CHƯƠNG 1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả
nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một
công trình khác.
Quảng Bình, tháng 5 năm 2015
1.1.1.1.1
Tác giả khóa luận
Lê Thị Cẩm Hằng
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, em đã được nhận sự giúp
đỡ tận tình của giảng viên hướng dẫn và các giảng viên trong khoa Sư phạm
Tiểu học – Mầm non; sự quan tâm, tạo điều kiện của Ban giám hiệu nhà trường.
Lời cảm ơn đầu tiên và chân thành nhất em xin gửi tới Tiến sĩ Mai Thị Liên
Giang – người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và
hoàn thành đề tài này.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong khoa Sư phạm
Tiểu học – Mầm non nói riêng và trường Đại học Quảng Bình nói chung, xin
gửi đến gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện và đóng góp ý kiến giúp em hoàn
thành khóa luận.
Qua đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn đến quý thầy cô khối 5 và tập thể các
lớp 51, 52, 53 trường Tiểu học Số 2 Bắc Lý – TP.Đồng Hới – Quảng Bình đã tạo
điều kiện và giúp đỡ em tiến hành tốt phần thực nghiệm sư phạm.
Đồng Hới, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
1.3 Những vấn đề lí luận về dạy học cho học sinh lớp 5..................................................7
1.3.1 Điều chỉnh chương trình day học phù hợp với năng lực và trình độ của học sinh
…..7 1.3.2 Thiết kế và tiến hành bài học có hiệu quả ...................................................... 9
1.4 Những vấn đề lí luận về dạy học cho học sinh lớp 5 trong phân môn Chính tả........10
1.4.1 Cơ sở tâm lý học của việc dạy chính tả ở Tiểu học................................................10
1.4.2 Một số đặc điểm của học sinh ảnh hưởng đến việc rèn kỹ năng viết chính tả........11
1.4.3 Môi trường giáo dục học sinh.................................................................................12
1.4.4 Dạy học kỹ năng viết chính tả cho học sinh lớp 5..................................................12
1.4.4.1 Vị trí dạy học phân môn chính tả ở Tiểu học......................................................12
1.4.4.2 Mục tiêu và nhiệm vụ của phân môn chính tả ở Tiểu học...................................13
1.4.4.3 Nội dung dạy học trong phân môn chính tả lớp 5................................................13
1.4.4.3.1 Chính tả đoạn bài..............................................................................................13
1.4.4.3.2 Chính tả âm, vần và chính tả viết hoa...............................................................14
1.4.4.4 Phương pháp dạy viết đúng chính tả lớp 5..........................................................14
1.4.4.5 Hình thức tổ chức dạy học phân môn chính tả cho học sinh lớp 5......................15
1.4.4.6 Những yêu cầu về kỹ năng viết chính tả trong phân môn chính tả lớp 5.............17
1.4.4.7 Trình tự lên lớp của tiết chính tả lớp 5.................................................................18
1.4.5 Nguyên tắc dạy chính tả ở Tiểu học.......................................................................19
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG KỸ NĂNG VIẾT CHÍNH TẢ CỦA HỌC SINH LỚP 5
TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 2 BẮC LÝ – TP.ĐỒNG HỚI – QUẢNG BÌNH..................21
2.1 Khái quát quá trình khảo sát...................................................................................... 21
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu.................................................................................................21
2.1.2 Qúa trình khảo sát...................................................................................................26
2.1.3 Phương pháp khảo sát.............................................................................................26
2.1.3.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu.........................................................................26
2.1.3.2 Phương pháp quan sát..........................................................................................26
2.1.3.3 Phương pháp phỏng vấn, trò chuyện....................................................................26
2.1.3.4 Phương pháp trắc nghiệm....................................................................................26
3.2.1 Mục đích thực nghiệm............................................................................................52
3.2.2 Đối tượng thực nghiệm...........................................................................................52
3.2.3 Khái quát quá trình thực nghiệm.............................................................................53
3.2.4 Nội dung thực nghiệm............................................................................................53
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ........................................................................................65
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................. 67
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao
tiếp quan trọng nhất mà còn là công cụ tư duy của
một dân tộc nói chung và của các em học sinh
trong nhà trường nói riêng. Là hệ thống ký hiệu
bằng các con chữ và các dấu, chữ viết ghi lại
ngôn ngữ âm thanh, thành tiếng của con người,
giúp con người vượt qua những trở ngại về không
gian và thời gian, ghi lại những kinh nghiệm ngàn
đời về tự nhiên và xã hội, lịch sử dân tộc, sáng
tạo ra các tác phẩm văn chương cho muôn đời.
