ình thành và phát triển kĩ năng sư phạm cho sinh viên ngành giáo dục mầm non trường đại học đồng tháp - Pdf 25

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP THÔNG TIN KHOA HỌC SỐ 02 - 2011 1

LỜI NÓI ĐẦU

Thông tin Khoa học của Trường Đại học Đồng Tháp là một ấn phẩm
khoa học tập hợp, giới thiệu các công trình và thành tựu nghiên cứu khoa học
của các cán bộ, giảng viên, các nhà khoa học trong và ngoài trường nhằm đáp
ứng yêu cầu trao đổi, phổ biến thông tin của người làm công tác giảng dạy và
nghiên cứu khoa học.
Những công trình nghiên cứu khoa học được chọn đăng trong Thông tin
Khoa học số 2 lần này tập trung vào các lĩnh vực: Khoa học Giáo dục, Khoa
học Tự nhiên, Khoa học Xã hội và Nhân văn. Ban Biên tập xin trân trọng giới
thiệu cùng bạn đọc Thông tin Khoa học số 2 của Trường Đại học Đồng Tháp
với 28 bài viết của các tác giả hiện đang công tác trong và ngoài Trường Đại học
Đồng Tháp. Đây là những công trình nghiên cứu hữu ích, có thể được dùng làm
tài liệu tham khảo cho các cán bộ, giảng viên, sinh viên trong và ngoài nhà
trường.
Chúng tôi rất mong nhận được sự cộng tác nhiệt tình của cán bộ, giảng
viên, các nhà khoa học trong và ngoài nhà trường. Những bài nghiên cứu, bài
báo khoa học có giá trị của các tác giả sẽ giúp cho Thông tin Khoa học của
Trường Đại học Đồng Tháp ngày càng đạt chất lượng cao hơn.
Nhân dịp năm mới 2012, Thông tin Khoa học xin gửi đến các cán bộ,
giảng viên, các nhà khoa học, các đơn vị trong và ngoài nhà trường cùng bạn
đọc lời chúc sức khỏe, lời cảm ơn chân thành về những tình cảm quý báu đã
dành cho ấn phẩm. Thông tin Khoa học mong muốn sẽ tiếp tục nhận được sự
hợp tác chặt chẽ cũng như sự ủng hộ nhiệt tình của quý vị.

BAN BIÊN TẬP

12
5
Hồ Thị Thu Hà Thơ Phạm Hổ và việc dạy thơ Phạm Hổ ở nhà trẻ 15
6
Lê Thanh Bình
Khai thác và sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí ở
trường THPT
19
7
Nguyễn Thanh Nguyên
Mô hình cấu trúc kĩ năng sử dụng thiết bị thí nghiệm
trong dạy học Vật lí
33
8
Hoàng Thị Thuỳ
Dương
Hoạt động nhận thức thông qua năng lực giải quyết vấn
đề trong dạy học Hóa học
41
9
Nguyễn Chí Gót
Một vài vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong
dạy học môn Công tác đội TNTP Hồ Chí Minh
48
10

Nguyễn Văn Dũng
Dương Thái Bảo

Đặc trưng ánh xạ mở bằng lưới hội tụ 53

Đại học Đồng Tháp
71
15

Phan Trọng Nam
Sử dụng công cụ Data Analysis trong phần mềm
MS.EXCEL để phân tích số liệu trong nghiên cứu tâm
lí học và giáo dục học
76
16

Lê Thị Thanh Xuân
Huỳnh Văn ĐiệnChu Thị Bích Thảo
Khảo sát thành phần Hóa học tinh dầu cỏ lào ở Tỉnh
Đồng Tháp
69
17

Nguyễn Dương Hoàng
Phương pháp khám phá – tìm tòi trong dạy học Toán
THCS
72
18

Trần Quang Thái
Tư tưởng mỹ học của Immanuel Kant qua “phê bình
năng lực phán đoán”

25

Nguyễn Hồ
Phan Văn Phú
Những biến động trong chế độ mưa ở Đồng bằng sông
Cửu Long dưới tác động của biến đổi khí hậu
135
26

Võ Thị Bích Vân
Một số thành tựu về nghệ thuật trang trí truyền thống và hiện
đại của Việt Nam
144
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP THÔNG TIN KHOA HỌC SỐ 02 - 2011 4

27

Trần Kim Ngọc
Thực trạng nhận thức về vấn đề quan hệ tình dục an toàn
của sinh viên ở kí túc xá Trường Đại học Đồng Tháp
148
28

