BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
PHÙNG QUANG PHÁT
NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP NÂNG CAO
NĂNG LỰC SƯ PHẠM CHO SINH VIÊN SINH – GDTC
TRƯỜNG CAO ĐẲNG TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Giáo dục thể chất
Mã số: 60.14.01.03
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Hà Nội năm 2014
2
Công trình được hoàn thành tại Đại học sư phạm Hà Nội
Cán bộ hướng dẫn khoa học: T.S Bùi Quang Hải
Phản biện 1:……………………………………………………
Phản biện 2:……………………………………………………
Luận văn được bảo vệ tại hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Vào hồi…….giờ, ngày… tháng… năm 2014
Có thể tìm hiểu luận văn/luận án tại:
- Trung tâm Thông tin – Thư viện, ĐHSPHN.
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn hoàn toàn là kết quả nghiên cứu của chính
bản thân tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu
nào của người khác. Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã thực hiện
nghiêm túc các quy tắc đạo đức nghiên cứu; các kết quả trình bày trong luận
văn là sản phẩm nghiên cứu, khảo sát của riêng cá nhân tôi; tất cả các tài liệu
tham khảo sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn tường minh, theo đúng
quy định.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các
TN
TDTT
TH
TL
TT
: Chỉ thị trung ương.
: Bài tập.
: Đối chứng.
: Đơn vị học trình.
: Huấn luyện viên.
: Lý thuyết
: Nghị định, chính phủ.
: Nhà xuất bản.
: Phương pháp.
: Thực nghiệm.
: Thể dục thể thao.
: Thực hành
: Thảo luận.
: Thứ tự.
2
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng
2
.1. Kết quả phỏng vấn tiêu chí đánh giá năng lực sư phạm
cho sinh
GDQP Trường Cao đẳng Tuyên Quang.
Error: Reference source not
found
Bảng 2.6. Thực trạng về cơ sở vật chất dụng cụ TDTT của trường Cao
đẳng Tuyên Quang
Error: Reference source not found
Bảng 2.7. Thực trạng về hoạt động ngoại khóa của sinh viên Sinh - GDTC
(n=85)
Error: Reference source not found
Bảng 3.1. Kết quả phỏng vấn lựa chọn các biện pháp nâng cao năng lực sư
phạm cho sinh viên Sinh – GDTC (môn bóng đá) trường Cao đẳng
Tuyên Quang (n=30)
Error: Reference source not found
Bảng 3.2. Kết quả năng lực sư phạm của nhóm đối chứng
và nhóm thực
nghiệm trước thực nghiệm.
Error: Reference source not found
Bảng 3.3. Kết quả năng lực sư phạm của nhóm đối chứng và nhóm thực
triển của Trung tâm TDTT nói riêng và của nhà trường nói chung.
1
Qua điều tra thực trạng năng lực sư phạm của sinh viên giáo dục thể chất
trường Cao đẳng Tuyên Quang cho thấy: Khả năng thực hiện các kỹ thuật
tương đối tốt song năng lực sư phạm lại yếu kém, nguyên nhân là do nội dung
chương trình đạo tạo chỉ quan tâm nhiều đến khâu thực hành mà không quan
tâm đến khâu “hành nghề”. Xuất phát từ tình trạng bức xúc của nhu cầu thực
tiễn đối với việc nâng cao năng lực sư phạm cho sinh viên cũng như ý nghĩa
quan trọng của việc nâng cao chất lượng đào tạo, đề tài:
“Nghiên cứu biện pháp nâng cao năng lực sư phạm cho sinh viên
Sinh - GDTC trường Cao đẳng Tuyên Quang”.
2. Lịch sử nghiên cứu
Qua phân tích các tài liệu khoa học và qua kết quả các công trình nghiên
cứu mới đây cho thấy, vấn đề năng lực sư phạm của giáo viên thể dục thể thao
chỉ mới được các tác giả như: Nguyễn Quang Chương, đề cập đến năng lực sư
phạm của giáo viên TDTT mang tính chất đặc thù cho khu vực các tỉnh miền
núi, Bùi Minh Thành, đưa ra năng lực sư phạm của sinh viên chuyên sâu điền
kinh, Kiều Tất Vinh, đưa ra năng lực sư phạm nói chung của sinh viên trường
cao đẳng sư phạm thể dục Trung ương 1.
Các công trình nghiên cứu trên thể hiện khía cạnh đặc trưng khác nhau
nên việc áp dụng vào Trung tâm TDTT trường Cao đẳng Tuyên Quang gặp
nhiều khó khăn.
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn, đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
3.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Thông qua việc nghiên cứu, đề tài đưa ra các biện pháp khả thi và có
hiệu quả nhằm nâng cao năng lực sư phạm cho sinh viên Sinh - GDTC trường
Cao đẳng Tuyên Quang. Góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà
trường, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội.
