Lời nói đầu
Rừng là một loại tài nguyên đặc biệt có khả năng tự tái tạo, có vai trò quan
trọng đối với môi trờng sinh thái, đời sống kinh tế xã hội. Vì vậy công tác bảo
vệ và phát triểu rừng là vấn đề có tính chiến lợc gắn liền với sự nghiệp phát triển
toàn diện kinh tế xã hội, sẽ không có một nền kinh tế bền vững nếu không quan
tâm phát triển rừng.
Theo tài liệu thồng kê khu vực Đông Dơng của P.Mau Rand, tại thời điểm năm
1943, Diện tích rừng việt năm có khoảng 14,3 triệu ha , với độ che phủ 43%,
cho đến 1995, theo số liệu điều tra của viện điều tra quy hoạch rừng thì tổnh
diện tích rừng nớc ta chỉ còn khoảng 9,3 triệu ha, với độ che phủ 28,2% phân bố
lại không đều. Nh vậy sau 52 năm nớc ta mất đi 5 triệu ha rừng, bình quân mỗi
năm mất đi100.000ha. sự mất rừng đã gây ảnh hởng rấtlớn đến môi trờng sinh
thái, là nguyên nhân làm cho thiên tai những năm gần đây trở nên khắc nhiệt
hơn: đố là hạn hán, lũ lụt,sạt lở đất thờng xuyên xảy ra, gây thiệtt hại nặng nề
về ngời dân và xã hội.
Trớc tình hình đó đảng và nhà nớ ta đã ban hành về nhiều chủ chơng chính sách
nhằm bảo vệ diện tích rừng tự nhiên hiện có và đẩy mạnh các hoạt động xây
dựng rừng. Từ sau đại hội đảng toàn quốc lần thứ 6 đả ta đã có chủ trơng phát
triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng có
sự điều tiết của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện chủ trơng
này, Nhà nớc đã ban hành và đa vào thực hiện một số chính sách kinh tế nhằm
đổi mới một cách cơ bản nền kinh tế trên mọi lĩnh vực mọi ngành.
Nông lâm nghiệp và nông thôn luôn đợc coi là lĩnh vực quan trọng sống
còn của nền kinh tế nớc ta, bởi vì đây là một ngành thu hút tới trên tới 70% lao
động cả nớc. Trong tình hình đổi ôứi một loạt các chính sách tạo ra tiền đề quan
trọng cho việc tổ chức lại các hoạt dộng sản xuất nông lâm nghiệp. Một trong
những chính sách chú ý quan tâm của mọi ngời dân, đặc biệt là nông dân sống ở
miền núi và trung du, đó là chính sách về giao đất lâm nghiệp đợc giao trong
nghị định 02/CP ngày 12/1/1994 của Chính Phủ, quy định về giao đất lâm
nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích
lâm nghiệp, chính sách này thực sự tạo ra sự thay đổi cơ bản trong tổ chức sản
Lại cùng các thầy cô giáo đã tận tình hớng dẫn chỉ bảo em trong thời gian thực
tập và hoàn thiện đề tài.
Chơng 1: Sự cần thiết phảI nâng cao hiẹu quả
việc giao đất cho hộ gia đình.
1.Vai trò của đất lâm nghiệp
1. Khái niệm và quĩ đất lâm nghiệp
1.2. Khái niệm đất lâm nghiệp
Đất là một vật thể tơI xốp trên bề mặt lục địa của hành tinh chúng ta, có
khả năng cung cấp các chất dinh dỡng khoáng và nớc cho thực vật sinh trởng.
Vì vậy, đặc tính cơ bản để phân biệt đất với đá và các sản phẩm phong hoá từ
đá, là: độ phì nhiêu.
Đất là một thể tự nhiên độc lập, có những qui luật phát sinh, phát triển
riêng theo không gian và thời gian, nh các thể tự nhiên khác. Cách đây hơn một
thế kỷ, Đô-cu-cha-ev (1879) đã cho rằng đất là một thể tự nhiên đợc hình thành
lâu đời do cac kết quả hoạt động tôngr hợp của 5 yếu tố hình thành đất, bao
gồm : Đá mẹ, sinh vật ( thực vật, động vật và vi sinh vật ), khí hậu, địa hình và
thời gian. Nhng, sau khi loàI ngời xuất hiện thì đất không những là đối tợng lao
động, t liệu sản xuất của con ngời, mà còn là sản phẩm lao động của con ngời;
bởi vậy, con ngời qua các hoạt động sản xuất của mình, cũng là một nhân tố
quan trọng trong quá trình hình thành đất.
