Nâng cao ý thức phòng chống chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch cho sinh viên ngành giáo dục quốc phòng và an ninh tại trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh đại học sư phạm hà nội 2 - Pdf 43

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
********************

TÒNG VĂN QUÂN

NÂNG CAO Ý THỨC PHÒNG CHỐNG
CHIẾN LƢỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”,
BẠO LOẠN LẬT ĐỔ CỦA CÁC THẾ LỰC
THÙ ĐỊCH CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH
GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH TẠI
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ
AN NINH TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh

HÀ NỘI – 2017


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
******************
TÒNG VĂN QUÂN

NÂNG CAO Ý THỨC PHÒNG CHỐNG
CHIẾN LƢỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”,
BẠO LOẠN LẬT ĐỔ CỦA CÁC THẾ LỰC
THÙ ĐỊCH CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH
GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH TẠI
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ
AN NINH TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

Nếu sai em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 25 tháng 04 năm 2017
Sinh viên

Tòng Văn Quân


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

Giáo dục quốc phòng và an ninh

GDQP & AN

Học sinh, sinh viên

HSSV

Xã hội chủ nghĩa

XHCN

Bảo vệ Tổ quốc

BVTQ

Hoạt động ngoại khóa


1.1. Những vấn đề cơ bản của chiến lƣợc “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn
lật đổ.............................................................................................................. 5
1.1.1. Một số khái niệm ................................................................................. 5
1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của chiến lược “Diễn biến hòa bình”,
bạo loạn lật đổ................................................................................................. 7
1.1.3. Chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ chống phá Chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam ............................................................................... 9


1.2. Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nƣớc ta về phòng chống chiến
lƣợc “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ ............................................... 16
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG, BIỆN PHÁP NÂNG CAO Ý THỨC PHÒNG
CHỐNG CHIẾN LƢỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”, BẠO LOẠN LẬT
ĐỔ ............................................................................................................... 18
2.1. Thực trạng ý thức phòng, chống chiến lƣợc “Diễn biến hòa bình”,
bạo loạn lật đổ của sinh viên ngành Giáo dục Quốc phòng và An ninh .. 18
2.1.1. Những tác động của chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật
đổ đến sinh viên Việt Nam........................................................................... 18
2.1.2. Thực trạng ý thức phòng chống chiến lược “Diễn biến hòa bình”,
bạo loạn lật đổ của sinh viên chuyên ngành Giáo dục Quốc phòng và An
ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2 ............................................................................................ 20
2.1.3. Bảng khảo sát ý thức sinh viên chuyên ngành Giáo dục Quốc phòng
và An ninh về chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ tại Trung
tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
..................................................................................................................... 22
2.2. Một số biện pháp nâng cao ý thức phòng, chống chiến lƣợc “Diễn
biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ cho sinh viên chuyên ngành Giáo dục
Quốc phòng và An ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh
Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 ........................................................... 27


MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Chiến lược “Diễn biến hòa bình”, Bạo loạn lật đổ được hình thành từ
những năm cuối thập kỉ 40 đầu đầu thập kỉ 50 và hoàn chỉnh ở thập kỉ 80 của
thế kỉ XX của Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, đứng đầu là Mỹ.
Nhằm đật đổ chế độ chính trị tiến bộ trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa
mà Việt Nam là một trọng điểm chống phá. Chúng tập trung đánh phá ta trên
mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa xã hội, đối ngoại, an
ninh...tác động đến mọi tầng lớp nhân dân ta trong đó có sinh viên nói chung
và sinh viên ngành Giáo dục quốc phòng và an ninh nói riêng.
Sinh viên là một bộ phận đông đảo, sung sức, năng động, nắm bắt
thông tin nhanh nhạy, có năng lực tiếp cận, sáng tạo với công nghệ mới và
luôn nhạy cảm với các vấn đề chính trị - xã hội. Nhìn chung, đại đa số sinh
viên có lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, có nhận thức chính trị tốt, đóng
góp rất lớn cho xã hội. Bên cạnh đó còn một bộ phận sinh viên xa rời đạo đức,
lý tưởng cách mạng, có lối sống thực dụng nên dễ bị tác động bởi mặt trái của
nền kinh tế thị trường. Cũng bởi đặc điểm là nhạy cảm, dễ tiếp cận cái mới,
thích tự do, tự khẳng định mình, lại chưa có nhiều kinh nghiệm, nhận thức các
vấn đề chính trị - xã hội còn hạn chế nên thanh niên thường dễ bị lôi kéo, kích
động. Cũng vì thế mà các thế lực thù địch của Đảng ta luôn coi sinh viên là
đối tượng đặc biệt để thực hiện âm mưu “Diễn biến hòa bình” bạo loạn lật đổ.
Nhiều năm qua, các thế lực phản động trong và ngoài nước luôn tìm mọi cách
tác động vào giới trẻ. Hòng tạo ra một thế hệ trẻ sống theo chủ nghĩa thực
dụng, thích ăn chơi. Chúng lợi dụng internet để phát tán tài liệu có nội dung
phản động, ấn phẩm văn hóa đồi trụy để “chuyển hóa” dần dần lớp trẻ. Chúng
bịa đặt, đưa nhiều thông tin sai lệch, lấp lửng, giật gân và tạo ra các diễn đàn
1