Đối với nhà trường phổ thông ở Việt Nam, việc
phát âm chuẩn và viết đúng chính tả có tầm quan
trọng đặc biệt, trong việc xây dựng và rèn luyện
ngôn ngữ là tiếng Việt. Môn tiếng Việt có chức
năng là rèn luyện các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết
nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng dạy học
ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ trong nhà trường. Mục tiêu
đầu tiên của giáo dục Tiểu học là rèn luyện cho
học sinh kỹ năng đọc thông viết thạo chữ quốc
TP.Đồng Hới
trạng kỹ năng viết chính tả của học sinh, phân loại
– Quảng Bình còn
các lỗi mà học sinh thường mắc phải và đề ra các
một số điểm chưa
biện pháp để khắc phục lỗi chính tả, sử dụng linh
phù hợp với xu
hoạt các phương pháp trong dạy học chính tả
hướng đổi mới dạy
nhằm nâng cao kỹ năng viết chính tả cho học sinh.
học ở Tiểu học
hiện nay. Việc viết
chính tả của học
sinh lớp 5 còn mắc
lỗi thông thường
như: Viết hoa tự
do, các lỗi do cách
phát âm thực tế
phương ngữ, lỗi
một số biện pháp, góp phần nâng cao chất lượng viết chính tả cho học sinh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể
Các bài viết chính tả của học sinh lớp 5 trường Tiểu học Số 2 Bắc Lý – TP.Đồng
Hới – Quảng Bình.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng viết chính tả của học sinh lớp 5 trường Tiểu học Số 2 Bắc Lý –
TP.Đồng Hới – Quảng Bình.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu có biện pháp khắc phục phù hợp thì sẽ giúp học sinh nâng cao kỹ năng viết
chính tả.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề lí luận về kỹ năng viết chính tả của học sinh lớp 5 trường
Tiểu học Số 2 Bắc Lý, đánh giá thực trạng dạy viết chính tả cho học sinh lớp 5 trường
Tiểu học Số 2 Bắc Lý – TP.Đồng Hới – Quảng Bình, từ đó đề xuất các biện pháp khắc
phục lỗi chính tả cho học sinh lớp 5 trường Tiểu học Số 2 Bắc Lý – TP.Đồng Hới –
Quảng Bình.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên học sinh khối lớp 5 trường Tiểu học Số 2 Bắc Lý –
TP.Đồng Hới – Quảng Bình.
7. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra trong đề tài, chúng tôi đã kết hợp sử dụng các
phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
7.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu, thu thập, xử lý, chọn lọc và khái quát hóa các thông tin, những
nghiên cứu thuộc các vấn đề có liên quan đến đề tài của các tác giả trong và ngoài
nước. Làm sáng tỏ các thuật ngữ liên quan đến đề tài. Xây dựng các cơ sở khoa học về
mặt lí luận cho đề tài.
9. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa
luận gồm có 3 chương nội dung chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
Chương 2: Thực trạng kỹ năng viết chính tả của học sinh lớp 5 trường Tiểu học
Số 2 Bắc Lý – TP.Đồng Hới – Quảng Bình.
Chương 3: Biện pháp và thực nghiệm
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Vấn đề kỹ năng, kỹ năng viết và kỹ năng viết chính tả đã được nghiên cứu dưới
nhiều lĩnh vực như ngôn ngữ học, tâm lý học và cho ra đời nhiều công trình nghiên
cứu của nhiều tác giả khác nhau. Về kỹ năng, các nhà tâm lý học nghiên cứu từ lâu
dưới nhiều góc độ khác nhau. Nhìn chung có hai hướng chính. Đó là: Hướng nghiên
cứu kỹ năng ở mức độ khái quát. Đại diện của hướng nghiên cứu này có:
K.K.Platonov, V.X.Cudin, P.Ia.Galperin, P.V.Peetropxki… P.Ia.Galperin chủ yếu đi sâu
vào vấn đề hình thành tri thức, kỹ năng theo lý thuyết hình thành hành động trí tuệ
theo giai đoạn. K.K.Platonov thì trình bày khái quát ba khái niệm: Tri thức, kỹ xảo, kỹ
năng và mối quan hệ giữa chúng theo quan niệm của ông và các nhà tâm lý khác.