Đất lâm nghiệp là kháI niệm dựa trên quan đIúm sử dụng đất đợc phân
công giữ các ngành kinh tế quốc dân. quan niệm về đất lâm nghiệp có thể theo
mức độ rộng hẹp khác nhau. Theo quan niệm đơn giản nhất thì, đất lâm nghiệp
là đất đang có rừng hoặc đất sẽ để trồng rừng. Quan niệm này phản ánh nội
dung chủ yếu của đất lâm nghiệp cha đầy đủ.
Theo luật đất đai ở nớc ta năm 1993 đầy đủ và toàn diện hơn: Đất lâm
nghiệp là đất đợc xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất lâm nghiệp, gồm có
đất rừng tự nhiên, đất đang có rừng trồng và đất sử dụng vào mục đích lâm
nghiệp nh trồng rừng , nghiên cứu thí nhiệm về lâm nghiệp.
Nh vậy đất lâm nghiệp bao gồm những bộ phận chủ yếu sau:
-Có hàng triệu hecta đất trống đồi nói trọc có khả nâng hớng lâm, chất l-
ợng đất xấu, bạc mầu.Có nhiều vùng bị xói mòn trơ sỏi dá.
-Diện tích rừng bình quân một nhân khẩu rất thấp và đang có nguy cơ
suy giảm. Việc giảm diện tích rừng và mức độ tre phủ đất là nguyên nhân quan
trọng gây nên những biến đổi về mặt xã hội, khí hậu, môi trờng sinh thái ở nớc
ta.
Biểu 1: Quĩ đất lâm nghiệp Việt Nam năm 1997
Loại đất Diện tích (triệu ha)
1.Tổng quĩ đất lâm nghiệp
trong đó:
2.Đất có rừng
3.Đất cha có rừng
Trong đó:
a.Khả năng hớng lâm
b.Có khả năng hớng nông
19
9,3
9,7
7-7,5
2,2-2,7
Nguồn: Kế hoạch thực hiện dự án 5 triệu ha rừng 1998-2010, Bộ NN và
PTNT.
Có thể thấy qui mô rừng và tốc độ giảm rừng của Việt Nam và thé giới
nh sau:
Biểu 2: Qui mô rừng thế giới, khu vực đông nam á và việt nam năm 1995
Chỉ tiêu Đơn vị tính Toàn thế
giới
10 nớc
ĐNA
cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả, thúc đẩy việc hình thành những vùng
nông thôn tập trung ở trung du và miền núi.
-Chuyển sang việc kết hợp đa dạng các hình thức sở hữu và các hình thức
kinh doanh trong khai thác đất lâm nghiệp.
-Hình thành quan hệ chặt chẽ giữu nông nghiệp với lâm nghiệp, giữu
nông lâm nghiệp với công nghiệp từ đầu ngay trong đơi vị cơ sở ở một số vùng
-Bớc đầu gắn các chơng trình khai thác đất lâm nghiệp với các chơng
trình, dự án địng canh định c
2.2.Những xu hớng tiêu cực
-Diện tích rừng giảm,diện tích đất trống, đồi núi trọc liên tục tăng.
-Mật đọ cây và trữ lợng gỗ bình quân 1 đơn vị diện tích rừng tiếp tục
giảm
-Số lợng động, thực vật kể cả các loại quí hiếm ngày càng giảm.
3. Vai trò của đất lâm ngiệp
Đất lâm nghiệp là nguồn tài nguyên quan trọng mà con ngời có thể sử dụng
để tạo ra các sản phẩm vật chất phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của con ngời
và mọi sự sống trên trái đất. Nhận thức đợc vai trò đó Đảng và nhà nớc ta, ngày
29/12/1987, lân đầu tiên trong lịch sử nhà nớc Cộng Hoà Xã Hôi Chủ Nghĩa
Việt Nam, luật đất đai đợc Quốc Hội khoá VIII kỳ họp thứ 2 và đợc sửa đổi từ
đó đến nay nhằm mục đích kinh tế xã hội to lớn, phát triển bền vững.
Về mặt kinh tế: Đất lâm nghiệp cũng nh tài nguyên thiên nhiên có vai
trò quan trọng đối với đời sống con ngời và nền kinh tế của mỗi đất nớc.