Kiều Văn Tu
Vài nét về việc thực hiện chính sách an sinh xã hội trẻ
em trong nền kinh tế thị trường ở Tỉnh Đồng Tháp
156


với các cấp bậc học khác bởi trẻ em càng nhỏ sự giáo dục càng khó nên giáo viên mầm non
càng phải chú ý rèn luyện để có bản lĩnh, kĩ năng sư phạm vững vàng. Những kĩ năng này
được các nhà trường và khoa sư phạm đào tạo giáo viên mầm non hình thành cho họ từ khi
còn học tập tại trường sư phạm và nó được tích lũy, bổ sung, phát triển trong suốt quá trình
dạy học của người giáo viên mầm non. Ở Trường Đại học Đồng Tháp, sinh viên ngành Giáo
dục Mầm non cũng được đào tạo cẩn thận về phẩm chất đạo đức, kiến thức và kĩ năng sư
phạm nhằm đáp ứng mục tiêu của giáo dục mầm non. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều sinh
viên, sau khi tốt nghiệp ra công tác nhiều năm nhưng vẫn yếu về kĩ năng chăm sóc, giáo dục
trẻ, chưa đạt các yêu cầu thuộc lĩnh vực kĩ năng sư phạm mà Chuẩn nghề nghiệp giáo viên
mầm non đòi hỏi. Bởi lẽ, ngay từ khi còn học tập trong trường đại học, việc hình thành kĩ
năng sư phạm cho sinh viên vẫn còn nhiều hạn chế.
Với khuôn khổ của bài báo, chúng tôi đưa ra một số ý kiến nhận xét về thực trạng kĩ
năng sư phạm của sinh viên ngành Giáo dục Mầm non Trường Đại học Đồng Tháp thông qua
việc nghiên cứu kĩ năng sư phạm của sinh viên trong quá trình học tập ở trường đại học, đồng
thời đề xuất một số biện pháp chủ yếu nhằm hình thành và phát triển kĩ năng sư phạm cho
sinh viên.
2. Thực trạng kĩ năng sư phạm của sinh viên và biện pháp hình thành kĩ năng sư
phạm cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non
2.1. Thực trạng kĩ năng sư phạm của sinh viên ngành Giáo dục Mầm non Trường
Đại học Đồng Tháp
Kĩ năng sư phạm của người giáo viên là khả năng vận dụng những kiến thức đã thu
nhận được trong quá trình đào tạo ở các trường, khoa sư phạm thuộc lĩnh vực giáo dục áp
dụng vào hoạt động dạy và học, giáo dục học sinh trong thực tế với hiệu quả cao. Chuẩn nghề
nghiệp giáo viên mầm non xác định rất cụ thể 5 yêu cầu với 20 tiêu chí thuộc lĩnh vực kĩ năng
sư phạm mà người giáo viên mầm non cần đạt được. Song để thực hiện được các yêu cầu và
những tiêu chí này, người giáo viên phải có năng lực sư phạm nhất định. Do vậy, hình thành
kĩ năng nghề cho sinh viên ngành giáo dục mầm non cần thiết phải gắn với đào tạo các năng
lực sư phạm, để họ có khả năng thực hiện tốt nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục trẻ ở các cơ sở

