TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA SƯ PHẠM TIỂU HỌC - MẦM NON
-----------------
TRƯƠNG THỊ NHƯ QUỲNH
ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT HỘI THOẠI VÀO DẠY
TẬP LÀM VĂN NÓI CHO HOC SINH LỚP 2, 3 Ở TRƯỜNG
TIỂU HỌC SỐ 2 BẮC LÝ – ĐỒNG HỚI – QUẢNG BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: GIÁO DỤC TIỂU HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: 2012 - 2016
Người hướng dẫn khoa học:
TS. NGUYỄN THỊ NGA
QUẢNG BÌNH, NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi, các số liệu và kết
quả trong khóa luận là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình nào
khác.
Tác giả
Trương Thị Như Quỳnh
Đồng
năm 2016
Hới,
tháng
5
Tác giả: Trương Thò Như
Quỳnh
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT
Viết tắt
Nghĩa đầy đủ
1
TLV
Tập làm văn
2
SGK
Sách giáo khoa
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài: ........................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề: ............................................................................................................2
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài: ..................................................................................3
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu của đề tài: ...........................................................4
5. Giả thuyết khoa học: ....................................................................................................4
6. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: .................................................................................4
7. Giới hạn nghiên cứu của đề tài: ...................................................................................4
8. Phương pháp nghiên cứu của đề tài:............................................................................4
9. Đóng góp mới của đề tài: ............................................................................................5
10. Thời gian thực hiện đề tài ..........................................................................................5
11. Cấu trúc đề tài ............................................................................................................5
PHẦN NỘI DUNG ..........................................................................................................6
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC DẠY ....................................................6
TẬP LÀM VĂN NÓI ......................................................................................................6
1.1. CƠ SỞ LÍ THUYẾT .................................................................................................6
1.1.1. Lý thuyết hội thoại.................................................................................................6
1.1.2. Cơ sở tâm lí học:..................................................................................................14
1.1.3. Cơ sở của việc dạy nói.........................................................................................16
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN ..............................................................................................18
1.2.1 Nội dung chương trình dạy – học Tập làm văn nói ở lớp 2, 3 .............................18
LÍ ...................................................................................................................................59
3.1 MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM: ...............................................................................59
3.2. Nội dung thực nghiệm ............................................................................................59
3.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ ĐỊA BÀN THỰC NGHIỆM: ...................................................61
3.4. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM..................................................................................62
3.4.1. Kết quả định tính (qua điều tra quan sát và phiếu hỏi)........................................62
3.4.2. Kết quả định lượng (qua các bài kiểm tra) ..........................................................62
3.4.3.Nhận xét chung .....................................................................................................63
PHẦN KẾT LUẬN .......................................................................................................85
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................86
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Có thể nói, quan điểm phát triển lời nói là một trong những phương hướng xây
dựng chương trình môn Tiếng Việt cải cách giáo dục ở Tiểu học. Sự phát triển của ngữ
dụng học trong những năm gần đây đã đặt giao tiếp và hội thoại vào một vị thế mới.
Trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học, hội thoại gắn với tình huống giao tiếp
đã trở thành một nội dung học tập. Phân môn Tập làm văn là phân môn có vai trò đặc
biệt quan trọng trong việc rèn kỹ năng này cho học sinh Tiểu học mà đặc biệt là trong
tập làm văn nói.
Mục tiêu của chương trình Tập làm văn lớp 2, 3 thực chất là thông qua hệ thống
các bài tập thực hành tổng hợp về Tiếng Việt, giúp hình thành và phát triển cho học
sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt để học tập, giao tiếp. Qua đó, góp phần rèn luyện
các thao tác tư duy, giáo dục tư tưởng, tình cảm và mĩ cảm cho các em.