Hướng nghiên cứu kỹ năng ở mức độ cụ thể. Đây là hướng nghiên cứu lớn về kỹ năng,
gắn liền với nhiều nhà tâm lý lớn và trong nhiều hoạt động cụ thể như: Kỹ năng hoạt
động sư phạm (A.A.Leonchive,…), Kỹ năng học tập (G.X.kchiuc, N.A.Menchinxcaia…),
Kỹ năng lao động (V.G.Look, V.V.Tsebbuseva, E.A.Milerian…). Về kỹ năng viết và kỹ
năng viết chính tả nhiều tác giả đã nghiên cứu từ các góc độ khác nhau. Năm 1989 nhà
xuất bản Giáo dục có biên dịch cuốn “ Phương pháp dạy tiếng mẹ đẻ - Các nguyên tắc
tâm lý của việc dạy chính tả” của Đ.N.Bôgôiavlenxki. Năm 2007 nhà xuất bản Đại học
chương trình nhất định.
1.2.2 Điều chỉnh
Điều chỉnh là sự thay đổi mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học
nhằm giúp học sinh phát triển tốt nhất phù hợp với những năng lực và trình độ của học
sinh.
1.2.3 Kỹ năng viết chính tả
1.2.3.1 Kỹ năng
Có rất nhiều khái niệm về kỹ năng, cụ thể:
Theo Từ điển Tiếng Việt “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu
nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế”. Khái niệm kỹ năng của nhà tâm lý
học Nga K.K.Platonov: “Kỹ năng là khả năng của con người thực hiện một hoạt động
bất kỳ nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh nghiệm cũ”. Trong từ điển tâm lý
học của A.V.Peetrovxki và M.G.Jarosecxki chủ biên năm 1990 cho rằng: “ Kỹ năng là
phương thức thực hiện thông thạo hành động của chủ thể dựa trên cơ sở tổ hợp những
tri thức, kỹ xảo đã có”. Kỹ năng được hình thành bằng con đường luyện tập, tạo cho
con ngưởi khả năng thực hiện hành động không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà cả
trong điều kiện đã thay đổi.
1.2.3.2 Khái niệm viết chính tả
Theo Từ điển tiếng Việt: “Viết chính tả là vạch những đường nét tạo thành chữ”.
Chữ viết là hệ thống ký hiệu bằng đường nét đặt ra để ghi tiếng nói và những quy tắc,
quy định riêng. Vậy chính tả là gì? Thuật ngữ chính tả hiểu theo nghĩa gốc là “Phép
viết đúng” hoặc “Lối viết hợp với chuẩn”. Cụ thể, chính tả là hệ thống các quy tắc về
cách viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ, cách viết hoa tên riêng, cách phiên
âm tên riêng nước ngoài, cách viết đúng dấu câu… Chính tả là sự quy định có tính
chất xã hội, nó không cho phép vận dụng quy tắc một cách linh hoạt có tính chất sáng
tạo cá nhân. Tóm lại, có thể hiểu kỹ năng viết chính tả là khả năng vận dụng những tri
thức và hiểu biết đã có vào trong hoạt động viết chính tả. Hình thành cho học sinh kỹ
năng viết chính tả nghĩa là giúp học sinh viết đúng chính tả theo quy định có tính chất
cho học sinh có thể hoàn thành được. Cùng một nhiệm vụ nhưng tùy thuộc vào khả
năng của mỗi em mà giao những phần việc khác nhau. Cùng một nội dung nhưng khác
nhau về thời gian, số lượng và mức độ của kiến thức. Thay đổi cách trợ giúp: Trực tiếp
– gián tiếp, gần – xa, nhiều – ít. Điều chỉnh nội dung về thời gian: Tăng, giảm thời
gian, thường xuyên thay đổi các hoạt động, nghỉ giải lao sau mỗi hoạt động, dành ít
phút để các em xem lại bài, giao các bài tập để học sinh về nhà chuẩn bị trước. Về môi
trường trong lớp học: Phòng học sạch sẽ, thoáng mát. Có chỗ ngồi đảm bảo cân đối,
phù hợp với tầm nhìn, vừa với cơ thể. Sắp xếp lại phòng học. Làm giảm thiểu các tác
động bên ngoài gây mất tập trung như: tiếng ồn, bụi bẩn… Những vấn đề cần điều
