Mét sè kinh nghiÖm vÒ d¹y TËp ®äc líp 2
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG DẠY TẬP ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 2
ĐẶT VẤN ĐỀ
PHẦN I: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1 Cơ sở ký luận
Trong chương trình tiểu học môn Tiếng Việt giữ một vị trí đặc biệt quan
trọng. Đó là môn học có chức năng “kép”(vừa là môn công cụ, vừa là môn
khoa học). Tiếng Việt là môn chiếm thời lượng lớn nhất . Riêng phân môn
tập đọc lại chiếm 3/10 số tiết trong phân môn Tiengs Việt. Các bài tập đọc
trong sách giáo khoa là nguồn ngữ liệu sinh động giúp học sinh tiếp xúc với
vẻ đẹp Tiếng Việt trong hàng trăm tình huống giao tiếp khác nhau, từ đó học
sinh được học và cách biết dùng Tiếng Việt chính xác tinh tế – biểu cảm.
Đây là các bài học tươi nguyên sự sống góp phần rèn luyện sự lĩnh hội và
sử dụng Tiếng Việt cho các em. Chương trình Tiểu học đã xác định mục tiêu
số 1 của môn Tiếng Việt là: “Hình thành và phát triển ở các em kỹ năng sử
dụng Tiếng Việt với những yêu cầu cụ thể về trình độ đọc, viết, nghe ở từng
lớp và toàn cấp học. Nhiệm vụ chủ yếu của phân môn Tập đọc là rèn cho
học sinh các kỹ năng đọc, nghe, nói. Thông qua phân môn Tập đọc mà trau
dồi vốn Tiếng Việt, vốn học văn và phát triển tư duy, mở rộng vốn hiểu biết
của học sinh về cuộc sống. Bồi dưỡng tư tưởng tình cảm trong sáng, yêu cái
đẹp, cái thiện, có thái độ ứng xử tốt trong cuộc sống, yêu tiếng Việt. Bên
cạnh đó theo quan điểm tích hợp các bài tập đọc còn có nhiệm vụ cung cấp
ngữ liệu để hình thành và phát triển kỹ năng khác được quy định trong
chương trình. Các bài tập đọc đã trở thành nguyên liệu để các phân môn
khác như: Tập làm văn – Kể chuyện – Luyện từ và câu khai thác. Chính vì
vậy việc dạy phân môn Tập đọc chiếm một vị trí hết sức quan trọng. Nó làm
nòng cốt xuyên suốt toàn bộ chương trình Tiểu học nói chung và môn Tiếng
Việt nói riêng.
Sách giáo khoa vừa đạt yêu cầu về nội dung vừa được trình bày theo
hướng giao tiếp và hoạt động là điều kiện mở đường định hướng cho giáo
thói quen không thích hợp như: Tham giảng bài, nói dài dòng. Ngại sử dụng
phương tiện dạy học, bệnh nói nhiều, dàn trải mắc từ lâu với nhiều thầy cô
hình như là khó chữa. Sách giáo khoa mới là “đơn thuốc” nhưng còn tuỳ
thuộc vào người sử dụng. Đổi mới phương pháp dạy học là cách trị hay. Tuy
nhiên cái mới, cái khó bao giờ cũng đi đôi với nhau. Trong thực tế giảng
dạy việc tổ chức cho học sinh đọc từ, đọc câu, đọc đoạn là rất phù hợp với
lớp 2, 3. Tuy nhiên do giáo viên thiếu linh hoạt trong quá trình giảng dạy,
kỹ năng đọc của học sinh còn chậm. Việc luyện đọc từ khó – giảng từ của
giáo viên còn nhiều bất cập, nên giờ học đã kết thúc mà có khi học sinh
chưa được tìm hiểu cái hay, cái đẹp, cái dí dóm trong nội dung bài tập đọc
hoặc giáo viên tham nói tham giảng từ dài dòng mà học sinh không được
luyện học bài. Được trực tiếp giảng dạy qua những giờ đồng nghiệp tôi
nhận thấy tình trạng này diễn ra không phải là ít. Rõ ràng sách giáo khoa,
thiết bị dạy học đã được điều chỉnh, thay đổi hợp lý mà những vướng mắc,
lúng túng, khó khăn của giáo viên đứng lớp vẫn còn đó. Nói đúng hơn việc
đổi mới phương pháp dạy học bây giờ thuộc về trách nhiệm của giáo viên.