Yêu cầu của tiết tập làm văn nói ở lớp 2 phần lớn ở mức độ bước đầu cho học
sinh làm quen với việc tạo lập ngôn bản nói qua từng công đoạn, với những yêu cầu
đơn giản như: nhắc lại lời người nói trong tranh, nói lời đáp phù hợp với tình huống đã
cho…Ở lớp 3 thì nghi thức lời nói được giảm bớt mà tăng các văn bản nhật dụng trong
cuộc sống cho các em.
THUYẾT HỘI THOẠI VÀO DẠY TẬP LÀM VĂN NÓI CHO HỌC SINH LỚP
2, 3 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 2 BẮC LÝ – ĐỒNG HỚI – QUẢNG BÌNH.”
2. Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề hội thoại
Hội thoại là hoạt động cơ bản của ngôn ngữ, vì vậy lí thuyết hội thoại là một
phần không thể thiếu của ngữ dụng học. Từ năm 1970 hội thoại trở thành đối tượng
chính thức của một phân ngành ngôn ngữ học, ngành phân tích hội thoại. Cho đến nay,
ngôn ngữ học của hầu hết các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam đều bàn đến
hội thoại.
Trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học – tập 2 ngữ dụng học, tác giả Đỗ Hữu Châu
giải thích “Hội thoại là một hoạt động giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến trong
sự hành chức của ngôn ngữ”. Lí thuyết hội thoại là lĩnh vực nghiên cứu cuối cùng của
ngôn ngữ học quan tâm đến các diễn ngôn trong hoạt động, trong hoàn cảnh giao tiếp.
Chính vì vậy, nghiên cứu hội thoại phải nghiên cứu tổng hòa những tri thức về cấu trúc
ngôn ngữ, những tri thức ngữ dụng và cả những tri thức xã hội học, tâm lí học, văn hóa
học. Mặt khác qua nghiên cứu hội thoại, chúng ta mới có được những hiểu biết đầy đủ,
toàn diện tất cả những thành tố tạo nên ngôn ngữ và những thành phần nằm trong lĩnh
vực ngữ dụng học vốn từng được xem xét riêng lẽ trước đây.
Ở cuốn Dụng học Việt ngữ, tác giả Nguyễn Thiện Giáp đã trình bày những vấn đề
của lí thuyết hội thoại bằng những dẫn chứng sinh động cụ thể, bằng sự sáng rõ trong
phân tích, mạch lạc trong cách trình bày. Trong cuốn sách này tác giả cũng không
quên đề cập đến mối liên quan giữa văn hóa và ngôn ngữ. Ngoài hai công trình đó còn
rất nhiều những công trình nghiên cứu có tính dẫn luận về Ngữ dụng học nói chung và
lí thuyết hội thoại nói riêng.
2
- Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, tập 1, NXB giáo dục.
- Đỗ Hữu Châu (2002), giáo trình giản yếu về Ngữ dụng học, NXB Đại học Quốc
- Làm rõ mối liên hệ chặt chẽ giữa lí thuyết hội thoại với việc rèn kĩ năng nói, kĩ
năng giao tiếp thông qua Tập làm văn nói cho học sinh lớp 2, 3.
- Làm rõ sự cần thiết của việc vận dụng lí thuyết hội thoại vào việc rèn kĩ năng
nói, kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 2, 3.
3
- Làm rõ hiệu quả của việc ứng dụng lí thuyết hội thoại vào dạy Tập làm văn nói
cho học sinh lớp 2, 3.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Khách thể: Là phân môn Tập làm văn 2, 3 và học sinh lớp 2, 3 giáo viên dạy
lớp 2, 3.
