TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
-------- ---------
TRẦN THỊ THÚY HẰNG
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
TỰ HỌC, TỰ BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC SƢ
PHẠM CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC
QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH Ở TRUNG TÂM
GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh
HÀ NỘI, 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
-------- ---------
TRẦN THỊ THÚY HẰNG
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
TỰ HỌC, TỰ BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC SƢ
PHẠM CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC
QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH Ở TRUNG TÂM
GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đề tài: “Biện pháp nâng cao chất lượng tự học, tự
bồi dưỡng năng lực sư phạm cho sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm
GDQP Hà Nội 2” đến thời điểm hiện tại cũng chưa có công trình nghiên cứu nào
về vấn đề này, nên không có sự trùng lặp với các đề tài khác.
Tôi cũng xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được
chỉ rõ nguồn gốc. Việc hoàn thành khóa luận là sự nỗ lực cố gắng rất lớn của bản
thân.
Tác giả
Trần Thị Thúy Hằng
MỤC LỤC
Trang
………….………………………………………………
MỞ ĐẦU
1
NỘI DUNG
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC TỰ HỌC, TỰ BỒI
DƢỠNG NĂNG LỰC SƢ PHẠM CHO SINH VIÊN
NGÀNH GDQP VÀ AN Ở TRUNG TÂM GDQP HÀ
NỘI 2……………………………………………………..
6
19
Nguyên nhân thực trạng tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư
phạm của sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP
Hà Nội 2……………………………………………………….
23
Chƣơng 3: BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG TỰ HỌC,
TỰ BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC SƢ PHẠM CHO SINH
VIÊN NGÀNH GDQP VÀ AN Ở TRUNG TÂM
GDQP HÀ NỘI 2…………………..……….……………. 26
3.1.
Các nguyên tắc trong đề xuất biện pháp……………………..
3.2.
Một số biện pháp nâng cao chất lượng tự học, tự bồi dưỡng
26
năng lực sư phạm cho sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung
tâm GDQP Hà Nội 2…………………………………………..
27
3.3.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
3
GDQP
Giáo dục quốc phòng
4
GD ĐT
Giáo dục và đào tạo
5
KTX
Ký túc xá
6
Nxb
Nhà xuất bản
7
QĐNDVN
36
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phát triển năng lực tự học, tự bồi dưỡng, trọng tâm là nâng cao năng lực tư
duy sáng tạo của sinh viên là nhiệm vụ quan trọng của công tác giáo dục chuyên
nghiệp nói chung và dạy học ở đại học, cao đẳng nói riêng. Đồng thời nó cũng là
mục tiêu hướng tới của công cuộc đổi mới phương pháp dạy học đang được đặt ra
trong toàn ngành GD & ĐT.
Để đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, giảng viên giáo dục quốc
phòng và an ninh cho các trường và nâng cao chất lượng giảng dạy môn GDQP và
AN. Trong chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2020 đã xác định: Đổi mới và hiện
đại hóa phương pháp giáo dục. Chuyển từ việc truyền đạt tri thức thụ động, thầy
giảng trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri
thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ
thống và có tư duy phân tích, tổng hợp; phát triển được năng lực của mỗi cá nhân;
tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh, sinh viên trong quá trình học
tập. Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 02/11/2005 về
“Đổi mới căn bản và toàn diện Giáo dục Đại học Việt Nam trong giai đoạn 2006 2020”. Đổi mới cơ bản toàn diện giáo dục đại học, tạo được chuyển biến cơ bản về
chất lượng, hiệu quả và quy mô, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất
nước, hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân. Đến năm 2020,
giáo dục đại học Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiếp cận trình độ
tiên tiến thế giới, có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định
hướng XHCN.
Thực hiện nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp
ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và
hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên với đặc thù môn học và thực tế sinh viên sư phạm nói chung và
sinh viên sư phạm ngành GDQP và AN nói riêng ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
trong quá trình đào tạo cũng như sau khi ra trường cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế
nhất định, đặc biệt là năng lực sư phạm. Thực tế khi sinh viên đang còn ngồi trên
ghế nhà trường với cương vị là người học, đa số sinh viên còn bị động trong học
2
tập, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động trong học tập, chưa tự tìm tòi khám
phá tri thức, rèn luyện các kĩ năng sư phạm… do vậy khi ra trường bị thiếu hụt năng
lực sư phạm là điều khó tránh khỏi.