Người giáo viên cần làm gì? Làm như thế nào? Để tiết học nhẹ nhàng, đem
lại hiệu quả cao trong giảng dạy tập đọc là điều tôi còn băn khoăn, trăn trở.
Thông qua giảng dạy tôi đã tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm đồng nghiệp và
một phần những việc làm mà bản thân đã khám phá ra trong giảng dạy với
một mong muốn:“Có thể là phương thuốc để chữa căn bệnh” hiện nay của
một số giáo viên.
PHẦN II : PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1- Căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ, nội dung phương pháp dạy
học môn Tiếng Việt lớp 2.
2- Căn cứ vào sách giáo khoa, sách giáo viên Tiếng Việt lớp 2.
3- Căn cứ vào các tạp chí giáo dục Tiểu học – Tạp chí thế giới trong ta
và các tài liệu có liên quan.
4- Dựa vào tình hình thực tế giảng dạy ở lớp 2A, tình hình các lớp ở
trừơng Tiểu học Quảng Thuận và các trường lân cận như: Quảng Thọ, Ba Đồn.
giáo và nhà trường.
Sau đây là một số kết quả điều tra thực tế. Kết quả điều tra kỹ năng đọc
của học sinh lớp 2A3 do tôi phụ trách trong đợt khảo sát chất lượng đầu năm
như sau:
SL
Đọc diễn
cảm
Đạt chuẩn Còn chậm Đọc đánh vần
Tỉ lệ %1 Tỉ
lệ
%25 Tỉ lệ %6 Tỉ lệ %4
31 0 22 7 5
73% học sinh hiểu được nội dung bài tập đọc trong đó có chỉ có 10% nói trọn
câu, 53% trả lời câu hỏi trọng tâm.
42% học sinh biết nghe và có nhận xét bạn đọc song đa số nhận xét còn vụn
vặt.
25% học sinh tỏ ra mạnh dạn trong giải quyết, xử lý tình huống giao tiếp của
bài tập đọc.
76% học sinh hứng thú, thích học tập đọc.
Người viết : Nguyễn Thị Tân
3
Mét sè kinh nghiÖm vÒ d¹y TËp ®äc líp 2
2- Một số giải pháp cụ thể:
Trước tình hình thực tế dạy học của trường, là một tổ trưởng chuyên
môn tôi đã làm tốt công tác tham mưu. Nhà trường quyết định tổ chức chuyên
đề Tập đọc lớp 2, 3 ngay trong trường để rút kinh nghiệm sau đó cụm chuyên
môn Quảng Thuận – Ba Đồn đã liên kết tổ chức chuyên đề này để đúc rút kinh
nghiệm trong toàn cụm. Bản thân tôi được cụm cử trình bày phần lý thuyết.
Sau một năm triển khai thực hiện chuyên đề Tập đọc bản thân tôi đã thực hiên
để tổ chức hoạt động khác? Chuyên đề 25 tháng 3 năm 2002 đã nói rõ: “Cần
cho học sinh đọc chú giải trong giờ tập đọc”. Tạp chí thế giới trong ta nêu quan
niệm: Chú giải là một bộ phận cần đọc. Đọc để ghi nhớ từ mới là tăng vốn từ
cho học sinh. Đọc để nắm được cách giải nghĩa từ khi cần. Song nên tổ chức
cho học sinh đọc từ chú giải lúc nào cho hợp lý? Theo tôi phần chú giải cần tổ
chức cho học sinh đọc thầm, trong khi học sinh đọc thầm nối tiếp nhau từng
đoạn trong nhóm là hợp lý nhất. Sau đó học sinh lại đọc thành tiếng theo nhóm
Người viết : Nguyễn Thị Tân
4
Mét sè kinh nghiÖm vÒ d¹y TËp ®äc líp 2
trước lớp. Có thể học sinh đọc chú giải mà vẫn chưa hiểu nghĩa của từ giáo
viên
vận dụng cơ hội này để giảng từ, nhằm mở rộng vốn từ cho học sinh.