Đối với nền kinh tế của đất nớc: đất lâm nghiệp là một trong những yếu
tố tạo ra sự phát triển bền vững nằm trong chính sách phát triển dài hạn mà
đảng và nhà nớc ta đã và đang thực hiện. Mặt khác đối với một nền kinh tế kém
phát triển nh nớc ta, trong bớc đầu phát triển kinh tế muốn tích luỹ đợc nguồn
vốn phải để phát triển phải khai thác và xuất khẩu sản hẩm thô mà một phần
khai thác từ đất lâm nghiệp ( nh trong 9 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ta thì
có 8 mặt hàng là từ sản phẩm thô, mà trong đó có 4 mặt hàng xuất phát từ đất
lâm nghiệp) và cũng là nguồn để phát triển công nghiệp khai thác, công ngiệp
Việt Nam với tổng diện tích rừng tự nhiên phần đất liền, khoảng 33 triệu ha, trải
dài trên 15 vĩ độ, từ 835 vĩ độ bắc đến 2322 vĩ độ bắc. Do phân bố
dài trên 25 vĩ độ, nên nhìn khái quát thì sự thay đổi về khí hậu ở Việt Nam theo
vĩ độ, rõ nét hơn là theo kinh độ.
Miền Bắc Việt Nam do nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa hai đới khí hậu:
Nhiệt đới và á nhiệt đới, lại chịu ảnh hởng sâu sắc của chế độ gió mùa của khu
vực đông Nam á, với sự luân phiên phức tạp của các khối khí xích đạo, nhiệt đới
và cực. Chính nhân tố gió mùa này đã chi hối rất sâu sắc đến đến bản chất của
khí hậu Miền Bắc Việt Nam. Về đại thể, chúng ta nhận thấy ở đây đã hình
thnàh hai mùa, tơng đối rõ nét, mùa nóng và ma nhiều, từ tháng 5 đến tháng 10;
mùa đông lạng và ít ma, nhng không xuất hiện sự thiếu nớc trầm trọng cho cây
trồng, kéo dài từ tháng 12 cho đến hết tháng 3 năm sau. Mùa đông lạnh ở miền
Bắc chủ yếu là ảnh hởng của gió mùa đông bắc, mang khối khí lạnh từ cựcc
tràm xuồng từng đợt, nên ít ổn định. Ngay tropng mùa đông, giữa những ngày
giá lạnh lại xen những ngày nồm nóng lực . ảnh hởng của gió mùa đông bắc
thổi dọc theo đất nớc suốt từ bắc vào nam lại làm tăng thêm sự biến thiên về
nhiệt giữa các địa phơng nằm trên các vĩ độ khác nhau, càng đậm nét hơn, so
với cac nớc nhiệt đới lân cận, nằm trên cùng vĩ độ. Tới các tỉnh phía nam, ảnh
hởng của gió mùa đông bắc rất yếu, hầu nh không có, nên ở đây không có mùa
đông lạnh; trong năm chỉ có 2 mùa: Mùa khô và mùa ma; điển hình cho khí hậu
nhiệt đới gió mùa, với tổng hiệt độ trung bình năm: 9000-10.000C, có nhiệt độ
trung bình hàng năm tơng đối cao; từ 26C-27C.
Việt Nam còn nằm ở phía đông lục địa châu á, trong vành đai nhiệt đới,
tiếp giáp với biển đông, với bờ biển dài 3260Km, chạy dọc theo đất nớc, suốt từ
Bắc vào Nam; do đó, đã hình thành nên một kiểu khí hậu mang tính hải dơng,
có lợng ma lớn và độ aamr không khí cao.
Nhìn chung ở Việt Nam, thờng có lợng ma trung bình hàng năm khá cao:
1700 mm; nhng có nơi lợng ma rất cao: 3000-4000/năm. Ngợc lại , có nơi lợng
ma cả năm lại rất thấp, chỉ đạt: 650-750 mm.
Việt Nam, mặc dù các rừng nhiệt đới tự nhiên, hàng năm đã trả lại cho
nh Hà Giang lợng ma hàng năm đạt tới: 4679mm; Quảng ninh:2900mm ...
Trái lại, ở một số địa phơng do ảng hởng che khuất của địa hình, làm
giảm lợng ma hàng năm quá lớn, nh : Bình thuận có lợng ma hàng năm:
710mm/năm, Nghệ an lợng ma chỉ có : 625mm ...
Sự sắp xếp của hệ thống núi ở Việt Nam cũng còn gây ra ảnh hởng khác
nhau của gió múa Đông Bắc lạnh và ẩm ớt nhiều địa phơng ở Việt Nam, đặc
biệt ở miền Bắc. Gió mùa Đông bắc cũng ảnh hởng sâu rộng ở vùng đông bắc; ở
đây có mùa đông giá lạnh, với ma phùn và thờng xuyên xuất hiện sơng muối, đã
có tác dụng hạ thấp độ cao của vành đai khí hậu á nhiệt đới ở vùng này.