2
3.2. Đối tượng nghiên cứu
đó đề tài đã phân tích, đánh giá, tổng hợp và tiếp thu một cách có chọn lọc các
thông tin thu thập được để phục vụ cho việc nghiên cứu. Phương pháp tham
khảo tài liệu còn nhằm mục đích hệ thống hoá kiến thức và xây dựng cơ sở lý
luận cho việc đánh giá năng lực sư phạm của đối tượng nghiên cứu, đưa ra
các giả thiết khoa học, xác định mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. Cũng
thông qua các nguồn tài liệu, đề tài sẽ tiến hành xác định cơ sở khoa học lựa
chọn các giải pháp chuyên môn nhằm nâng cao năng lực sư phạm cho đối
tượng nghiên cứu.
5.2. Phương pháp phỏng vấn.
Là phương pháp được sử dụng trong quá trình tham khảo ý kiến các chuyên
gia về lĩnh vực nghiên cứu của đề tài, bao gồm: Xác định các chỉ tiêu đánh giá
về năng lực sư phạm, xác định động cơ và nhu cầu tập luyện, xác định, lựa chọn
và xây dựng các biện pháp nhằm nâng cao năng lực sư phạm cho sinh viên Sinh
– GDTC ( chuyên ngành bóng đá) trường Cao đẳng Tuyên Quang.
Đối tượng phỏng vấn của đề tài bao gồm:
42 chuyên gia, các nhà sư phạm, các thầy cô giáo trường Cao đẳng
Tuyên Quang và Các thầy cô giáo trường trung cấp Kinh tế, trường Trung cấp
Y, trường Cao đẳng nghề và các thầy cô giáo huán luyện tại Trung tâm TDTT
tỉnh Tuyên Quang, và 85 học sinh sinh viên chuyên ngàng Sinh – GDTC
trường Cao đẳng Tuyên Quang.
4
Kết quả sử dụng phương pháp nghiên cứu này được đề tài trình bày ở
phần kết quả nghiên cứu của đề tài.
5.3. Phương pháp quan sát sư phạm.
Đề tài sử dụng phương pháp này để tiếp cận đối tượng nghiên cứu. Đối
tượng được quan sát là các giáo viên và sinh viên Sinh – GDTC trường Cao
đẳng Tuyên Quang thông qua quan sát cơ bản (quan sát có chương trình, kế
hoạch, có nghi chép); quan sát bên trong (quan sát trực tiếp người thầy tham gia
giảng dạy trong giờ học thực hành môn bóng đá); quan sát công khai (khi người
dạy và người học biết có người quan sát và nội dung quan sát)
học tập theo chương trình từ trước tới nay. Nhóm thực nghiệm được sử dụng
đồng bộ các biện pháp nâng cao năng lực sư phạm đã được đề tài lựa chọn.
5.6. Phương pháp toán học thống kê.
Các số liệu thu được trong quá trình nghiên cứu sẽ được sử lý bằng
phương pháp trong thống kê.
a. Giá trị trung bình cộng:
n
x
x
n
i
i
∑
=
=
1
Trong đó:
x
: Giá trị trung bình.
x
i
: Giá trị của từng cá thể.
n : Số lượng đối tượng quan trắc.
∑
: Ký kiệu tổng
.
6
b. Phương sai
( ) ( )
2
+
−
=
2
σσ
=
7
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài.
1.1.1. Khái niệm về năng lực.
Trong cuộc sống bất kỳ một người bình thường nào cũng có thể tiếp thu
một số kiến thức, một số kỹ năng, kỹ xảo tối thiểu trong xã hội để sử dụng
trong khi hoạt động. Tuy nhiên trong cùng điều kiện bên ngoài như nhau thì
những cá nhân khác nhau có thể tiếp thu những kỹ năng đó ở mức độ, tốc độ
và nhịp độ khác nhau. Có người có thể tiếp thu nhanh, nhưng người khác lại
tiếp thu chậm, tốn nhiều sức lực hơn. Có người đạt được trình độ điêu luyện
cao, còn người khác mặc dù hết sức cố gắng nhưng chỉ đạt được mức độ trung
bình nhất định nào đó. Đặc biệt trong một số lĩnh vực hoạt động như: Văn học
nghệ thuật, thể thao…là những lĩnh vực chỉ có một số người nhất định có
năng lực mới tiến hành một cách có hiệu quả.