Xuất phát từ những vấn đề trên, việc nâng cao chất lượng tự học, tự bồi
dưỡng năng lực sư phạm cho sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm giáo dục
quốc phòng Hà Nội 2 là yêu cầu tất yếu, khách quan, là vấn đề cấp thiết đặt ra hiện
nay. Do vậy tôi chọn đề tài: “Biện pháp nâng cao chất lượng tự học, tự bồi dưỡng
năng lực sư phạm cho sinh viên ngành Giáo dục quốc phòng và an ninh ở Trung
tâm Giáo dục quốc phòng Hà Nội 2” làm khóa luận tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất môt số biện pháp nâng cao chất
lượng tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm cho sinh viên ngành GDQP và AN
nhằm góp phần nâng cao chất lượng trong công tác đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ của Trung tâm GDQP Hà Nội 2 trong giai đoạn hiện nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm
- Đánh giá thực trạng, tìm nguyên nhân ưu điểm, khuyết điểm tự học, tự bồi
dưỡng năng lực sư phạm của sinh viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2.
- Đề xuất một số biện pháp tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm cho sinh
viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 hiện nay, nhằm góp phần
nâng cao chất lượng GD & ĐT nói chung, nâng cao năng lực sư phạm nói riêng.
- Xử lý số liệu, kết quả nghiên cứu.
- Nhận định đánh giá chính xác, khách quan kết quả nghiên cứu.
6. Giả thuyết khoa học
Hoạt động tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm của sinh viên ở Trung tâm
GDQP Hà Nội 2 hiện nay còn nhiều hạn chế, bất cập; nếu phân tích đánh giá đúng
thực trạng hoạt động tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm của sinh viên hiện nay,
tìm ra được nguyên nhân tồn tại; đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng tự
học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm cho sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung
tâm GDQP Hà Nội 2 phù hợp thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo
nói chung, và giúp cho sinh viên vững vàng hơn khi tốt nghiệp ra trường nói riêng.
4
7. Cấu trúc khóa luận
- Phần mở đầu
- Nội dung: gồm có 3 chương
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của việc tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm
cho sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
Chƣơng 2: Thực trạng tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm của sinh viên
ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 hiện nay
Chƣơng 3: Biện pháp nâng cao chất lượng tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư
phạm của sinh viên ngành GDQP và AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
- Kết luận, kiến nghị
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
5
hoàn thiện và làm phong phú thêm vốn tri thức bằng sự nỗ lực tự học, tự bồi dưỡng.
Sinh viên đại học, học phương pháp là chủ yếu. Giờ đây, thầy cô giáo đóng vai trò
là những người hướng dẫn học tập, và các giờ lên lớp chỉ cung cấp được những kiến
thức cơ bản nhất, những tài liệu cơ bản, còn việc học tập của sinh viên là sắp xếp
trình tự, thời gian để nghiên cứu nắm tài liệu cơ sở và cả tài liệu tham khảo mở
rộng. Thêm vào đó, không còn sự kiểm tra sát sao của giáo viên, kết quả học tập
dồn hết vào kỳ thi hết học phần, hết môn. Kết quả này phụ thuộc vào bản thân sinh
viên chủ yếu. Công tác tự học, tự bồi dưỡng của sinh viên ngày càng tăng lên, ngày
càng đòi hỏi nhiều cố gắng nỗ lực vì chỉ có tự học mới trang bị cho mình kiến thức
mới nhất, khoa học nhất và thu được nhiều kinh nghiệm cho thực tiễn hoạt động và
đạt kết quả như mong muốn. Bên cạnh đó, nâng cao chất lượng tự học còn góp phần
nâng cao thành tích, hoạt động trí tuệ của sinh viên trong việc hiểu và tiếp thu tri
thức mới. Tự học với sự nỗ lực và tư duy sáng tạo đã tạo điều kiện cho việc tìm hiểu
tri thức một cách sâu sắc, hiểu rõ bản chất của vấn đề. Trong quá trình tự học, tự bồi
dưỡng sinh viên sẽ gặp phải nhiều vấn đề mới và việc đi tìm lời giải đáp cho những
vấn đề ấy là cách tốt nhất để kích thích hoạt động trí tuệ cho sinh viên. Nếu thiếu đi
sự nỗ lực tự học, tự bồi dưỡng của bản thân sinh viên thì kết quả không thể cao cho
dù điều kiện ngoại cảnh có thuận lợi đến mấy (giáo viên giỏi, tài liệu hay và đầy
đủ…). Tự học được tổ chức tốt không những cung cấp cho sinh viên những kiến
thức mới mà còn giúp họ rất nhiều trong công việc sau này. Họ có năng lực hoạt
động thực tiễn hay không? Chất lượng công tác như thế nào? Phụ thuộc lớn vào
chất lượng tự học, tự bồi dưỡng.