- Đối tượng nghiên cứu: Lí thuyết hội thoại, phân môn Tập làm văn, học sinh và
giáo viên khối lớp 2, 3
5. Giả thuyết khoa học
Đề tài thực hiện thành công sẽ giúp học sinh rèn kĩ năng nói, kĩ năng giao tiếp
phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp sao cho đúng cấu trúc và quy tắc hội thoại. Từ đó có ý
thức rèn luyện kĩ năng nói, kĩ năng giao tiếp tích cực, yêu thích phân môn Tập làm
văn, yêu thích bộ môn Tiếng Việt, yêu thích tiếng mẹ đẻ cũng như tôn trọng nó và có
mĩ cảm trong giao tiếp, ứng xử của người học sinh.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu về lí thuyết hội thoại
- Nghiên cứu về đặc điểm tâm lí và ngôn ngữ lứa tuổi lớp 2, 3
- Nghiên cứu về chương trình SGK, tài liệu giảng dạy thực tế thuộc phân môn
Tập làm văn nói ở lớp 2, 3
- Thực nghiệm sư phạm
7. Giới hạn nghiên cứu của đề tài
- Sơ lược về lí thuyết hội thoại
- Phân môn Tập làm văn nói ở lớp 2, 3
- Trường Tiểu học số 2 Bắc Lý
Từ ngày 15 /02/2016 đến 05/2016
11. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, khóa luận được chia thành 3 chương:
Chương I: Cơ sở khoa học của việc dạy Tập làm văn nói
Chương II: Đề xuất các biện pháp dạy Tập làm văn nói cho học sinh lớp 2, 3
trường Tiểu học số 2 Bắc Lý theo lí thuyết hội thoại
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
5
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC DẠY
TẬP LÀM VĂN NÓI
1.1. CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1.1. Lý thuyết hội thoại
* Khái niệm hội thoại
Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa các nhân vật giao tiếp.
nhằm thay đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo đích được đặt ra.[4]
Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng miệng giữa các nhân vật tham dự giao tiếp
nhằm trao đổi những thông tin hoặc trao đổi tư tưởng, tình cảm…theo một mục đích
đã được đặt ra.[10]
Để có thể đi sâu hơn nữa vào việc tìm hiểu hội thoại, chúng ta cùng xem xét đoạn
trích sau:
- Mẹ Sơn: Chào cháu
- Nam: Cháu chào cô ạ!
- Mẹ Sơn: Cháu cho cô hỏi đây có phải nhà bạn Sơn không?
- Nam: Vâng ạ! Cháu là Nam đây! Cô hỏi gì cháu ạ?
- Mẹ Sơn: Tốt quá cô là mẹ bạn Sơn đây
- Nam: Thế ạ!
chia thành các kiểu hội thoại sau:
- Xét theo phạm vi xã hội của đề tài hội thoại
- Xét theo tính chất tự do hay bắt buộc của đề tài trong hội thoại.
Nếu căn cứ vào hoàn cảnh giao tiếp hẹp diễn ra hội thoại chúng ta chia hội thoại
thành.
- Hội thoại có tính chất nghi thức chính thức, mang tính chất quy phạm
- Hội thoại không mang tính nghi thức
Như vậy, để giao tiếp có hiệu quả, bên cạnh việc nắm các quy tắc ngôn ngữ để
xây dựng ngôn bản, chúng ta còn phải nắm các quy tắc nói năng để chủ động tạo ra
những lời nói phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp miệng.
1.1.1.1. Các vận động hội thoại
Khi theo dõi một cuộc hội thoại, ví dụ như cuộc hội thoại giữa Nam và mẹ Sơn
đã dẫn ra ở trên, chúng ta có thể hình dung được những nét chung nhất về những vận
động chính trong một cuộc hội thoại. Đó là sự vận động trao lời, sự vận động đáp lời
và sự vận động tương tác. Chúng ta sẽ cùng xem xét về các vận động này.
a, Vận động trao lời
Trong một cuộc thoại, một người nào đó nói ra, hướng tới người nghe đang ở
trước mặt, ta gọi vận động đó là vận động trao lời. Lời trao có những đặc điểm riêng
khác biệt về nội dung và hình thức với lời đáp. Do đó, khi đóng vai trò là người trao
lời, người nói cần đảm bảo một số yêu cầu nhất định.