“Năng lực” là một thuộc tính độc đáo của cá nhân, là một vấn đề có ý
nghĩa thực tiễn to lớn. Quan điểm tâm lý học Macxit cho rằng: Năng lực là sự
hòa hợp của hai yếu tố tự nhiên và xã hội. Điều kiện tự nhiên của năng lực là
tư chất, tư chất không qui định năng lực nhưng tư chất có ảnh hưởng đến sự
hình thành năng lực. Nó là tiền đề vật chất của sự phát triển năng lực, nhưng
tư chất không quyết định năng lực, chẳng hạn như người có bộ máy phát âm
tốt có thể trở thành phát thanh viên, giáo viên, ca sĩ, dẫn chương trình…
Một đặc điểm tư chất có thể cần cho sự phát triển năng lực này nhưng
lại cản trở cho sự phát triển năng lực khác, chẳng hạn như thần kinh nhạy
cảm rất cần cho các nghệ sĩ , nhà thơ nhưng lại không có lợi cho người làm
nhất định, được thể hiện ở sự hoàn hành tố đẹp hoạt động ấy.” [45, tr44]
9
Nguyễn Quang Uẩn cũng đã đưa ra khái niệm tương tự: “Năng lực là tổ
hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một
hoạt động nhất định đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả” [44, tr87].
Về khuynh hướng thứ hai theo chúng tôi các tác giả đã phản ánh đầy đủ
về nội hàm của khái niệm năng lực, và là cơ sở cho quá trình nghiên cứu ứng
dụng về năng lực của đề tài.
1.1.2. Năng lực sư phạm.
Trên cơ sở khái niệm chung về năng lực trong tâm lý đại cương, các nhà
tâm lý học sư phạm, các nhà khoa học giáo dục đã đi sâu vào nghiên cứu năng
lực sư phạm, là loại năng lực riêng đặc trưng cho nghề giáo viên. Theo
A.V.Petropki “Năng lực sư phạm là tổ hợp xác định phẩm chất tâm lý của
nhân cách, những phẩm chất này là điều kiện để đạt được những kết quả cao
trong hoạt động dạy học và giáo dục trẻ em” [41, tr226], thuộc tính tâm lý
mang tính phức tạp cao đáp ứng các yêu cầu của hoạt động đào tạo và giúp
giáo viên đáp ứng các yếu cầu của hoạt động đào tạo và giúp họ có khả năng
thực hiện có kết quả những hoạt động đào tạo học sinh.
Theo Nguyễn Đình Chỉnh, ông quan niệm: “Năng lực sư phạm là tổ hợp
những thuộc tính tâm lý mang tính phức tạp cao của người giáo viên, đáp ứng
yêu cầu của hoạt động đào tạo và giúp họ có khả năng thực hiện có kết quả
những hoạt động đào tạo học sinh” [11, tr12]…trong khái niệm về năng lực
sư phạm của Nguyễn Đình Chỉnh nhấn mạnh đến các thuộc tính tâm lý của
năng lực, và năng lực sư phạm là tổ hợp của tri thức, kỹ năng và các phẩm
chất của nghề sư phạm. Người giáo viên muốn có năng lực sư phạm họ không
những chỉ nắm được một số tri thức cơ bản về chuyên môn nghiệp vụ của
mình mà còn phải có những kỹ năng kỹ xảo tương ứng, có thái độ đúng đối
với công việc, có sức khỏe, có các phẩm chất ý chí, các thuộc tính nhân cách
phù hợp được thể hiện trong hoạt động dạy học và giáo dục. Trần Bá Hoành
10
trên cơ sở hiểu những qui luật chung của việc dạy học. Những năng lực này
giúp giáo viên lập kế hoạch và cấu tạo lại tài liệu được tốt làm cho nó vừa sức
học của học sinh, tiến hành các bài dạy một cách sáng tạo bằng cách phát
triển tư duy trẻ em, rèn luyện cho trẻ em quen làm việc một cách độc lập.
2. Các năng lực thiết kế: Là điều kiện thiết kế và hình thành nhân cách
học sinh một cách có kết quả, để nhìn thấy trước những kết quả công tác của
nhà giáo dục, dự đoán trước được hành vi của trẻ em trong những tình huống
khác nhau.
3. Các năng lực tri giác: Thể hiện ở sự tri giác và hiểu một cách thích
hợp tâm lý cũng như trạng thái tâm lý của trẻ trong một thời điểm nhất định.
Các đặc điểm của sự chú ý của giáo viên cũng thuộc số các năng lực này.
4. Các năng lực truyền cảm: Tức là những năng lực thể hiện ra bên ngoài
những tư tưởng, tri thức những niềm tin và tình cảm của mình, trước hết là
bằng lời nói cũng như là bằng nét mặt và điệu bộ.
5. Các năng lực giao tiếp: Giúp xác lập những mối quan hệ qua lại đúng
đắn với trẻ (sự khéo léo đối xử sư phạm, việc tính tới những đặc điểm cá nhân
và lứa tuổi).