Ngợc lại, ở vùng Tây Bắc, do tác dụng chặn gió múa Đông Bắc của dãy
hoàng liên Sơn, nên ảnh hởng của gió mùa đông Bắc đến chậm và yếu hơn, ở
đây ít có ma phùn trong mùa đông, nên hình thành mùa khô rõ nét hơn, so với
trung tâm và Đông Bắc.
Ngay ở các vùng đồng bằng châu thổ, sự thay đổi về địa hình của đất phù
sa, tuy không nhiều về độ cao, nhng cũng gây ra các vùng trũng, ngập nớc
quanh năm, hình thành đất phù sa;hoặc các vùng đất phù sa mới bồi, thấp ở
vùng ven biển, luôn bị ngập nớc biển hàng ngày, khi nớc triều cờng và hình
thàng gần nửa triệu ha đất ngập mặn ven biển ở Việt Nam.
4.3- Đá mẹ và mẫu chất
Các loại đá mẹ, mẫu chất hình thành đất ở miền nhiệt đới nói chung và ở
Việt Nam nói riêng rất phức tạp, có sự khác nhau rất lớn về các thành phần
khoáng vật hình thành dá. Từ những loại đá mác-maxit, đến những loạib đá
mac-ma trung tính và kiềm, cũng nhe các loại đá mẹ trầm tích rất nghèo kiềm
và kiềm thổ, đến các loại đá mẹ rất giàu kiềm và kiềm thổ, nh đá mác nơ...
Bên cạnh các loại đá mẹ hình thành rất phức tạp ấy, chúng ta còn gặp các
sản phẩm phong hoá hình thành đất rất khác nhau, từ các mẫu chất phù sa và
trầm tích, nh đất phù sa sông hồng đến phù sa sông cầu...
Vùng Đồng Bằng sông Cửu Long đợc hình thành trên các sản phẩm hội
tụ và trầm tích của phù sa sông cửu Long, giầu hạt sét, giầu các chất khoáng
dinh dỡng và kiềm có pH ít chua hoặc gần chung tính; nhng do địa hình thấp lại
4,83% số loài thuộc yếu tố di c từ vùng khí ôn đới.
1,56%số loài thuộc yếu tố di c thế giới
ở các tỉnh phía Nam, đây là vùng phân bố phong phú nhất về các rừng
cây gỗ họ dầu nh: Rừng dầu nớc, rừng sao đen...Khi các loại rừng nguyên sinh
bị tàn phá, xuất hiện các loịa rừng thứ sinh nhân tác, cũng u thế là rừng cây gỗ
họ dầu nh : dầu trà beng , dầu trai... Và cũng tơng tự nh vậy, các loại cây lá kim
đã đóng vai trò chủ yếu trong tổ thành loài cây của rừng ô đới...
Vùng Đông Bắc do có mùa đông, khá lạnh, nên trong tổ thành rừng lim
đã xuật hiện khá phong phú các loài cây trong họ dẻ và họ Re là các loài phân
phổ biến của vùng khí hậu á nhiệt đới ẩm. Các loại rừng thứ sinh nhân tác ở
vùng này gồm các tre lứa thân mọc cụm ở vùng đồi và rừng tre vầu, thân mọc
tản ở vùng núi...
ảnh hởng của yếu tố thực vật đến quá trình hình thành đất ở Việt Nam:
Qua quá trình tiểu tuần hoàn sinh vật về vật chất của thực vật theo thời gian, các
chất hữu cơ và các chất khoáng dinh dỡng ngày càng đợc tập trung nhiều ở lớp
đất mặt và đã hình thành kết cấu các tầng đất trong phẫu diện nh:
Tầng A: Tầng đất mặt, tầng tích luỹ và chất khoáng dinh dỡng
Tầng B: Tầng tâm của phẫu diện và tầng tích tụ
Tầng C: Tầng phông hoá
ở vùng nhiệt đới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, rừng ngập mặn hàng
năm đã trả lại cho đất từ 10-12 tấn chất hữu cơ từ các cành rơi là rụng và hàng
chụn tấn rễ cây.Trong thành phần của xác hữu cơ rừng ngập mặn lại có chứa
nhiếu lu huỳnh, thông qua quá trình phân giải và chuyển hoá của vi sinh vật
trong đất. Nh rừng tràm tong quá trình sinh trởng theo thời gian, trong diều kiện
đất bị ngập mặn trong vòng 6 tháng, đã tích luỹ một tầng chất hữu cơ khá dầy,
trên mặt đất và hình thành loại đất than bùn phèn tiềm tàng, có nơi than bùn dầy
tới trên 1m... còn trong đai rừng á nhiệt đới ẩm vùng núi cận nhiệt đới và nhất là
đai rừng á nhiệt đới ma mù núi cao ở Việt Nam, thì thờng có kết cấu đơn giản
hơn về tầng tán. Càng lên cao, cây rừng càng thấp và cong quẹo, tổng lợng sinh
khối trên mặt đất bị giảm sút nhiều so với rừng nhiệt đới ẩm, nhng mùn và chất
biển, nhờ lợng ma phong phú, kết hợp với các hệ thống kêng mơng dẫn nớc
ngạt, chúng ta đã tiến hành rửa mặn tích cực và đã làm biến đổi hoàn toàn loại
đất ngập mặn ven biển, trở thành loại đất trầm tích phù sa.