Tự học là hình thức cá nhân tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức của
bản thân. Tự học không chỉ giúp người học mở rộng, đào sâu những điều đã học mà
còn là con đường chủ yếu để rèn luyện các kỹ năng, vận dụng, hình thành phẩm chất
năng lực cá nhân. Bởi vậy, tự học là hoạt động không thể thiếu của sinh viên đại học
nói chung và sinh viên sư phạm nói riêng. Sinh viên sư phạm là những giáo viên
tương lai. Biết cách học vừa là phương tiện để họ tự học, không ngừng nâng cao trình
Năng lực sư phạm được phát triển trong suốt cả cuộc đời hoạt động nghề
nghiệp của giáo viên; trong đó có giai đoạn đào tạo ban đầu ở các trường sư phạm
hoặc cơ sở giáo dục có đào tạo giáo viên giữ vai trò nền tảng. Vấn đề đặt ra đối với
các trường sư phạm là làm thế nào để khẳng định được rằng: Người được đào tạo về
8
năng lực sư phạm sẽ dạy học, giáo dục học sinh tốt hơn người không được đào tạo
về nội dung này.
Tự bồi dưỡng năng lực sư phạm là tự mình cập nhật bổ sung thêm kiến thức,
kỹ năng cần thiết về năng lực sư phạm nhằm nâng cao hiểu biết sau khi đã được đào
tạo cơ bản cung cấp thêm những kiến thức chuyên ngành mang tính ứng dụng.
1.1.2. Sự hình thành việc tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm
Đào tạo giáo viên là một trong những hoạt động đào tạo nghề giữ vai trò
quan trọng trong sự nghiệp phát triển giáo dục. Để đào tạo giáo viên có hiệu quả,
ngoài cung cấp tri thức lý thuyết, việc cung cấp các kỹ năng dạy học và giáo dục
thực tiễn là không thể thiếu. Những kỹ năng sư phạm của sinh viên không thể hình
thành tự phát và không phải sinh ra đã có, mà cần phải được rèn luyện thường
xuyên, lâu dài. Những kỹ năng tưởng chừng như đơn giản như: viết, vẽ bảng, thuyết
trình, kỹ năng sử dụng các dụng cụ và đồ dùng dạy học, không chỉ trông cậy vào
năng khiếu người học. Muốn làm được thì phải học, phải thực hành. Cũng phải nói
thêm rằng, trước khi đi thực tập, sinh viên chưa hiểu gì nhiều về thực tế cấp học nơi
mà mình sau này phải tham gia giảng dạy.
Thực tế hiện nay cho thấy, không ít những giờ dạy phương pháp chủ yếu
biến thành những giờ dạy lý thuyết hàn lâm, chưa có quy trình rèn luyện bài bản.
Nghề giáo là nghề tự học suốt đời để tự hoàn thiện mình và nâng cao chất lượng
giảng dạy.
Tự học có tầm quan trọng chiến lược, có tính chất quyết định chất lượng giáo
dục và dạy học trong nhà trường, bởi lẽ lao động sư phạm là lao động sáng tạo, đòi
gắn lý luận với thực tiễn, chưa có kỹ năng xây dựng kế hoạch chủ nhiệm, kỹ năng
nói trước tập thể lớp, kỹ năng giao tiếp còn hạn chế (trong giao tiếp với giáo viên
hướng dẫn và học sinh, sinh viên còn rụt rè, e ngại, có sinh viên không biết nói gì
với học sinh đặc biệt trong khi giảng bài, nét mặt của sinh viên còn lo lắng, căng
thẳng, động tác của tay còn thừa đôi khi còn giơ lên gãi đầu, gãi tai...).