- Biết tự quy chiếu vị thế xã hội trong việc trao lời. Tùy vào mối quan hệ xã hội,
tuổi tác, trình độ học vấn…giữa người nghe và người trao mà người trao lời sẽ chọn
một từ xưng hô phù hợp nhất. Xác định vị thế xã hội sai thì việc giao tiếp chắc chắn sẽ
không đạt hiệu quả.
7
- Giữ vai trò khởi xướng hội thoại, lời trao phải biết định hướng hội thoại, nêu đề
tài hội thoại và thường giữ thế chủ động lái hội thoại theo chiều đã định.
- Phải bộc lộ rõ ràng sự quan tâm, chú ý đến nội dung cuộc thoại và thể hiện
gia giao tiếp.
8
Sự hòa phối tốt là sự hòa phối nhịp nhàng giữa lời người nói và lời người nghe.
Điều quan trọng là người tham dự giao tiếp phải chú ý tiếp nối lượt lời của mình đúng
lúc, đúng chỗ, đảm bảo cuộc hội thoại được tiến hành liền mạch.[10]
1.1.1.2. Các quy tắc hội thoại
a, Quy tắc thương lượng hội thoại.
Thương lượng hội thoại là sự thỏa thuận giữa những người tham dự giao tiếp về
đề tài, về nội dung, về vị thế giao tiếp… để việc giao tiếp được tiến hành thuận lợi.
Khi đã có sự thỏa thuận thống nhất, việc giao tiếp mới có thể tiếp tục. Sự thương
lượng thường nhằm vào một số điểm chính sau:
- Thương lượng về hình thức hội thoại.
- Thương lượng về nội dung hội thoại.
- Thương lượng về cấu trúc hội thoại.
Việc kết thúc có thể là lời cảm ơn, lời tạm biệt, lời hứa hẹn hoặc lời nhắn nhủ, lời
khuyên răn, cảnh báo.
VD: Đoạn thoại trong phần a của bài tập 2 (tiết Tập làm văn đáp lời đồng ý,
sách Tiếng Việt 2, tập 2, tr 66).
- Hương cho tớ mượn cái tẩy nhé.
- Ừ.
- Cảm ơn cậu nhé.
(Tập làm văn 2 – tập 2 – tr66)
- Thương lượng về vị thế hội thoại.
b, Quy tắc luân phiên lượt lời.
Khi có hai người tham dự giao tiếp thì hai người này phải biết luân phiên lượt lời
cho nhau. Khi người này nói, người kia phải biết nhường lời, phải biết dừng lại để
nghe. Dấu hiệu của sự kết thúc lượt lời là sự trọn vẹn về ý, về cú pháp, ngữ điệu, các
Về hình thức, các lượt lời cũng cần có những dấu hiệu cụ thể. Việc dùng các
phép thế, phép lặp, phép nối…chính là những dấu hiệu liên kết hội thoại về hình thức.
d, Quy tắc tôn trọng thể diện của nhau
Chính là quy tắc buộc người tham dự giao tiếp phải giữ thể diện cho nhau. Khi
giao tiếp cả người nói lẫn người nghe cần nói sao cho phù hợp, lựa chọn lời sao cho
phù hợp để giữ được thể diện cho cả hai phía.
e, Quy tắc khiêm tốn
Quy tắc này đòi hỏi người nói khi hội thoại không nên nói về mình quá nhiều,
không nên nói lời khen, lời tán dương bản thân. Điều này khiến cho người nghe khó
chịu. Hãy nói về mình ít hơn, hãy hạ mình đi một chút thì hiệu quả giao tiếp chắc sẽ
tăng lên. Đó là điều nên lưu ý khi hội thoại.
f, Quy tắc cộng tác
Chỉ có người nói không có người nghe hoặc ngược lại thì không thành hội thoại.