-Trong quá trình khai thác mở rộng diện tích đất canh tác lúa nớc ở vùng
đồng bằng rộng lớn, đồng bằng sông Cửu Long có tới hơn 1,6 triệu ha đất phèn.
Chúng ta đã đào hàng chục cây số các hệ thống kêng mơng để dẫn nớc ngạt từ
sông Cửu Long, rửa phèn tích cực, biến các loại đất phèn có nhiều hạn chế,
thậm chí có nơi không thể tròng lúa nớc đợc, trở thành các loịa đất phù sa có
năng suất cao và có thể canh tác 2 đến 3 vụ trong năm.
-Các hệ thống ruộng bặc thang trồng lúa nớc, trùng điệp ở hầu hết ở các
tỉnh miền núi, đã làm thay đổi sâu sắc về các tính chất đất dốc ở vùng này, từ
đất dốc trở thành đất bặc thềm, có khả năng giữ nớc và cũng từ đất dốc không
ngập nớc nay trở thành đất ngập nớc trong mừa ma hoặc quanh năm, kết hựp
với cầy bừa và bón phân hàng năm.
Ngợc lại, trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp ở nớc ta cũng có
không ít các ảnh hởng tiêu cực đến các tính chất và độ phì của đất, hàng ngàn
ha rừng ngập mặn vùng ven biển Việt Nam, đặc biệt là vùng bán đảo cà mau, đã
và đang bị tàn phá ồ ạt lấy đất xây dựng các đầm nuôi tôm theo phơng thức
quảng canh, đã làm biến đổi sâu sắc các loại rừng ngậm mặn ven biển ở vùng
này, theob hớng không có lợi, nh: trong quá trình nuôi tôm, đất không bao giờ
đợc ngập nớc triều, do đó quá trình phèn hoá xẩy ra dữ dội làm ô nhiễm toàn bộ
nguồn nớc trong vùng, làm đảo quy luật ngập nớc triều hàng ngày của đất ngập
mặn...
-Trên vùng đất xám phù sa cổ ở miền Đông Nam Bộ, nơi phân bổ của
nhiều loại rừng cây họ dầu, cho gỗ lớn và quí, do đặc điểm địa hình dốc thoải và
thành phần cơ giới nhẹ, thích hợp cho sản xuất nông nghiệp và do lợng phân
bón không đảm bảo chất hữu vơ tốt nên chất khoáng dinh dỡng kém...nên biến
đổi chất xám thành đất bạc mầu.
-ở đồng bào dân tộc miền núi ít ngời, đã có ảnh hởng sâu sắc đến tính
chất và độ phì của đất rừng. Đó là phơng thức canh tác đốt rừng làm nơng rẫy
Để đánh giá hiệu quả kinh doanh của các mô hình sản xuất, chủ yếu th-
ờng sử dụng phơng pháp: phân tích chi phí và lợi nhuận viết tắt là CBA (Cost-
Benefit Analysis). Phơng pháp CBA là phơng pháp so sánh giữa thu nhập (đầu
ra) với các chi phí (đầu vào) có tính đến giá trị của dòng tiền tệ theo thời gian.
Các hoạt động sản xuất lâm nghiệp thờng có chu kỳ dài, mức độ rủi ro bất trắc
lớn vì vậy khi đánh giá phải quan tâm đến giá trị của đồng tiền theo thời gian.
Xác định giá trị của đồng tiền theo thời gian ngời ta đề cập đến 2 chỉ tiêu.