Mỗi sinh viên luôn nhận thức được tầm quan trọng của rèn luyện nghiệp vụ
sư phạm, trong quá trình học tập ở nhà trường bên cạnh việc trau dồi kiến thức
chuyên môn, ngay từ đầu sinh viên phải chủ động, tích cực rèn luyện kỹ năng nghề
nghiệp và một số kỹ năng mềm khác như kỹ năng nói trước đám đông, kỹ năng giao
tiếp... Trong mỗi giờ học trên lớp, sinh viên không ngừng học hỏi ở giáo viên về
phương pháp dạy học và kinh nghiệm ứng xử.
10
Tích cực tham gia các cuộc thi nghiệp vụ sư phạm do nhà trường tổ chức để
sinh viên bước đầu có những hiểu biết về nghề dạy học, hình thành ở các sinh viên
kỹ năng xử lý tình huống sư phạm xảy ra ở trường phổ thông... Đây là hoạt động
thường niên của trường. Có thể thấy, nội dung thi nghiệp vụ sư phạm cấp trường đã
có mặt cả kỹ năng dạy học và kỹ năng giáo dục. Thực tế các cuộc tranh tài giữa các
Khoa đã làm nên những mùa thi sôi nổi, làm khuấy động lên không khí nghiệp vụ
sư phạm trong toàn trường dù chỉ trong thời gian ngắn.
1.2.2. Tự học, tự bồi dưỡng năng lực sư phạm thông qua hình thức kiến tập thực tập sư phạm
Cũng như sinh viên của bất cứ các trường đào tạo nghề nào khác, sinh viên
các trường sư phạm cũng phải trải qua một khâu tất yếu trong quá trình học tập của
mình, khâu “Thực tập nghề”, mà trong trường sư phạm gọi là “Thực tập sư phạm”.
Thực tập sư phạm là điều kiện cần thiết để hình thành khuynh hướng nghề
nghiệp sư phạm, hình thành nhân cách của người giáo viên tương lai, đó cũng là
điều kiện giúp trường sư phạm có khả năng kiểm tra mức độ khuynh hướng nghề
nghiệp của sinh viên.
nói chuyện.
Giáo viên khó khăn trong việc tiếp cận với học sinh hiếu động, nghịch phá và
chưa có những kỹ năng thể hiện sự đồng cảm, chia sẻ, động viên hay kỹ năng kết
nối để “lôi kéo” học sinh cá biệt về phía mình, gần gũi mình hơn...
Quá trình rèn luyện kỹ năng cho giáo viên hiện nay còn xem nhẹ. Sinh viên
quá ít cơ hội trải nghiệm thực tế vào các tình huống giáo dục. Sinh viên sư phạm
chủ yếu học trên lớp với các giảng viên. Thời gian thực tập sư phạm còn quá ít, sự
tương tác với giáo viên hướng dẫn thực tập còn nhiều hạn chế, nhất là về kinh
nghiệm thực tiễn.
Thực tế cho thấy kỹ năng sư phạm cần có sự trải nghiệm đích thực, rèn luyện
lâu dài, thường xuyên... Ðiều có giá trị bền vững là ở chính bản thân sinh viên sư
phạm phải ý thức được vai trò của kỹ năng sư phạm với nghề nghiệp để chính các
bạn có ý thức rèn luyện.
Bởi vai trò của giáo dục nhà trường bao giờ cũng vấp phải những giới hạn
nhất định, chỉ ở bản thân người học có nhận thức đúng, có sự chủ động thì hiệu quả
về mặt giáo dục mới được nâng cao và bền vững. Có không ít câu hỏi được đặt ra:
Sinh viên sư phạm hiện nay còn quá chủ quan về kỹ năng sư phạm?
12
Nguyên nhân nào khiến họ chủ quan? Phải chăng phần đánh giá thực tập sư
phạm hoặc kỹ năng sư phạm không mang tính quyết định đến kết quả học tập...
Ðiều này khiến chúng ta phải trăn trở bởi kỹ năng sư phạm là phần chủ chốt nhất
trong năng lực người giáo viên.
Cứ như thế, không hiếm thế hệ giáo viên này đến thế hệ giáo viên kế tiếp vẫn
chưa đáp ứng được những mong mỏi và kỳ vọng của xã hội đặt ra. Những sự việc
đau lòng trong ứng xử sư phạm vẫn tiếp tục nảy sinh...