chỉnh trong các môn học: Điều chỉnh cách học tập trong các môn học. Các biện pháp
tiến hành giảng dạy: Áp dụng những kĩ thuật giảng dạy để lôi cuốn học sinh, minh họa
bằng mô hình, nhấn mạnh những thông tin quan trọng. Các biện pháp tự quản: Thường
xuyên kiểm tra học sinh, dạy phương pháp học, cho học sinh nhắc lại những vấn đề đã
được hướng dẫn, có kế hoạch để tổng hợp và khái quát kiến thức, dạy cách ứng xử phù
hợp với hoàn cảnh. Kiểm tra bằng nhiều hình thức: Kiểm tra nói, đọc bài kiểm tra cho
học sinh, kiểm tra từng bài ngắn, giới hạn thêm thời gian. Tài liệu và học liệu: Sắp xếp
các tư liệu trong sách, các bài trọng tâm, sử dụng các bài tập bổ trợ kiến thức, các
phương tiện hỗ trợ cho việc ghi chép,… Giao bài tập: Chỉ dẫn từng bước cụ thể, rõ
ràng, giao nhiệm vụ rõ ràng, những bài tập ngắn và không quá khó, học nhóm…
Những biện pháp kích thích, động viên học sinh học tập: Tiếng nói, cử chỉ điệu bộ,
động viên những học sinh còn yếu kém trong những trường hợp cụ thể, tăng cường
tính sáng tạo, vận dụng điểm mạnh và sở thích của học sinh.
1.3.2 Thiết kế và tiến hành bài học có hiệu quả
Trong dạy học ở Tiểu học, nhiệm vụ của giáo viên đóng vai trò quan trọng:
Giảng dạy, giáo dục đảm bảo chất lượng theo chương trình giáo dục, kế hoạch bài học;
soạn bài, lên lớp, kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh, quản lý học sinh trong các hoạt
động giáo dục do nhà trường tổ chức; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giảng
dạy và giáo dục. Giáo viên phải trau dồi đạo đức, nêu cao tinh thần trách nhiệm, giữ
từ thấp đến cao. Đây là một công cụ quan trọng giúp giáo viên biên soạn và tiến hành
bài học có hiệu quả. Trước hết chúng ta cần chú ý Tiến trình thiết kế và tiến hành bài
học trong phân môn tiếng Việt có hiệu quả, theo tiếp cận tổng thể: Tìm hiểu năng lực,
nhu cầu và sở thích của học sinh. Xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung và phương
pháp tiến hành bài học. Xác định nội dung bài học. Xác định, sắp xếp các hoạt động
dạy – học và phương pháp tiến hành. Thiết kế tiến trình giờ học. Cấu trúc của bất kì
giờ học nào cũng gồm các khâu: mở bài, giải quyết bài, và kết thúc bài. Toàn bộ các
khâu đều phải bám sát theo mục tiêu, hướng vào mục tiêu. Tuy nhiên, nhiệm vụ của
các khâu lại có những điểm khác nhau. Đặc biệt khi giải quyết bài học giáo viên cần
lưu ý để đảm bảo khâu này có hiệu quả trong giờ học: phải giải thích rõ ràng cho học
sinh hiểu, mô hình hóa các kiến thức, thu nhận phản hồi từ phía học sinh, khuyến
khích học sinh nêu ý kiến, những thắc mắc của mình về các vấn đề các em chưa hiểu
rõ, giáo viên ra quyết định điều chỉnh, tạo động cơ học tập cho học sinh. Từ đó các em
có thái độ tích cực trong học tập, ham muốn học hỏi để sửa chữa lỗi sai.
1.4 Những vấn đề lí luận về dạy học cho học sinh lớp 5 trong phân môn Chính tả
1.4.1 Cơ sở tâm lý học của việc dạy chính tả ở Tiểu học
Muốn viết đúng chính tả phải kết hợp rèn luyện chính tả bằng con đường có ý
thức và không có ý thức. Con đường có ý thức là dạy chính tả cho học sinh nắm vững
các quy tắc chính tả và mẹo chính tả để viết đúng. Đó là con đường ngắn nhất (tiết
kiệm được thời gian và công sức) và có hiệu quả cao. Đối với loại chính tả không có
quy tắc thì yêu cầu học sinh phải ghi nhớ cách viết đúng từ trong trường hợp cụ thể.