Giáo dục Quốc phòng và An ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An
ninh Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu nội dung, cơ sở lí luận và thực tiễn của chiến lược “Diễn
biến hòa bình”, Bạo loạn lật đổ.
- Ảnh hưởng của chiến lược “Diễn biến hòa bình”, Bạo loạn lật đổ đến
sinh viên chuyên ngành Giáo dục Quốc phòng và An ninh tại Trung tâm Giáo
dục Quốc phòng và An ninh Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao ý thức phòng chống chiến
lược “Diễn biến hòa bình”, Bạo loạn lật đổ cho sinh viên chuyên ngành Giáo
dục Quốc phòng và An ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An
ninh Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Ý thức phòng chống chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ
cho sinh viên chuyên ngành Giáo dục Quốc phòng và An ninh tại Trung tâm
Giáo dục Quốc phòng và An ninh Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Sinh viên chuyên ngành chuyên ngành Giáo dục Quốc phòng và An
ninh tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, khóa luận sử
dụng phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành, và các tài liệu liên
quan khác để phân tích, tổng hợp thành một hệ thống những thông tin có liên
quan đến đề tài.

3

Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ
CHIẾN LƢỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”, BẠO LOẠN LẬT ĐỔ
VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ PHÒNG CHỐNG CHIẾN LƢỢC
“DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”, BẠO LOẠN LẬT ĐỔ
1.1. Những vấn đề cơ bản của chiến lƣợc “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn
lật đổ
1.1.1. Một số khái niệm
- Khái niệm diễn biến hoà bình.
Diễn biến hoà bình trong lịch sử nhân loại được xác định ra đời cách
đây khoảng 2000 năm và được hiểu là hoạt động nhằm thay đổi chế độ chính
trị, thay đổi quyền lãnh đạo ở một quốc gia, vùng lãnh thổ mà không dùng
bạo lực, vũ trang. “Diễn biến hoà hình” ngày nay là chiến lược cơ bản nhằm
lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước Xã
hội chủ nghĩa, từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự do chủ
nghĩa đế quốc và các thể lực phản động mà đứng đầu là Mỹ tiến hành. Nó
được hình thành từ những năm cuối thập kỷ 40 đầu thập kỷ 50 và hoàn chỉnh
ở thập kỷ 80 của thể kỷ XX. Nội dung chính là: sử dụng mọi thủ đoạn kinh tế,
chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội, đối ngoại, an ninh,... kết hợp với răn đe
quân sự để ngầm phá từ bên trong, tạo ra các lực lượng chính trị đối lập núp
dưới chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền; kích động mâu thuẫn tôn giáo, dân
tộc, chủng tộc; truyền bá mô hình chính trị, kinh tế, tư tưởng và lối sống của
chủ nghĩa tư bản; khuyến khích tư nhân hoá về kinh tế và đa nguyên chính trị;
triệt để khai thác và lợi dụng những khó khăn, sai sót của nhà nước hiện hành,
làm trầm trọng thêm quá trình khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo nên sức ép
ngày càng lớn buộc lãnh đạo nhà nước phải từng bước chuyển hoá, thay đổi