Trong hội thoại cần có sự cộng tác hội thoại với nhau thì quá trình giao tiếp mới diễn
ra được. Do đó, khi hội thoại người nói cần phải:
- Nói những thông tin đúng như đích hội thoại yêu cầu
- Đừng nói những điều gì không đúng hoặc chưa đủ bằng chứng
10
- Nói những gì có quan hệ với hội thoại
- Tránh nói tối nghĩa, nói mập mờ
- Nói ngắn gọn, rõ ràng
Những quy tắc hội thoại nói trên là những quy tắc cần thiết trong hội thoại, trong
giao tiếp. Chúng ta cần tôn trọng những quy tắc này. Khi hội thoại những người nào
liên tục vi phạm những quy tắc đó thì người đó chắc chắn chưa nắm được tính văn hóa
trong giao tiếp.[10]
1.1.1.3 Các nhân tố giao tiếp và hội thoại
* Ngữ cảnh
Nhân vật hội thoại là những người tham gia hội thoại, mối quan hệ giữa các nhân
Mạnh hoặc
yếu
Quan hệ thân
cận
Thân – Sơ
Thân thiết –
Lạnh lùng
Quý mến – Xa
lạ
Môi trường
hội thoại
Hoàn cảnh
xã hội
Hội thoại
Tình huống
hội thoại
Hiện thực –
Đề tài hội
thoại
Hiện thực bên ngoài hội thoại gồm có nhiều yếu tố tác động lẫn nhau, có thể sơ
đồ hóa như sau:
tham dự.
c, Các đơn vị hội thoại
Hội thoại gồm những loại đơn vị sau:
- Các đơn vị lưỡng thoại:
Đó là những đơn vị phải có ít nhất hai nhân vật giao tiếp cùng tạo nên. Đơn vị
lưỡng thoại gồm có:
+ Cuộc thoại
- + Đoạn thoại
- + Cặp thoại
- Các đơn vị đơn thoại:
- Đó là những đơn vị do một người tạo ra trong một lần trao lời. Đơn vị đơn thoại
bao gồm
+ Tham thoại
+ Hành vi ngôn ngữ
Dưới đây chúng ta chỉ xem xét những biểu hiện của các đơn vị này trong kiểu hội
thoại thường gặp nhất, đặc trưng cho những cuộc hội thoại trong xã hội. Đó là kiểu hội
thoại có sự hiện diện của các người nói và người nghe tại một địa điểm và trong một
thời gian liên tục.
* Các đơn vị lưỡng thoại
+ Cuộc thoại
Cuộc thoại là toàn bộ cuộc trao đáp, trò chuyện giữa các nhân vật tham dự hội
thoại kể từ khi kết thúc cuộc trò chuyện đó. Một cuộc thoại có thể có nhiều đề tài.
Nhiều đích mà cũng có thể có một đề tài, một đích duy nhất.
+ Đoạn thoại
Đoạn thoại chỉ là một bộ phận của cuộc thoại. Việc tách biệt đoạn thoại này với
đoạn thoại khác trong cuộc thoại phải dựa trên đề tài và đích hội thoại. Mỗi một đoạn
thoại được đánh dấu bởi một đề tài và một đích. Khi chuyển đề tài và chuyển đích ta sẽ
có một đoạn thoại khác.
Người ta có thể nhận biết được đoạn thoại trong cuộc thoại vì những dấu hiệu
hình thức của nó. Mỗi một đoạn cũng có thể có những dấu hiệu mở đoạn, thân đoạn và
chức một cách khoa học mà ở học sinh tiểu học hình thành được những cơ sở ban đầu
của kiểu tư duy mới ( tư duy khoa học hay còn gọi là tư duy lí luận), mà trước khi đến
trường hay học theo phương pháp cũ các em không thể đạt được. Đó là tiền đề tốt đẹp
cho việc hình thành ở học sinh mối quan hệ có tính sáng tạo đối với thế giới xung
quanh.
Học sinh tiểu học có tình cảm hồn nhiên, mang nặng màu sắc cảm tính. Cùng với
quá trình học tập và phát triển tâm lí, tình cảm đó được củng cố và phát triển trên cơ sở
nhận thức ngày càng đứng đắn hơn, đầy đủ và chuẩn mực hơn của các mối liên hệ
trong cuộc sống của các em.