(1) Kỹ thuật tính kép:
Với kỹ thuật này ngời ta cho phép xác định giá trị tơng lai của một số
tiền tệ tại một thời điểm hiện tại. Công thức đợc tính nh sau:
F = P(1+i)
t
Trong đó: - F: số tiền tính kép tại thời điểm tơng lai
- P: số tiền đầu t hiện tại
- i: Tỷ lệ lãi suất
- t: Thời gian
- (1+i)
t
là hệ số chiết khấu
(2)Kỹ thuật chiết khấu:
Là quá trình tính ngợc lại của kỹ thuật tính kép- nó cho phép ta
xác định đợc giá trị hiện tại của một số tiền nào đó dự kiến biết đợc tại
một thời điểm bất kỳ trong tong lai.
Công thức tính
F
P =
(1+i)
t
1
BCR : Tỷ suất giữa thu nhập và chi phí (đồng/đồng)
BPV : Giá trị hiện tại của thu nhập (đồng)
CPV : Giá trị hiện tại của chi phí (đồng)
Nếu mô hình kinh tế HGĐ nào có BCR> 1 thì có hiệu quả kinh tế, BCR càng
lớn thì có hiệu quả càng cao. Ngợc lại BCR<1 thì kinh doanh không có hiệu
quả.
Tỷ lệ thu hồi nội bộ (IRR-Internal Rate of Return).
=
+
=
n
ot
t
i
CtBt
NPV
)1(
)(
=
=
+
+
=
n
ot
t
Giao đất lâm nghiệp cho hộ gia định lâu dài vào mục đích sản xuất nông lâm
nghiệp theo quy hoạch và kế hoạch là một chủ trơng chính sách lớn của Đảng
và nhà nớc từ nhiều năm nay, từng bớc ổn định và phát triển tình hình kinh tế xã
hội tăng cờng an ninh quốc phòng.
Sau khi có luật đất đai năm 1993, nghị định số 02/CP ngày 15/1/1994 quy định
" về việc giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn
định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp ". ngày 16/11/1999 Chính phủ đẫ ban
hành nghị định 163/CP " về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ
gia đình, cá nhân sử dụng và ổn định lâu dài vao mục đích lâm nghiệp". Hiện
nay các địa phơng đã và đang triển khai thực hiện nghị định trên. ngoài ra nhà
nớc cũngban hành nhiều nghị định nhăm phát triển lâm nghiệp dựa vào sức dân,
sử dụng có hiệu quả đất lâm nghiệp giao, tạo công ăn việc làm, tăng thêm sản
phẩm cho xã hội góp phần bảo vệ môi trờng sinh thái và đạt muc tiêu phát triển
bền vững.
Kết quả đến năm 2001 diện tích đất đã quy hoạch giao sử dụng vào mục đích
lâm nghiệp, nông nghiệp, chuyên dùng và đất ở là 22.900.308 ha chiếm 69,64%
tổng quỹ đất đã sử dụng so với năm 1995. Trong đó đất lâm nghiệp có rừng
11.580.755 ha chiếm 35,17% tổng diện tích tự nhiên. Đất cha sử dụng và sông
0
)1(
=
+
=
n
ot
t
i
CtBt
hiện những điểm mạnh, điểm yếu, những khó khăn trở ngại, sớm tìm ra một giải
pháp hữu hiện thúc đẩy nhanh tiên tình giao đất lâm nghiệp và nâng cao hiệu
quả của công tác giao đất lâm nghiệm là hết sức cần thiết.
Suất phát từ yêu cầu cấop bách về mặt lý luật và thực tiễn, đề tài " Một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả giao đất lâm nghiệp cho họ gia đình ở tỉnh Yên
Binh- tỉnh Yên Bái"
IV- chính sách giao đất lâm nghiệp của một số nớc trên thế giới
Tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế -xã hội-chính trị, điều kiện tự nhiên
phong tục tập quán canh tác của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia mà mỗi nớc hình
thành nên một hệ thống quản lý, sử dụng đất đai khác nhau.
ở thái lan, sử dụng đất đai đợc thông qua chơng trình làm rừng, hộ
nông dân đợc giao đất nông nghiệp, đất thổ c, đất để trồng rừng. Ngời nông dân
có trách nhiệm quản lý đất, không đợc chặt hoặc sử dụng cây rừng. Ngời nông
dân nhận đất đợc chính phủ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên đất
rừng của nhà nớc ở những nơi phù hợp cho việc trồng cây nông nghiệp lu liên ,
chính phủ Thái Lan hỗ trợ xây dựng cơ sơ hạ tầng nh đờng,trạm y tế,trờng
học.Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp phấp, đã làm gia tăng
mức độ an toàn cho ngời thuê đất trong thời gian sử dụng.Do vậy đã ảnh hởng
tích cực đến việc khuyến khich đầu t và tăng sức sản xuất của đất.