5




tục bổ sung; cuối thập kỉ 80 thế kỷ XX, được nâng lên và hoàn chỉnh thành
chiến lược. Trong điều kiện mới của so sánh lực lượng trên thế giới, chiến
lược “Diễn biến hòa bình” được tiến hành chủ yếu bằng các thủ đoạn phi quân
sự, nhằm “chuyển hóa hòa bình” các nước xã hội chủ nghĩa theo tư bản chủ
nghĩa. Sau biến động ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu,
phương Tây công khai tuyên bố chuyển hướng chiến lược “kiềm chế” sang
chiến lược “mở rộng” với hai nội dung cơ bản: “dân chủ hoá về chính trị” và
“tự do hoá về kinh tế”. Vấn đề “nhân quyền” và “dân chủ” được coi là vũ khí
lợi hại.
- Khái niệm bạo loạn lật đổ
Bạo loạn là hành động chống phá bằng bạo lực có tổ chức do lực lượng
phản động hay lực lượng ly khai, đối lập trong nước hoặc cấu kết với nước
ngoài tiến hành, nhằm gây rối loạn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
hoặc lật đổ chính quyền (địa phương hoặc trung ương). Có bạo loạn chính trị,
bạo loạn vũ trang, bạo loạn chính trị kết hợp với vũ trang. Bạo loạn lật đồ là
một thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thể lực phản động trong chiến
lược “Diễn biến hoà bình” để xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của chiến lược “Diễn biến hòa bình”,
bạo loạn lật đổ
Sau thể chiến thứ hai, chủ nghĩa xã hội từ một nước Liên Xô đã phát
triển thành một hệ thống, địa vị, uy tín quốc tế của Liên Xô và các nước xã
hội chủ nghĩa ngày càng cao, thực sự là thành trì, chỗ dựa vững chắc cho
phong trào giải phóng dân tộc và xã hội chủ nghĩa thế giới. Phong trào đấu
tranh giành độc lập dân tộc phát triển rộng khắp ở các nước Á, Phi, Mỹ Latinh. Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng phát triển mạnh mẽ.
Các trào lưu trên tạo nên ba dòng thác cách mạng tiến công vào chủ nghĩa đế
quốc, làm thay đổi căn bản cục diện tình hình thế giới, mở ra một thời đại

7




bình” ở thời kỳ này được tiến hành trên cơ sở trực tiếp “dính líu” với từng
nước để từng bước chuyển hoá, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa.
1.1.3. Chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ chống phá Chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam
- Mục tiêu và phương châm chiến lược.
Mục tiêu: Sau nhiều thập kỷ thực hiện chính sách thù địch chống phá
không đạt kết quả, Mỹ và các thể lực thù địch đã thay đổi giải pháp chiến
lược, thực hiện bình thường hoá quan hệ với Việt Nam. Song mục tiêu nhất
quán của chúng là không thay đổi, thống nhất với mục tiêu chung của chiến
lược “diễn biến hoà bình” trên toàn cầu. Mục tiêu cụ thể của chúng ở Việt
Nam là:
+ Xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phi chính trị
hoá, vô hiệu hoá quân đội, công an tiến tới xoá bỏ chế độ Xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam.
+ Đưa Việt Nam vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản, phục vụ cho quyền
lợi của Mỹ ở khu vực.
- Phương châm “Mềm - ngầm - sâu”, chống phá toàn diện trên các lĩnh
vực.
Để thực hiện được âm mưu trên, biện pháp chiến lược của chúng là sử
dụng tổng hợp các thủ đoạn, tiến công toàn diện: Lấy tư tưởng là khâu đột
phá, kinh tế là mũi nhọn, dân tộc tôn giáo là ngòi nổ, ngoại giao là hỗ trợ,
quân sự là răn đe, kết hợp chặt chẽ “Diễn biến hòa bình” với bạo loạn lật đổ
và răn đe quân sự, sẵn sàng gây chiến tranh khi cần thiết.
Từ phương châm và biện pháp chiến lược trên cho thấy, đặc trưng chủ
yếu của “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của địch ở Việt Nam là:
“Diễn biến hoà bình” luôn kết hợp chặt chẽ với bạo loạn lật đổ và ly
khai. Hết sức coi trọng thúc đầy “tự diễn biến” từ bên trên, bên trong để làm



