò to lớn của
người dân mà Đảng và Nhà nước ta luôn nhấn mạnh phương châm “Dân biết,
dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân hưởng lợi” và luôn đề cao vai trò của
người dân lấy nhân dân làm gốc. Như vậy, nội dung vai trò của người dân
trong các chương trình phát triển nông thôn là:
(1)

Hồ Chí Minh toàn tập.


22

- Dân biết là những kiến thức vốn có của người dân có vai trò quan
trọng trong các chương trình phát triển ở địa phương, và các quá trình lập kế
hoạch, khảo sát thiết kế. Vậy dân được biết những gì? Mọi người dân trong
làng bản phải biết rõ hai điểm:
Thứ nhất, những gì mà làng bản cùng thống nhất, ưu tiên giải quyết,
phải làm. Bên cạnh đó người dân cần phải biết được mục đích của việc xây
dựng là gì, yêu cầu những đóng góp từ phía họ, trách nhiệm và quyền lợi của
cộng đồng.
Thứ hai, những gì mà Nhà nước, các tổ chức bên ngoài có thể hổ trợ và
giúp đỡ.
- Dân bàn là thể hiện quyền dân chủ của người dân được tham gia xây

- Dân hưởng lợi, đây là lợi ích mà các hoạt động của chương trình, dự
án mang lại cho người dân.

Hưởng
lợi

Quản


Biết

Nông
dân

Bàn

Làm
Kiểm tra

Hình 1.3: Sơ đồ mô tả vai trò của người dân trong các hoạt động phát triển
KT-XH
1.3.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến việc phát huy vai trò của người dân
1.3.3.1. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước


24

Đường lối, quan điểm của Đảng ta và tư tưởng Hồ Chí Minh đặc biệt
coi trọng vấn đề dân chủ, nhất là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ
sở, việc phát huy dân chủ ở nông thôn nước ta có một ý nghĩa sâu sắc và là vấn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status