Theo cách này yêu cầu học sinh ghi nhớ từng mặt chữ, từng từ. Chẳng hạn, sẽ viết là d
trong da thịt, da dẻ, da diết,… sẽ viết là gi trong quốc gia, gia đình, gia tộc, gia vị,…
Con đường không có ý thức có thể áp dụng cho học sinh Tiểu học vì ở độ tuổi này, học
sinh có khả năng ghi nhớ máy móc khá tốt. Theo cách này, học sinh chỉ cần tập trung
nhớ mặt chữ của từng từ viết đúng. Khi dạy chính tả, cần kết hợp cả hai phương pháp
này. Cơ sở ngôn ngữ học: Muốn viết đúng chính tả cần nắm được đặc điểm của tiếng
Việt. Về cơ bản, chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm (mỗi âm vị được ghi bằng một
tránh kích thích mạnh dẫn đến hiệu quả không mong muốn. Tư duy lôgic kém: Trẻ
thường không vận dụng được các thao tác tư duy đối với các hành động trí tuệ, không
định hướng được nhiệm vụ trước khi thực hiện nhiệm vụ, khi thực hiện thì lẫn lộn. Các
em khó vận dụng những kiến thức học được vào việc giải quyết các tình huống thực
tiễn. Vì vậy, đối với các dạng bài tập chính tả ngữ pháp, giáo viên nên cho học sinh
hoạt động nhóm cùng với các bạn. Về đặc điểm ngôn ngữ: Vốn từ: ít, nghèo nàn. Do
đặc điểm ảnh hưởng của phương ngữ: Sử dụng từ địa phương trong giao tiếp nên dẫn
đến viết sai chính tả. Ngữ pháp: Không nắm được quy tắc ngữ pháp, quy tắc chính tả
như quy tắc viết hoa tên riêng, danh từ riêng, quy tắc về dấu thanh… Viết chữ cẩu thả.
1.4.3 Môi trường giáo dục học sinh
Yếu tố môi trường có tác dụng quyết định trong việc giáo dục học sinh. Hơn nữa,
nhờ việc tổ chức môi trường, tổ chức các hoạt động trong môi trường và thông qua
những tác động trong các mối quan hệ tương tác mà người giáo viên có thể kiểm soát,
nâng cao được kết quả học tập của học sinh. Ngoài ra hiện nay, các trang mạng
Internet rất phổ biến với nguồn kho tàng tri thức phong phú, người giáo viên cần tham
khảo và chọn lọc lại những tri thức đúng đắn và cần thiết cho học sinh.
1.4.4 Dạy học kỹ năng viết chính tả cho học sinh lớp 5
1.4.4.1 Vị trí dạy học phân môn chính tả ở Tiểu học
Theo Lê Phương Nga thì: “Phân môn chính tả trong nhà trường giúp học sinh
hình thành năng lực và thói quen viết đúng tiếng Việt văn hóa, tiếng Việt chuẩn mực.
Vì vậy phân môn chính tả có vị trí quan trọng trong cơ cấu chương trình môn tiếng
Việt nói riêng, các môn học ở trường phổ thông nói chung. Ở bậc Tiểu học, phân môn
chính tả càng có vị trí quan trọng” [19, trang 121]. Bởi vì giai đoạn Tiểu học là giai
đoạn then chốt trong quá trình hình thành kỹ năng chính tả cho học sinh. Không phải
ngẫu nhiên mà ở Tiểu học, chính tả được bố trí thành một phân môn độc lập (thuộc
môn tiếng Việt), có tiết dạy riêng. Trong khi đó ở Trung học cơ sở và Trung học phổ
thông, chính tả được dạy xen kẽ trong các tiết thực hành ở phân môn tập làm văn, chứ
không tồn tại với tư cách là một phân môn độc lập như ở bậc Tiểu học. Tầm quan
trọng của phân môn chính tả còn thực hiện nhiệm vụ nặng nề hiện nay – khắc phục
viết đúng mẫu chữ, đúng chính tả, không mắc quá 5 lỗi/bài, tốc độ quy định theo
chuẩn. Về hình thức: Có 2 hình thức chính tả được sử dụng ở lớp 5 là: chính tả nhớ viết và chính tả nghe – viết. Độ dài mỗi bài khoảng 100 – 120 tiếng (chữ). Ở học kì I,
số bài chính tả ở hai hình thức chiếm tỉ lệ ngang nhau; ở học kì II, hình thức chính tả
nghe – viết chiếm tỉ lệ nhiều hơn – khoảng 60%).