Đến bước tìm hiểu bài giáo viên vẫn còn thời cơ để kiểm tra, cũng cố
nghĩa của từ (nếu cần), bằng cách đặt câu hỏi, tìm hiểu nội dung thông qua đó
rút từ chìa khoá để giảng cho học sinh. Cách kiểm tra có thể yêu cầu học sinh
nhắc lại nghĩa của từ, tìm từ gần nghĩa, cùng nghĩa, trái nghĩa hoặc đặt câu với
từ cần giải nghĩa. Chính ở bước này, những từ khó có thể ở địa phương các em
chưa hiểu, hoặc từ chìa khoá giáo viên có thể kết hợp giảng để học sinh hiểu
nội dung.
b) Xác định từ ngữ cần giảng trong bài như thế nào cho hợp lý:
Đây là điều mà chúng tôi đưa ra bàn cãi rất nhiều. Nếu như giáo viên
không biết xác định từ ngữ cần giảng thì tiết học sẽ dàn trải, thiếu trọng tâm,
chiếm nhiều thời gian mà nhiệm vụ của tiết học vẫn không hoàn thành.
Theo tôi các từ ngữ cần giảng trong bài tập đọc là:
+ Từ ngữ được chú giải trong sách giáo khoa.
+ Từ ngữ phổ thông mà học sinh chưa quen.
+ Từ ngữ đóng vai trò quan trọng là “chìa khoá” để mở nội dung bài học.
Trong một bài tập đọc cần xác định từ cần giảng và cách xác định từ là
điều mà nhiều giáo viên còn lúng túng. Giảng ít từ khi thấy còn thiếu, giảng
phải giải nghĩa mà chủ yếu là để học sinh hiểu được nội dung bài.
2.3. Rèn kỹ năng đọc đúng chỗ ngắt giọng cho học sinh:
Có 2 kiểu ngắt giọng: Ngắt giọng logic và ngắt giọng biểu cảm.
Ngắt giọng logic là những chỗ dùng để tách nhóm trong câu. Ngắt giọng
logic phụ thuộc vào ý nghĩa và quan hệ giữa các từ trong câu.
Ngắt giọng biểu cảm đối lập với ngắt giọng logic đó là những chỗ nghỉ
lâu hơn bình thường hoặc chỗ nghỉ không do logic ngữ nghĩa mà do dụng ý của
người đọc nhằm tạo ra ấn tượng về cảm xúc.
a) Kỹ năng ngắt giọng logic:
Khi đọc một văn bản nếu gặp dấu câu ta cần phải ngắt, nghỉ giáo viên cần
hướng dẫn học sinh sau dấu chấm, dấu hai chấm, chấm cảm ta cần phải nghỉ.
Song sau dấu chấm xuống dòng cần nghỉ lâu hơn sau dấu chấm. Sau dấu phẩy
ta phải ngắt giọng, sau dấu phẩy có lúc cũng phải ngắt giọng khác nhau. Dấu
phẩy ngăn cách giữa vế và câu ngắt lâu hơn, dấu phẩy sau trạng ngữ. Khi đọc
một số bài văn xuôi có những câu dài, cấu trúc ngữ pháp phức tạp học sinh
thường ngắt tuỳ tiện như sau :
Ví dụ 1 :Trong bài : Sơn Tinh- Thủy Tinh ( sách Tiếng Việt 2)
Học sinh đọc : Từ đó/ năm nào Thuỷ Tinh cũng dâng nước đánh/ Sơn
Tinh gây lũ lụt khắp nơi/ nhưng lần nào Thuỷ Tinh cũng chịu thua. Học sinh
đã tách Sơn Tinh ra khỏi động từ “đánh” làm người nghe hiêủ sai ý nghĩa của
câu văn .
Ví dụ 2: Khi đọc một số câu thơ do không chú ý đến quan hệ ngữ pháp
mà chỉ chú ý đến sự cân đối về âm thanh mà học sinh đã ngắt nhịp sai.
Anh Lừa / lo chuyện / gạo tiền.
Giấy tờ thỏ chạy/ giao liên tài tình.