ở Nêpal nhà nớc cho phép chuyển giao một số khu rừng có diện tích
lớn ở vùng núi trung du cho các cộng đồng, thông qua tổ chức chính quyền cấp
cơ sở, thành lập các thành viên uỷ ban về rừng cam kết quản lý bảo vệ các khu
rừng ở địa phơng.
ở ấn độ, vào những năm 70 của thế kỉ XX ấn độ đã phát triển Lâm
nghiệp xã hội, năm 1986 ấn Độ đã hoàn thành mục tiêu phát triển Lâm nghiệp
xã hội tại các bang khác nhau. ấn độ đã coi cộng đồng nh một đối tác quản lý
những vùng đất rừng của chính phủ. Chính phủ cho phép các cộng đồng đợc sử
dụng tất cả các sản phẩm không phải là gỗ, còn việc phân chia quyền lợi cây gỗ
lại có sự thay đổi nhiều giữa các bang, gỗ đợc sử dụng làm chất đốt ở bihar và
đợc phép sử dụng tại orissa,thì ở rajas than có đến 60% nguồn thu nhập của
nghiệp xã hội Quốc gia công nhận quyền sử dụng đát lâu dài choi cộng đồng .
Một dạng hợp đồng sở dụng của cộng đồng là hợp đồng thuê quản lý rừng
(FLMA) dợc lí với các hộ gia đình, cộng đồng , hoặc các nhóm.Trong thời gian
thực hiện hợp đồng các chủ nhân của FLMA đ]ợc phép thu hoạch chế biến sản
phẩm,bán hoạc các hình thức khác.Một dạng thứ 2 của hợp đồng cộng đồng ở
philippine là công nhận quyền quản lí của các dân tộc thiểu số trên mảnh
đất tổ tiên họ để lại, ngời nông dân dợc kí hợp đồng nhận đất nhận rừng với
chính phủ trong 25 năm và có thể kéo dài 25 năm tiếp theo.ở philippine đã
hình thành công nghệ phát triển canh tác trên đất dốc (salt-sloping agriculural
land technology) ,salt là hệ thống canh tác phát triển nông lâm nghiệp , bảo vệ
đất , thích hợp với hình thức lâm nghiệp trang trại.
Vấn đề giao đất giao rừng giữa các nớc đang phát triển có sự khác nhau
rất nhiều.Tất cả các nớc t bản phát triển dân số tăng chậm,trái lại năng suất
công nghiệp , nông nghiệp lại tăng nhanh nên không có nạn thiếu đất cho nông
nghiệp mà trái lại ,ở nhiều nớc tây âu đang có vấn đề rút bởt đất nong nghiệp để
trả lại cho lâm nghiệp. Chế độ t hữu ở các nớc đó đã sản sinh ra một tầng lớp
tiểu chủ đông đảo về rừng.
ở Pháp, rừng t nhân chiếm khoảng 10 triệu ha và rừng của nhà nớc chiếm
gần 4 Triệu ha trong đó 10 Triệu ha rừng t nhân thì có 1/2 thuộc về 1,5 Triệu
tiểu chủ.
Thuỵ Diển , 25% rừng và đât rừng thuộc về nhà nớc, 25% thuộc về các
công ty lớn và 50% thuộc về t nhân , cá thể.ở đây vấn đề giao đất giao rng cho
nong dân không đợc nêu lên.
ở phần Lan, có khoảng 2/3 tổng diên tích đất lâm nghiệp thuộc về quyền
sở hu t nhân, khoảng 430000 chủ rừng và mỗi chủ rng tính biònh quân có
khoảng 33 ha. ở đây sở hữu cá nhân về rừng và đất rừng mang tính truyền thống
Chơng 2
Đánh giá tình hình thực hiện chính sách giao đất lâm nghiệp và hiệu quả của
việc giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình tại huyện yên bình
I-Chính sáh giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam và tình hình thực hiện các chủ
Các chủ trơng, chính sách GĐGR trong giai đoạn này đựoc triển khai
trong cơ chế quản lý sản xuất kinh doanh với 2 thành phần kinh tế cơ bản: Quốc
doanh (lâm trờng) và tập thể (hợp tác xã). Vai trò kinh tế HGĐ cha xác định là
đơn vị kinh tế độc lập và có vai trò chủ đạo trong sản xuất đặc biệt là sản xuất
lâm nghiệp phụ thuộc vào cơ chế quản lý và phơng cách điều hành của sản xuất
nông nghiệp mặc dù hai lĩnh vực này có nhiều nét tơng đồng song cũng có
nhiều mặt khác nhau.