*

về kiến thức chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mầm non. Tuy nhiên, sinh viên vẫn còn hạn chế về kĩ
năng thực hành như cách làm vệ sinh nhóm lớp, việc chăm sóc cho trẻ làm vệ sinh cá nhân,
việc tổ chức giờ học tập, giờ ăn, giờ ngủ … cho trẻ . Kết quả khảo sát cho thấy có 15,56%
sinh viên tự đánh giá còn yếu; 27,78% đạt yêu cầu; 28,88% đạt mức khá và 27,78% đạt mức
giỏi. Nguyên nhân chính vẫn là sinh viên chưa được rèn luyện nhiều ở các cơ sở giáo dục
mầm non nên còn lúng túng khi thao tác công việc chăm sóc trẻ, mặc dù có được được trang
bị khá tốt kiến thức về chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.
- Nhóm kĩ năng tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ đòi hỏi giáo viên mầm non phải biết
tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ theo hướng tích hợp, phát huy tính tích cực sáng tạo của
trẻ; biết tổ chức môi trường giáo dục phù hợp; biết sử dụng hiệu quả đồ dùng, đồ chơi …, vào
việc tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ; biết quan sát đánh giá trẻ và có phương pháp chăm
sóc, giáo dục trẻ phù hợp. Với nhóm kĩ năng này, sinh viên cũng được trang bị khá đầy đủ
kiến thức lí luận trong quá trình học nhưng kĩ năng thực hành thì vẫn còn yếu. Có 18,88%
sinh viên thừa nhận ở mức yếu; 28,88% sinh viên đạt mức trung bình; 24,44% sinh viên đạt
mức khá và 27,78% sinh viên đạt mức giỏi. Nguyên nhân còn nhiều sinh viên yếu ở nhóm kĩ
năng này cũng vẫn do sinh viên còn ít được thực hành rèn luyện tại các cơ sở giáo dục mầm
non trong quá trình đào tạo.
- Nhóm kĩ năng quản lí lớp học đòi hỏi giáo viên phải đảm bảo an toàn cho trẻ; xây
dựng và thực hiện kế hoạch quản lí nhóm, lớp gắn với kế hoạch hoạt động chăm sóc, giáo dục
trẻ; quản lí và sử dụng có hiệu quả hồ sơ, sổ sách cá nhân, nhóm, lớp; sắp xếp, bảo quản đồ
dùng, đồ chơi, sản phẩm của trẻ phù hợp với mục đích chăm sóc, giáo dục. Kết quả khảo sát
sinh viên cho thấy có 20% sinh viên còn yếu ở nhóm kĩ năng này; 20% sinh viên đạt mức
trung bình; 35,56% sinh viên đạt mức khá và 24,44% sinh viên đạt mức giỏi. Tuy nhiên, kĩ
năng này chỉ có thể bộc lộ rõ khi sinh viên đi thực tập. Năm học 2010 - 2011, sinh viên có
thời gian đi thực tập cả một học kì song vẫn còn có nhiều sinh viên chưa rèn luyện tốt kĩ năng
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP THÔNG TIN KHOA HỌC SỐ 02 - 2011 8


được rèn luyện các kĩ năng sư phạm thông qua các hoạt động kiến tập và thực tập. Môi trường
để sinh viên rèn luyện tốt nhất các kĩ năng sư phạm là chính thực tế từ các cơ sở giáo dục
mầm non. Do đó, ngoài Trường Mầm non Hoa Hồng trực thuộc Trường Đại học Đồng Tháp
đang thực hiện nhiệm vụ của một trường thực hành sư phạm để đào tạo giáo viên mầm non,
việc xây dựng một hệ thống các trường mầm non vệ tinh làm cơ sở thực hành sư phạm cho
sinh viên là rất cần thiết. Bởi chính ở các trường này, sinh viên không chỉ được học mà còn
được vận dụng trực tiếp những gì đã học vào thực tiễn dạy học để có điều kiện rèn luyện kĩ
năng sư phạm nhiều hơn.
- Tăng cường thời gian kiến tập và thực tập sư phạm giúp sinh viên sớm hòa nhập với
nghề nghiệp và môi trường dạy học cũng là biện pháp cần thiết nhằm giúp sinh viên nhanh
chóng nắm bắt thực tế giáo dục và có điều kiện rèn luyện các kĩ năng sư phạm thiết thực.
- Hướng dẫn cho sinh viên lập kế hoạch tự rèn luyện các kĩ năng sư phạm cho cá nhân
phù hợp với kế hoạch đào tạo chung của khoa và nhà trường. Biện pháp này phù hợp với
phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ là tăng cường hoạt động tự học, tự rèn luyện của
sinh viên. Đồng thời, chỉ có tăng cường tự học, tự rèn các kĩ năng thì sinh viên mới có thể vận
dụng có hiệu quả, linh hoạt và sáng tạo những hiểu biết và kĩ năng sư phạm trong mọi hoàn
cảnh.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP THÔNG TIN KHOA HỌC SỐ 02 - 2011 9

Ngoài ra, trong hoạt động đào tạo cũng cần tiếp tục thực hiện tốt việc đổi mới phương
pháp đào tạo, đổi mới phương pháp dạy học để tạo cơ sở đồng bộ cho sinh viên hình thành và
rèn luyện năng lực và kĩ năng sư phạm.
3. Kết luận
Hình thành và phát triển kĩ năng sư phạm cho sinh viên là mục tiêu hướng tới của
Trường Đại học Đồng Tháp trong quá trình đào tạo giáo viên nói chung, đào tạo giáo viên
mầm non nói riêng. Vì vậy, cần nâng cao kĩ năng thực hành nghề nghiệp cho sinh viên thông
qua nhiều biện pháp đồng bộ. Trong đó cần chú trọng đến việc tổ chức hoạt động rèn luyện