10


Âm mưu đưa dần người của chúng vào các cơ quan chính quyền, nhất
là ở cơ sở các vùng sâu, vùng xa, địa bàn chiến lược như Tây Bắc, Tây
Nguyên, Tây Nam Bộ, tha hoá, lôi kéo, khống chế cán bộ trong nội bộ ta.
Lợi dụng chiêu bài dân chủ, áp dụng các kịch bản bầu cử nhằm tạo rối
loạn xã hội như đã thực hiện thành công ở một số nước.
Tận dụng sự so sánh chênh lệch mức sống của hai giai đoạn trước kia
và hiện nay thông qua một số vụ án liên quan đến cán bộ cao cấp đương chức,
cố tình phóng đại những thiệt thòi của những cán bộ đã nghỉ hưu, cán bộ lão
thành cách mạng để kích động, tạo tâm lý bất mãn nhằm lôi kéo một số người
tham gia đấu tranh chống chính quyền. Tiếp tục lợi dụng vấn đề dân chủ,
nhân quyền, dân tộc, tôn giáo hòng phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
+ Trên lĩnh vực kinh tế
Lợi dụng quan hệ kinh tế để xâm nhập, gây sức ép, từng bước chuyển
hoá Việt Nam theo quỹ đạo của Mỹ.
Các thể lực thù địch trong chính quyền Mỹ và phương tây luôn tìm
cách gây khó khăn, cản trở hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam. Họ sử
dụng các thiết chế tài chính, tiền tệ quốc tế, luật về thương mại để ép ta điều
chính pháp luật, cải cách chính trị.
Thông qua đầu tư, viện trợ để xâm nhập các ngành kinh tế quan trọng,
địa bàn nhạy cảm, thúc đẩy tư nhân hoá,. .. tiến tới chi phối, làm lệch hướng
dẫn đến thay đổi bản chất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế, tạo tiền đề về kinh
tế, xã hội để chuyển hoá về chính trị.
Thông qua viện trợ, giúp đỡ của các tổ chức “phi chính phủ” (NGO) đề
xâm nhập, móc nối, hỗ trợ các phần từ phản động, cơ hội bên trong nội địa ở
các địa bản nhạy cảm, kích động sự bất mãn, nuôi dưỡng tư tưởng sùng bái và
đi theo phương tây trong nhân dân, chức sắc các tôn giáo, học sinh, sinh viên,

Đẩy mạnh sự xâm nhập về văn hoá, gieo rắc lối sống văn hoá tư sản,
văn hoá Mỹ, văn hoá phẩm đồi trụy, bạo lực vào Việt Nam. Kích thích tư

12


tưởng thực dụng, lối sống hưởng lạc, chạy theo đồng tiền, hành vi phi nhân
tính, tôn sùng phương tây, từ đó làm phai nhạt dần mục tiêu, lý tưởng, tha hoá
ngay trong đội ngũ cán bộ đảng viên để làm tha hoá toàn xã hội.
Thông qua con đường hợp tác văn hoá, giáo dục với Việt Nam để
tuyên truyền tư tưởng thân Mỹ, thân phương Tây không chỉ trong giới trẻ, con
cái cán bộ có chức có quyền mà còn gieo rắc cả trong đội ngũ cán bộ đảng
viên và nhân dân quan niệm: “không hợp tác với Mỹ thì đất nước ta không
phát triển được, dân ta còn khổ”.
+ Trên lĩnh vực xã hội
Phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây chia rẽ, bất ổn và rối loạn
về xã hội, tiếp tục lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, chống tham nhũng,
tôn giáo, dân tộc để chống phá ta một cách quyết liệt.
Tạo ra các điểm nóng về xã hội cũng như các điểm nóng về chính trị
xã hội, tạo sự bất ổn xã hội từ nhỏ đến lớn, lan rộng và kéo dài, từ mâu thuẫn
nội bộ nhân dân thành chống đối chính quyền. Tiếp tục kích động vấn đề dân
tộc, nhất là dân tộc thiểu số.
Xây dựng và phát triển lực lượng chống đối từ bên trong. Lợi dụng
những khó khăn, yếu kém, sai lầm của ta và với sự hỗ trợ, can thiệp từ bên
ngoài để tiến hành bạo loạn lật đổ, ly khai trên một vùng, hoặc một số vùng
của đất nước.
Tăng cường hoạt động truyền đạo trái phép, kết hợp hoạt động nhân
đạo của các tổ chức NGO, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân
tộc thiểu số để nắm quần chúng, kích động tư tưởng ly khai dân tộc, cản trở,
hạn chế, thậm chí vô hiệu hoá chính sách xã hội và những chủ trương của