1.4.4.3.2 Chính tả âm, vần và chính tả viết hoa
Nội dung các bài tập chính tả âm, vần là ôn lại quy tắc một số chữ như: c/k, g/gh,
ng/ngh và tiếp tục luyện viết các từ có âm, vần, thanh dễ lẫn. Dạng bài tập này được
dạy sau bài tập chính tả nghe – viết, nhớ - viết. Trong nội dung bài tập có phần bắt
buộc dạy cho tất cả học sinh ở các vùng miền trong cả nước, có những nội dung cho
phép các trường, lớp ở từng địa phương lựa chọn để dạy cho phù hợp với đặc điểm của
học sinh địa phương (ví dụ: BT3 tuần 16: Điền vào ô trống tiếng bắt đầu bằng r/gi; v/d.
Có thể thay bài tập khác đưa ra một đoạn văn (thơ) yêu cầu học sinh điền vào ô trống
tiếng bắt đầu bằng d/gi…). Trong phần nội dung tự chọn là phần viết đúng các từ mà
phát âm của tiếng địa phương lệch so với chuẩn trong mỗi bài học. Có trường hợp bài
tập trong sách giáo khoa không phù hợp thì giáo viên cũng có thể thay thế để phù hợp
lỗi chính tả địa phương (ví dụ: BT 2b không phù hợp vì các cặp từ báo/ báu, lao/ lau,
… học sinh không sai từ (tiếng) có vần ao, có thể đổi thành: Tìm những từ chứa tiếng:
Béo/ báu, leo/ lau,…) Nội dung chính tả viết hoa: Ôn luyện cách viết hoa tên người,
tên địa lí Việt Nam và tên địa lí nước ngoài. Bước đầu rèn luyện để có ý thức về cách
viết hoa tên riêng tổ chức, danh hiệu, giải thưởng, huy chương.
1.4.4.4 Phương pháp dạy viết đúng chính tả lớp 5
Để dạy viết đúng chính tả giáo viên có thể sử dụng các phương pháp khác
nhau.
Tuy nhiên trong quá trình dạy học cần chú ý một số phương pháp cơ bản:
Phương pháp trực quan: Thực hiện phương pháp này giáo viên cần đọc mẫu thông
thả, rõ ràng, phát âm chính xác các tiếng có âm, vần, thanh mà học sinh thường mắc
học để giờ chính tả không trở thành giờ học khô khan, cứng nhắc.
1.4.4.5 Hình thức tổ chức dạy học phân môn chính tả cho học sinh lớp 5
Hình thức dạy học nhóm: Dạy học nhóm là hình thức tổ chức tổ chức dạy học
mới được sử dụng trong tất cả các môn học ở Tiểu học nói chung và phân môn tiếng
Việt nói riêng. Đây là phương pháp vận dụng mô hình dạy học mới vào dạy học ở Tiểu
học, viết tắt là VNEN, nhằm giúp học sinh phát huy tính tự giác tích cực vào học tập,
học sinh tự tìm ra kiến thức của mình dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Học nhóm là
hình thức tổ chức học tập của học sinh theo nhóm nhỏ trên lớp dưới sự điều khiển của
nhóm trưởng, trong đó nhấn mạnh đến các kỹ năng hợp tác mang tính xã hội mà học
sinh cần có, để đảm bảo sự hợp tác trong học tập của học sinh. Học nhóm có ý nghĩa
đối với việc dạy học phân môn chính tả. Phương pháp này tạo điều kiện cho học sinh
trung bình được tham gia vào các hoạt động học tập một cách tích cực, tạo cơ hội cho
các em có thể trình bày ý kiến của mình, rèn luyện một số kỹ năng sống, kỹ năng xã
hội, quan hệ bạn bè, tính mạnh dạn, ý thức trách nhiệm trong tập thể nhóm, chia sẻ
kinh nghiệm với nhau. Trong nhóm cùng hỗ trợ nhau để tìm ra lỗi sai và sửa chữa lỗi
sai đó. Như vậy, học sinh sẽ ghi nhớ và khắc phục được lỗi chính tả mà các em thường
mắc phải. Tuy nhiên cần lưu ý một số hạn chế của mô hình mới này là khi tổ chức
hình thức dạy học này, học sinh dễ gây mất trật tự, không hợp tác vào việc thực hiện
nhiệm vụ của nhóm, có thể do nhiệm vụ giáo viên đưa ra quá dễ hoặc quá khó khiến
học sinh không hứng thú tham gia vào hoạt động nhóm, do giáo viên chưa bao quát,
quản lý lớp được… Vì vậy, trong nhóm, nhóm trưởng điều khiển nhóm mình sao cho
từng thành viên trong nhóm không thể trốn tránh công việc, hoặc trách nhiệm học tập.