Có thể nói, ở mỗi độ tuổi khác nhau, việc tiếp nhận tiếng mẹ đẻ của trẻ đều chịu
sự chi phối của sự phát triển tâm sinh lí. Dạy Tiếng Việt nói chung, dạy tập làm văn
nói riêng, chúng ta phải chú ý đến đặc điểm tâm lí lứa tuổ để từ đó tìm ra phương
hướng, biện pháp giảng dạy thích hợp. Đối với học sinh lớp 2, 3 ở độ tuổi này thì đặc
14
điểm của tri giác còn đượm màu sắc cảm xúc, chưa có khả năng quan sát tinh tế, chú ý
đến các chi tiết ngẫu nhiên, chưa có khả năng tổng hợp. Tri giác vẫn chưa thực sự
mang tính mục đích và có phương hướng rõ ràng. Khả năng tư duy vẫn còn mang tính
cảm tính, mang tính trực quan cụ thể.
Khả năng tưởng tượng của các em phát triển. Tuy nhiên quá trình tưởng tượng
còn tản mạn và ít tổ chức. Hình ảnh của tưởng tượng chưa được gọt giũa, chưa được
bền vững. Học sinh Tiểu học rất hồn nhiên và có khả năng phát triển, còn bở ngỡ. Do
đó, trong dạy học người giáo viên cần nắm chắc những đặc điểm tâm lí của các em học
sinh. Ở cùng một độ tuổi nhưng sự phát triển tâm lí của các em khác nhau. Các em
thường tiếp nhận những hình ảnh cảm tính, những biểu tượng cụ thể. Chương trình tập
làm văn ở Tiểu học nói chung và ở lớp 2, 3 nói riêng đã bước đầu chú ý đến đặc điểm
tâm sinh lí lứa tuổi để xây dựng nội dung cũng như cấu trúc chương trình.
Vì vậy, để có phương pháp giảng dạy đúng đắn, phù hợp, khoa học nhằm đạt
hiệu quả dạy – học cao. Bên cạnh nắm trình độ, năng lực của học sinh người giáo viên
trong phát âm, tìm biện pháp làm giàu vốn từ cho trẻ, rèn luyện ngôn ngữ nói, viết cho
các em ngay từ lớp 1, uốn nắn kịp thời những sai sót trong ngôn ngữ của HS, đặc biệt
là những thói quen như nói ngọng, nói lắp, nói trống không,... Muốn vậy bản thân GV
phải có ngôn ngữ chuẩn mực, trong sáng, ngữ điệu phù hợp khi dạy học - giao tiếp với
các em.[11]
1.1.3. Cơ sở của việc dạy nói
1.1.3.1. Mối quan hệ giữa hoạt động lời nói với các kỹ năng làm văn
Lý thuyết hoạt động lời nói là một lĩnh vực được các nhà khoa học nghiên cứu
trên cơ sở vận dụng những thành tựu của tâm lí học hoạt động đi sâu nghiên cứu trong
các mối quan hệ qua lại, các giai đoạn của quá trình hoạt động lời nói. Lí thuyết hoạt
động lời nói cho rằng, hành vi nói năng rất đa dạng nhưng lại có chung một cấu trúc
gồm bốn giai đoạn: định hướng, lập chương trình, hiện thực hóa và kiểm tra. Chúng
được thực hiện kế tiếp nhau một cách liên tục. Theo A.N.Lê – Ôn chép “Để giao tiếp
được trọn vẹn, về nguyên tắc, con người cần nắm được các kĩ năng: kĩ năng định
hướng giao tiếp, kĩ năng lập chương trình lời nói, kĩ năng xác định được những
phương tiện hợp lí để truyền đạt nội dung và cuối cùng là cần phải đảm bảo mối quan
hệ qua lại giữa các kĩ năng đó. Nếu như một mắt xích nào đó của hoạt động giao tiếp
bị phá hủy thì kết quả giao tiếp sẽ không hiệu quả”.[5]
Các nhà nghên cứu cũng nhận thấy, giữa hệ thống kĩ năng hoạt động lời nói và
hệ thống kĩ năng làm văn có những mối quan hệ tương đồng. Vì vậy, các kĩ năng làm
văn được dạy ở Tiểu học cũng được xây dựng trên cơ sở quy trình sản sinh lời nói.