6. Năng lực tổ chức: Dựa trên nguyên tắc thống nhất giữa nhân cách và
hoạt động, xem nhân cách như một cấu thành tổng hợp, dù sao trong tổ hợp
phức tạp những thuộc tính, những thái độ và hành động của người giáo viên
vẫn tách ra được một khâu chủ đạo. Nếu không có nó sẽ không hình thành
được những phẩm chất quan trọng về mặt nghề nghiệp của một chủ thể hoạt
động có ý thức, năng lực tri giác là một khâu như vậy, chúng đảm bảo chỉ
người giáo viên tri giác trẻ em một cách đúng đắn, quan sát và hiểu trẻ. Chỉ
khi có năng lực này, giáo viên mới có thể điều khiển quá trình dạy học giáo
12
dục một cách hiệu quả, hiểu đúng đắn các hứng thú của học sinh, thỏa mãn
được nhu cầu của trẻ em và thiết lập mối quan hệ qua lại đúng đắn với các
em, dự kiến sự phát triển của chúng, kiểm tra và tổ chức dạy học một cách
khéo léo.
chúng. Đó chính là năng lực sư phạm cơ bản, chúng gắn bó chặt chẽ với nhau.
Các năng lực sư phạm ở trên không sắp xếp theo thứ tự ý nghĩa của
chúng đối với công tác sư phạm. Trong số đó có những năng lực cần thiết với
từng giáo viên riêng lẻ do họ có những đặc điểm cá nhân riêng. Chẳng hạn ở
giáo viên này thì năng lực trội hơn là năng lực truyền đạt tri thức, còn ở giáo
viên khác thì nhờ có tài khéo léo ứng xử sư phạm mà thành công hơn trong
công việc giáo dục.
Quan niệm của Phạm Minh Hạc [23, tr229]
Năng lực sư phạm là một thành phần trong cấu trúc nhân cách của người
giáo viên do đó xuất phát từ cấu trúc nhân cách của người giáo viên ông nêu
ra cấu trúc năng lực sư phạm của người giáo viên.
Từ đó ông phân chia năng lực sư phạm ra thành ba nhóm:
a. Các năng lực thuộc về nhân cách (gắn liền với thái độ, với học sinh).
b. Các năng lực dạy học gắn liền với việc truyền đạt thông tin cho học sinh
c. Những năng lực tổ chức giao tiếp (gắn liền với chức năng tổ chức,
giao tiếp và giáo dục theo nghĩa hẹp)
Nhóm thứ nhất: Có thể kể trước tiên là lòng yêu trẻ. Đây chính là cái
trục cơ bản trong cấu trúc năng lực sư phạm nói chung. Năng lực kiềm chế và
tự chủ cũng là phẩm chất quan trọng đối với giáo viên. Nó đòi hỏi người giáo
viên trong mọi hoàn cảnh đề phải làm chủ được bản thân, điều khiển được
tình cảm khí chất của mình.
14
Nhóm thứ hai: Là những năng lực như năng lực giải thích, đó là khả
năng làm sáng tỏ, cắt nghĩa được những điều khó hiểu hoặc không hiểu được.
Năng lực ngôn ngữ là năng lực biểu đạt rõ ràng, chính xác những tư tưởng
tình cảm của mình bằng ngôn ngữ cùng với nét mặt và điệu bộ tương ứng.
Đây là một trong những năng lực nghề nghiệp quan trọng nhất của giáo viên.
Vì việc truyền đạt thông tin từ thầy tới trò chủ yếu mang tính chất tín hiệu thứ
hai, tính chất ngôn từ.
Nhóm thứ ba: Là những năng lực tổ chức và giao tiếp, thể hiện hai mặt:
nghĩ về đặc điểm của nội dung, xác định khối lượng, mức độ khó khăn và
hình thức trình bày sao cho thuận lợi nhất đối với học sinh.
Vì vậy biểu hiện trước hết của năng lực hiểu học sinh là ở chỗ giáo viên
biết xác định khối lượng kiến thức đã có và mức độ phạm vi lĩnh hội của học
sinh trong quá trình giảng dạy của mình, có thể xây dựng được những biểu
tượng chính xác về những lời giảng dạy cho học sinh.
- Tri thức và tầm hiểu biết của người giáo viên.
Đây là năng lực cơ bản của năng lực sư phạm, một trong những năng lực
trụ cột của nghề dạy học.
Giáo viên có nhiệm vụ phát triển nhân cách học sinh nhờ một phương
tiện đặc biệt là tri thức, quan điểm, kỹ năng thái độ…nhất là tri thức khoa học
thuộc lĩnh vực giảng dạy của mình.
Do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự phát triển nhanh của khoa học
xã hội đề ra những yêu cầu ngày càng cao đối với rình độ văn hóa chung của
thế hệ trẻ, mặt khác cũng làm cho hứng thú nguyện vọng của trẻ ngày càng
phát triển.
Người giáo viên có tri thức và tầm hiểu biết rộng thể hiện ở chỗ:
16