Nếu học sinh ngắt nhịp như trên đã tách cụm từ thỏ chạy ra khỏi cụm
“giao liên tài tình” làm người nghe tưởng như chú giao liên tài tình chứ không
phải “thỏ chạy giao liên tài tình” để khắc phục tình trạng đó với lớp 2 thì việc
luyện đọc, đọc mẫu của giáo viên là cần thiết. Ngoài ra giáo viên cũng cần
giảng để học sinh hiểu nội dung câu văn, câu thơ, quan hệ ngữ pháp để học
nhà trường, trẻ em làm quen với hoạt động học tập với những yêu cầu cao hơn.
Chúng ta – những nhà sư phạm thấy rằng nếu biết sử dụng kết hợp hình thức
trò chơi trong học tập sẽ đạt hiệu quả cao. Chính vì vậy trò chơi được sử dụng
trong các tiết dạy học có tác dụng tích cực nhằm làm thay đổi hình thức học
tập. Thông qua trò chơi không khí lớp học trở nên thoải mái, dễ chịu .Việc tiếp
thu kiến thức của học sinh trở nên tự nhiên, nhẹ nhàng và hiệu quả hơn. Tuy
nhiên giáo viên cũng cần biết tổ chức trò chơi như thế nào cho hợp lý, không
nên quá lạm dụng trò chơi, biến tiết học thành một hoạt động vui chơi vô bổ.
Trò chơi học tập cần có yêu cầu khác với trò chơi thông thường.
+ Chơi để đạt mục đích học tập nào? Ngoài giải trí còn có mục đích
cũng cố tri thức, kỹ năng học tập.
+ Nội dung học tập phải gắn với các tri thức và kỹ năng của một nhóm
học hoặc một lĩnh vực tri thức, kỹ năng nào đó. Nói cách khác khi sáng tạo ra
trò chơi thì người giáo viên cần dựa vào các kiến thức và kỹ năng của môn học.
+ Trò chơi học tập cần có luật chơi rõ ràng đơn giản, dễ nhớ, dễ thực
hiện không đòi hỏi thời gian dài. Trò chơi học tập thường diễn ra thời gian
ngắn, phù hợp với trình độ học sinh.
Sau đây là một số trò chơi mà bản thân tôi thường sử dụng trong tiết dạy
tập đọc:
Ví dụ: Khi dạy các bài tập đọc đầu tuần như bài: “Tôm Càng và Cá Con”
Tôi tổ chức cho học sinh trò chơi “Thi đọc truyện phân vai” học sinh được thảo
luận theo nhóm 4 – mỗi nhóm cử 3 em, một em được chọn đọc lời người dẫn
truyện, một em đọc lời Tôm Càng, một em đọc lời của Cá Con. Sau khi học
sinh đọc trong nhóm, giáo viên tổ chức cho từng nhóm tham gia thi đọc truyện
phân vai. Giáo viên dành thời gian cho 2, 3 nhóm thi. Giáo viên cùng ban khảo
nhận xét đánh giá chung và chọn nhóm đọc tốt để biểu dương.(Ban giám khảo
do học sinh bầu ra)
Đối với những tiết ôn tập ở từng giai đoạn ôn giữa kỳ I, kỳ II, cuối kỳ I,
kỳ II tôi thường tổ chức trò chơi “nghe đọc đoạn, đoán tên bài”.
Người viết : Nguyễn Thị Tân
bản thân tôi đã tìm tòi, tự học, tự đúc rút kinh nghiệm dần dần khắc phục các
tồn tại của bản thân nên đã thu được một số kết quả như sau:
3.1- Về giáo viên:
Người viết : Nguyễn Thị Tân
8
Mét sè kinh nghiÖm vÒ d¹y TËp ®äc líp 2
Tôi đã thâm nhập và sử dụng thành thạo, linh hoạt quy trình lên lớp một
tiết tập đọc biết kết hợp nhuần nhuyễn việc đọc câu với luyện đọc từ khó, tiếng
khó chữa lỗi cho học sinh triệt để. Việc giải nghĩa từ khó và rút từ chìa khoá
trong giảng dạy đã thành thạo, biết kết hợp để ghi bảng cho hợp lý. Triệt để
khai thác các câu hỏi trong sách giáo khoa, chỉ đặt câu hỏi phụ khi cần thiết để
dẫn dắt học sinh trả lời câu hỏi chính. Lối tham giảng, nói nhiều đã được gột
bỏ dần. Bản thân đã mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy học, tổ chức cho học
sinh hoạt động nhóm, trò chơi học tập nhờ vậy mà tiết dạy ngày càng đạt hiệu
quả cao.