Cần xem xét kỹ năng sư phạm như một phương tiện để người giáo viên hành
nghề, không có phương tiện sẽ không thể nào hành nghề. Kỹ năng sư phạm không
Tổ chức hoạt động tự học, tự bồi dưỡng cho sinh viên là quá trình tiến hành
các biện pháp dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của sinh viên trong mọi
hoạt động chính khóa, ngoại khóa nhằm góp phần hình thành năng lực sư phạm của
người thầy giáo, cô giáo tương lai cho sinh viên ngành GDQP và AN. Nhưng trong
thực tế vấn đề này chưa được cán bộ giảng dạy trong trung tâm quan tâm một cách
triệt để, đặc biệt là vấn đề tự học ở nhà của sinh viên và vấn đề tổ chức hoạt động
ngoại khóa để rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên, vì vậy mà sinh viên chưa
hiểu hết được ý nghĩa của môn học, chưa biết cách tổ chức hoạt động tự học, tự bồi
dưỡng năng lực sư phạm.
14
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG TỰ HỌC, TỰ BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC SƢ PHẠM
CỦA SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
Ở TRUNG TÂM GDQP HÀ NỘI 2
2.1. Khái quát quá trình xây dựng, phát triển Trung tâm GDQP Hà Nội 2
2.1.1. Quá trình xây dựng và phát triển
Trung tâm GDQP Hà Nội 2 thuộc Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 được
thành lập theo quyết định số 2630/QĐ-BGD&ĐT-TCCB ngày 27 tháng 7 năm 1999
của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trung tâm là cơ sở giáo dục quốc phòng và
an ninh cho sinh viên, có nhiệm vụ thực hiện quản lý tổ chức học tập, rèn luyện
toàn diện đối với sinh viên theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Trung tâm Giáo dục quốc phòng Hà Nội 2 có đội ngũ sĩ quan biệt phái thuộc
Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, được đào tạo cơ
bản, chính quy tại các học viện, nhà trường quân đội và các nhà trường trong và
ngoài nước.
Trải qua hơn 15 năm xây dựng và phát triển, mặc dù gặp không ít khó khăn,
đến nay Trung tâm GDQP Hà Nội 2 đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Hiện
càng gia tăng. Chất lượng đào tạo giáo viên ngành GDQP và AN ngày càng đòi hỏi
cao hơn; công tác nghiên cứu khoa học cần đẩy mạnh hơn nữa để đáp ứng với yêu
cầu, nhiệm vụ giáo dục và đào tạo.
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ
2.1.2.1. Về thực hiện nhiệm vụ giáo dục quốc phòng
Qua điều tra chúng tôi nhận thấy, thời gian qua Trung tâm luôn thực hiện
đúng quy chế tổ chức dạy và học của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Quốc phòng về
công tác GDQP và AN. Tổ chức GDQP và AN cho sinh viên gần 20 trường đại học,
cao đẳng khu vực Hà Nội, tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Phú Thọ.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ quan trọng này, Trung tâm đã đề nghị và được
tăng cường đội ngũ cán bộ, giảng viên về cả số lượng, chất lượng; Trung tâm luôn
chủ động, tích cực đưa giảng viên đi đào tạo sau đại học, phấn đấu đến năm 2016 có
60% giảng viên Trung tâm có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ. Thường xuyên bồi dưỡng
trình độ chuyên môn GDQP và AN, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, kỹ năng giảng
dạy cho đội ngũ giảng viên.
16
Trung tâm thường xuyên phối hợp với các trường đại học cao đẳng bố trí,
sắp xếp thời gian học tập GDQP và AN cho sinh viên từng trường hợp lý, tránh
chồng chéo ảnh hưởng đến kế hoạch chung. Tổ chức GDQP và AN cho sinh viên
chặt chẽ, bảo đảm đúng số lớp học lý thuyết và thực hành.
Công tác đào tạo luôn được thực hiện một cách nghiêm túc, đúng quy định
của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ tổ chức dạy, học, kiểm tra, thi, công nhận kết quả
học tập và cấp chứng chỉ GDQP và AN cho sinh viên.
Thực hiện đúng quy chế tổ chức hoạt động của Trung tâm GDQP; quy chế tổ
chức dạy và học, đánh giá kết quả của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Tăng cường công tác quản lý, rèn luyện sinh viên, thực hiện nghiêm túc các
chế độ trong ngày, trong tuần; xây dựng môi trường văn hoá quân sự; tổ chức các