Cấu trúc hoạt động lời nói
Hệ thống kĩ năng làm văn
1. Định hướng
- Nhận diện đặc điểm văn bản
- Phân tích đề bài, xác định yêu cầu
nói thường dùng nhiều từ chêm., xen, đưa đẩy hoặc có hiện tượng dư thừa một số từ
ngữ nhất định. Về mặt đặt câu, ngôn bản nói cũng thường dùng kiểu câu ngắn, kết cấu
đơn giản. Loại câu này giúp người ta dễ theo dõi. Bên cạnh đó, ngôn bản nói có thể
dùng nhiều câu tỉnh lược mà do điều kiện cho phép, người ta vẫn hiểu đúng nội dung
của câu.
Sản phẩm Tập làm văn của học sinh được xem là một ngôn bản. Vì vậy, trong
quá trình rèn luyện kĩ năng làm văn, kĩ năng hội thoại cho học sinh, giáo viên cần chú
ý đến đặc điểm của dạng ngôn bản nói để rèn luyện cho các em. Đồng thời, xây dựng
các đề bài gắn với tình huống giao tiếp tự nhiên của Học sinh, tạo cho các em nhu cầu
giao tiếp tự nhiên. Việc đánh giá cũng căn cứ vào mục đích giao tiếp của ngôn bản.[7]
1.1.3.3. Vai trò của việc dạy nói đối ớ học sinh lớp 2, 3
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội loài người, ngôn
ngữ tồn tại dưới hai dạng: nói và viết. Cùng diễn đạt một nội dung nào đó bằng
phương tiện ngôn ngữ, có thể sử dụng dạng nói hoặc viết theo yêu cầu, mục đích, đối
tượng, điều kiện, hoàn cảnh giao tiếp. Việc rèn kĩ năng nói rất có ích đối với sự phát
triển và trưởng thành của học sinh đồng thời giúp học sinh phát triển sự nhận thức về
thế giới xung quanh.
Tác giả M.R.Lvov trong bài viết cơ sở lí luận của việc dạy ngôn ngữ đã khẳng
định “ Ngôn ngữ chỉ có sự sống trong quá trình của nó, trong hành động nghĩa là
trong lời nói. Chỉ trong lời nói ngôn ngữ mới có ý nghĩa thực hành, chỉ trong lời nói
ngôn ngữ mới thể hiện những khả năng tiềm tàng”.[7]
Trong cuốn “Dạy học Tiếng Việt – giáo trình đào tạo cử nhân GD Tiểu học –
NXB ĐHSP Hà Nội – 1995” cũng đã chỉ rõ nguyên tắc giao tiếp đòi hỏi phải tổ chức
hoạt động nói năng cho học sinh để dạy học Tiếng Việt. Nghĩa là phải sử dụng giao
tiếp như là một phương pháp dạy học chủ đạo vì: Nếu ngôn ngữ được coi là phương
tiện giao tiếp thì lời nói được coi là bản thân sự giao tiếp bằng ngôn ngữ. Dạy Tiếng
17
Việt theo phương pháp giao tiếp tức là dạy phát triển lời nói cho từng cá nhân học sinh.
hiện đoạn, bài
1
Tự giới thiệu
Tự thuật
Câu và bài
2
Chào hỏi, tự giới thiệu
Tự thuật
3
4
Sắp xếp câu trong bài
Tra mục lục sách
Kể ngắn theo tranh
Cảm ơn, xin lỗi
5
6