2- Về học sinh:
a) Kỹ năng đọc: Đa số học sinh phát âm đúng, biết đọc liền mạch từng
câu, đoạn, biết ngắt nghĩ sau các dấu câu, giữa các cụm từ dài, giữa các mục,
các phần trong bài học. 92,7% học sinh đọc tốc độ 60tiếng/phút. Biết đọc thầm
để hiểu nội dung và trả lời câu hỏi do giáo viên nêu ra. 30% học sinh biết rút ra
nội dung sau mỗi bài tập đọc.
b) Kỹ năng nghe: Sau khi nghe giáo viên đọc mẫu học sinh bắt chước, có
nhiều em đọc giống giọng đọc của giáo viên. Thậm chí có 1 đến 2 học sinh còn
đọc hay hơn. Biết nghe bạn đọc và nhận xét cách đọc của bạn. Không khí lớp
học sôi nổi. Mỗi lần giáo viên đặt câu hỏi tìm hiểu bài thường có 60-70% số
học sinh giơ tay phát biểu.
c) Kỹ năng nói: 68% học sinh nói dõng dạc, nói có đầu có cuối khi được
giáo viên hỏi. Lời nhận xét rõ ràng, các em đã có thói quen một số thao tác cơ
bản như: Phân tích, phán đoán, so sánh, lựa chọn Điều đáng nói ở đây là các
em hứng thú học tập và tự giác tham gia vào các hoạt động.
có giọng đọc mẫu chuẩn xác.
d. Việc chuẩn bị bài của giáo viên chiếm vị trí quan trọng. Trong khi chuẩn
bị bài giáo viên mới xác định nội dung, mục tiêu cần truyền thụ, có khả năng
lựa chọn rút từ chính xác đồng thời nghiên cứu hệ thống câu hỏi sách giáo
khoa. Dựa vào trình độ của học sinh lớp mình để chuẩn bị thêm các câu hỏi
gợi mở và dự kiến các tình huống xảy ra. Đặc điểm là chuẩn bị bài giảng ngắn
gọn, súc tích.
đ. Mục tiêu chính của Tập đọc lớp 2 là rèn kỹ năng đọc. Giáo viên cố gắng
tạo mọi điều kiện để các em được đọc. Việc tìm hiểu nội dung bài chủ yếu là
dựa vào hệ thống câu hỏi ở sách giáo khoa. Giải nghĩa từ phải đặt trong văn
cảnh- giáo viên không nên tham lam, dài dòng, mất thời gian.
e. Chất lượng sinh hoạt của tổ, cụm chuyên môn tốt sẽ có tác động tích cực
làm tiền đề quan trọng để giúp giáo viên học hỏi - đúc rút kinh nghiệm giảng
dạy để chất lượng trên lớp ngày càng tốt hơn.
r. Trong tiết tập đọc giáo viên cần phân loại đối tượng – có yêu cầu riêng
với từng đối tượng học sinh. Với những học sinh đọc chưa đạt chuẩn về tốc độ
giáo viên cần ưu tiên để các em được đọc nhiều. Giáo viên cần linh hoạt khi
lên lớp. Lựa chọn thời điểm thích hợp để tổ chức cho học sinh được “chơi mà
học” nhằm kích thích, khơi gợi sự hứng thú của các em.
2- Đề xuất:
Phòng giáo dục nên thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo chuyên môn
theo từng cụm trường hoặc cho các tổ trưởng chuyên môn trong toàn huyện để
chung tôi có điều kiện trao đổi, học hỏi, đúc rút kinh nghiệm trong quá trình
giảng dạy các môn theo chương trình thay sách.
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ mà bản thân tôi đã đúc rút được.
Rất mong được cấp trên và bạn đọc góp ý kiến để bản thân tôi thực hiện có
hiệu quả tốt hơn giờ Tập đọc trên lớp.
Quảng Thuận ngày 20/3/2006
Người viết