Giao đất lâm nghiệp trong giai đoạn này cha phát huy đợc tốt vì chế độ
chính sách tuy đã có nhng rất khó thực hiện (QĐ 272/CP về cho vay vốn với rất
nhiều điều kiện ràng buộc, đối tợng đợc vay là HTX chứ không phải là HGĐ).
Ngày công lao động của ngời trồng rừng do HTX điều hoà từ sản xuất nông
nghiệp, chế độ phân phối sản phẩm trồng rừng cũng do HTX định đoạt do đó
không có tác dụng thúc đẩy sản xuất lâm nghiệp phát triển làm giảm tiềm năng
lao động và thu nhập từ sản xuất lâm nghiệp.
Từ khi có Nghị quyết 10 của Bộ chính trị, HGĐ đã thực sự đợc coi trọng,
đợc xác định là đơn vị sản xuất tự chủ, song sản xuất lâm nghiệp với nhiều nét
đặc thù (lao động vất vả, chu kỳ kinh doanh dài.) hình thức tổ chức, phơng pháp
điều hành phân phối trong sản xuất lâm nghiệp ở HTX (nông-lâm, lâm-nông)
nh thế nào cho hiệu quả cao hầu nh cha đợc tổng kết và phổ cập từ trung ơng
đến địa phơng.
Việc giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đợc quy
định tại Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991; Luật đất đai năm 1993; Luật
sửa đổi bổ sung một số điều của luật đất đai đợc Quốc hội thông qua ngày
02/12/1998; Nghị định 02/CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ. Để đáp ứng yêu
cầu thực tiễn đổi mới, khắc phục những tồn tại về công tác giao đất lâm nghiệp,
ngày 16/11/1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định 163/1999/NĐ-CP về việc
giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn
định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, thay thế cho Nghị định 02/CP.
Theo các quy định hiện hành, đất lâm nghiệp thuộc sở hữu toàn dân. Nhà
nớc khuyến khích các thành phần kinh tế nhận đất trống, đồi núi trọc, đồng thời
chỗ. Từ khi có chơng trình 327, cùng với các dự án ĐCĐC..các lâm trờng đều là
các chủ dự án của chơng trình, dịch vụ cho các HGĐ, tổ chức thực hiện theo kế
hoạch hàng năm.
Từ tình hình tổ chức, quản lý lâm nghiệp nêu khái quát ở trên đã có ảnh
hởng tích cực và phát sinh những tồn tại trong giao đất lâm nghiệp cho các hộ
gia đình.
3-Tình hình thực hiện các chủ trơng chính sách về giao đất lâm
nghiệp cho HGĐ của tỉnh Yên Bái qua các thời kỳ
3.1-Quá trình thực hiện việc giao đất lâm nghiệp cho HGĐ
(1)Giai đoạn 1980-1988
Giai đoạn này công tác giao đất, giao rừng đã có nội dung cụ thể , vận
dụng Chỉ thị 100 CT/TW các HTX đã tổ chức khoán rừng cho lao động. Phơng
pháp giao chủ yếu giao đất rừng và rừng cho quốc doanh, hồ sơ giao đất đơn
giản dựa trên cơ sở quy hoạch của lâm trờng, tỉnh ra quyết định giao đất giao
rừng cho các đơn vị. Đối với hộ nông dân chủ yếu giao đất làm vờn rừng, diện
tích giao hạn chế, hộ nông dân nhận khoán thông qua HTX giao.
(2)Giai đoạn 1988-1993
Đây là giai đoạn đổi mới toàn diện cơ chế quản lý kinh tế trong nông lâm
nghiệp. Hộ nông dân đợc xác định là đơn vị kinh tế tự chủ, nhiều vùng sản xuất
đợc hình thành có hiệu quả kinh tế: vùng chè của tỉnh 6.900 ha, vùng quế 6500
ha, vùng trồng nguyên liệu giấy 20.000 ha. Các nông lâm trờng xây dựng các
dự án 327 về phủ xanh đất trống đồi núi trọc lấy hộ nông dân là đối tợng giao
đất, giao rừng theo phơng thức khoán.
-Phơng pháp giao đất:
+Các hộ nông dân hoặc cá nhân muốn nhận rừng để kinh doanh lâm
nghiệp làm đơn nói rõ phơng hớng sản xuất nếu nhận dới 10 ha, nếu >10 ha
phải có kế hoạch sản xuất
+Đơn xin nhận đất nhận rừng có xác nhận của UBND xã, cam kết của
ngời nhận đất trống để trồng rừng theo phơng thức kết hợp, rừng tái sinh, rừng
phòng hộ để quản lý, không để hiện tợng đất hoang hoá hoặc sử dụng sai mục