Mọi thành viên đều phải học, đóng góp phần mình vào công việc chung và thành công
của nhóm. Mỗi thành viên thực hiện một vai trò nhất định, các vai trò ấy được luân
phiên thường xuyên trong các nội dung hoạt động khác nhau. Mỗi thành viên trong
nhóm đều hiểu rằng không thể dựa vào công việc của người khác, giáo viên có trách
nhiệm phải nhắc nhở học sinh, phải phân công công việc một cách cụ thể cho nhóm
trưởng, để nhóm trưởng điều khiển nhóm phân công công việc cụ thể cho các thành
viết: Yêu cầu học sinh nghe từng từ, từng câu do giáo viên đọc, vừa nghe vừa tái hiện
lại dưới hình thức chữ viết các từ, câu ấy. Nói cách khác, học sinh phải có năng lực
chuyển hóa ngôn ngữ âm thanh thành ngôn ngữ viết. Yêu cầu đặt ra là học sinh phải
viết đủ số âm tiết đã nghe, viết đúng và nhanh theo tốc độ quy định (học sinh phải biết
phối hợp nghe, nhớ để viết). Các chỉ tiêu cần đạt [19, trang 129]: Viết đúng một bài
chính tả chưa được đọc với tốc độ nhanh, chữ viết rõ ràng, trình bày đúng quy định;
lập sổ tay chính tả, ôn tập quy tắc chính tả; chính tả phương ngữ, không mắc quá 5 lỗi/
1 bài trên dưới 100 chữ. Đạt tốc độ viết tối đa khoảng 100 chữ/ 15 phút hoặc 6 – 7
chữ/ 1 phút. Ngoài ra, kết hợp luyện tập chính tả với việc rèn luyện cách phát âm, củng
cố nghĩa của từ, trau dồi về ngữ pháp tiếng Việt, góp phần phát triển một số thao tác tư
duy (nhận xét, so sánh, liên tưởng, ghi nhớ, tái hiện…) Bồi dưỡng một số đức tính và
thái độ cần thiết trong công việc như: cẩn thận, chính xác, có óc thẩm mỹ, lòng tự
trọng và tinh thần trách nhiệm cao,… Trên đây chỉ là những tiêu chí, yêu cầu chung
mà học sinh cần đạt. Nhưng khi thiết kế tiết dạy (soạn giáo án), giáo viên cần xác định
mục tiêu bài học sao cho phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh. Trong lớp học,
mức độ lĩnh hội các kiến thức ở mỗi học sinh rất khác nhau, nếu học sinh học giỏi mà
học như mọi học sinh khác sẽ không phải động não, sinh ra chủ quan, học sinh nhận
thức kém thì không lĩnh hội được kiến thức dẫn đến chán nản, không tập trung, làm
việc riêng…Vì vậy giáo viên cần điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp với
từng loại đối tượng học sinh, để học sinh có thể khắc phục được lỗi chính tả và có kỹ
năng viết đúng chính tả.
1.4.4.7 Trình tự lên lớp của tiết chính tả lớp 5
Thông thường một tiết dạy chính tả thường theo trình tụ như sau [19, trang 132 –
133 – 134]:
A. Ôn lại bài cũ: (2-3 phút) Giáo viên cho học sinh nghe – viết một số từ ngữ đã
được luyện tập hoặc học sinh viết sai ở tiết học trước…
B. Dạy bài mới: 1. Giới thiệu bài: Nêu yêu cầu của bài tập chính tả. 2. Hướng dẫn
học sinh viết chính tả: Chính tả nghe – viết: a. Hướng dẫn chính tả (8 – 10 phút) Giáo