trong nội bộ Đảng, kích động chia rẽ quần chúng nhân dân với Đảng, chính
quyền.
Lợi dụng những khó khăn, yếu kém của ta về kinh tế ở xã hội và
những vấn đề dân tộc do lịch sử để lại, Mỹ và các thể lực thù địch tăng cường

14


chỉ đạo, hỗ trợ lực lượng phản động trong nước kích động đồng bào các dân
tộc thiểu số đấu tranh đòi ly khai, tự trị ở một số nơi như: Tây Bắc, Tây
Nguyên, Tây Nam Bộ.
+ Trong lĩnh vực đối ngoại
Tiếp tục chống phá đường lối độc lập tự chủ, đa phương hoá, đa dạng
hoá quan hệ quốc tế của ta, lợi dụng các diễn đàn, công ước, luật pháp quốc
tế để bôi nhọ Việt Nam trên trường quốc tế.
Ra sức lợi dụng quá trình chúng ta mở rộng hoạt động đối ngoại, giao
lưu, hội nhập quốc tế để đẩy mạnh các hoạt động “Diễn hiền hoà bình”, thực
hiện chính sách hai mặt đối với Việt Nam. Chúng cũng sử dụng những thủ đoạn
vừa tinh vi, mềm dẻo, vừa cố tình đe doạ đòi hỏi chúng ta phải có chính sánh mở
rộng hơn, thông thoáng hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài nhưng thực chất
là làm cho chúng có điều kiện can thiệp ngày càng sâu hơn vào cơ chế xã hội
chúng ta để chống phá, lợi dụng những bất đồng về chế độ chính trị giữa Việt
Nam và các nước láng giềng nhằm gây chia rẽ, mất đoàn kết.
Thực hiện chính sách “ngoại giao nhân quyền”, lợi dụng các diễn đàn
quốc tế tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm dân chủ,
nhân quyền, đàn áp tôn giáo, dân tộc để cô lập ta trên trường quốc tế; kêu gọi,
gây sức ép với các nước, các tổ chức phi chính phủ ủng hộ, hỗ trợ các hoạt
động chống phá. ly khai bên trong lãnh thổ Việt Nam.
Dưới chiêu bài về “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo”, “dân tộc”,
chính quyền Mỹ ra các văn bản vu cáo và can thiệp vào nội bộ Việt Nam, vi

tăng cường xây dựng hệ thống chính trị. Cơ sở chính trị vững mạnh, hoàn
thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia và quốc phòng, chăm lo
xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh của Đảng và nhân dân, cảnh giác
cao, sẵn sàng chiến đấu để ngăn ngừa, đập tan mọi âm mưu và hành động gây
bạo loạn của kẻ thù. Bên cạnh đó, cần đề cao cảnh giác, làm thất bại mọi âm
16


mưu “phi chính trị hoá” quân đội và công an, hòng xoá bỏ vai trò lãnh đạo
của Đảng đối với lực lượng vũ trang.

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và
các thế lực phản động là chiến lược chống phá toàn diện các nước XHCN mà
Việt Nam là một trọng điểm, nắm rõ được bản chất, âm mưu, thủ đoạn của
“Diễn biến hòa bình” bạo loạn lật đổ, của các thế lực thù địch đồng thời hiểu
được mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm chỉ đạo của Đảng và Nhà
nước ta về phòng chống chiến lược “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của
các thể lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam là cơ sở để đề ra biện
pháp nâng cao ý thức phòng chống chiến lược “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn
lật đổ cho sinh viên.

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status