Education at the University of Dong Thap has marked improvement, but there are still weak
students at all groups of teaching skills in accordance with professional standards preschool
teachers. Formation of pedagogical skills for students is therefore necessary with a number of
key measures such as training programs to build job skills properly, increase the pedagogical
relationship - preschool environment for training students to intensify the operation time for
comments and apprenticeship training, and guide students to plan appropriate training for
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP THÔNG TIN KHOA HỌC SỐ 02 - 2011 10

individuals and promote activeness, positiveness in fostering students' professional skills.

xem đó là một trong những mục tiêu quan trọng của công tác giáo dục và đào tạo. Luật giáo
dục năm 2005 khẳng định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển
toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân
cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân”.
Do tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức, lối sống, trong những năm vừa qua,
các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể đã có những nội dung, giải pháp góp phần thực hiện
nhiệm vụ này. Trên thực tế, công tác giáo dục đã góp phần đào tạo được một lớp công dân trẻ
có trách nhiệm với xã hội, có đạo đức tốt, có kiến thức chuyên môn vững vàng và đủ sức đáp
ứng yêu cầu cách mạng trong tình hình mới hiện nay.
Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại trong một bộ phận học sinh hiện tượng xuống cấp về đạo
đức, lối sống, có những hành vi lệch chuẩn xã hội. Điều đó đòi hỏi nhà trường cũng như các
ngành, các cấp cần nghiêm túc suy nghĩ, nghiên cứu để có những biện pháp tích cực hơn, hiệu
quả hơn trong công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh hiện nay.
2. Nội dung
2.1. Một số biểu hiện vi phạm đạo đức, lối sống trong học sinh hiện nay
Năm học 2010 - 2011, cả nước ta có trên 15 triệu học sinh phổ thông trên tổng số gần 22
triệu học sinh sinh viên toàn quốc từ bậc học mầm non đến đại học. Phần lớn các em đều có ý
thức tu dưỡng, có đạo đức tốt, tích cực, chủ động trong học tập và rèn luyện, năng động, tự tin
và có chí vươn lên mạnh mẽ. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn tồn tại những biểu hiện lệch lạc
về đạo đức, lối sống đáng lo ngại trong một bộ phận học sinh hiện nay. Cụ thể:
- Thiếu tôn trọng thầy, cô giáo, nội quy kỷ luật của nhà trường; thường xuyên nói tục,
chửi thề.
- L ý tưởng sống mờ nhạt, thích thể hiện bản thân một cách thái quá. Một số học sinh quá
đề cao giá trị vật chất, lối sống hưởng thụ.
- Quan hệ yêu đương sớm, không lành mạnh, xa rời các chuẩn mực đạo đức truyền thống
của dân tộc.
- Gian lận trong học tập và thi cử; thiếu ý thức sống tôn trọng và làm theo pháp luật.
Từ những biểu hiện lệch lạc về đạo đức, lối sống, dẫn đến một bộ phận học sinh sa vào
các tệ nạn xã hội và tội phạm.


Mặc dù chương trình giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh được triển khai mạnh mẽ,
đồng bộ trong cả chương trình chính khoá và hoạt động ngoài giờ lên lớp, nhưng nội dung
chương trình giáo dục đạo đức còn nặng về lý thuyết, ít liên hệ với thực tiễn xã hội. Phương
thức tổ chức, hoạt động ngoài giờ lên lớp, ngoại khoá ở nhiều trường còn mang tính hình
thức, thời vụ.
Một số trường còn nặng về dạy "chữ", nhẹ về dạy "người", chưa có giải pháp đồng bộ nhằm
ngăn chặn, giáo dục kịp thời từ khi các em mới có biểu hiện vi phạm, dễ có nguy cơ dẫn đến vi
phạm pháp luật. Trong một số nhà trường, vẫn còn có thầy, cô giáo vi phạm chuẩn mực đạo
đức, lối sống, chưa thực sự làm gương để các em học sinh noi theo. Phương pháp giáo dục
của một số cán bộ, giáo viên trong các nhà trường chưa phù hợp, thậm chí gây hậu quả xấu
đến sự phát triển đạo đức, lối sống của các em.
2.2.4. Nguyên nhân từ bản thân học sinh
Một bộ phận học sinh thiếu hiểu biết về pháp luật, kỹ năng sống còn yếu, chưa phân biệt
được điều hay, lẽ phải, ít tu dưỡng, rèn luyện, sống buông thả. Nhiều em có điều kiện kinh tế,
dù nhận thức được nhưng do thiếu ý chí rèn luyện và phấn đấu vươn lên trong học tập cũng
như trong cuộc sống nên tự buông thả mình và trượt dài trên con đường dẫn tới vi phạm pháp
luật, đạo đức, lối sống.
2.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh hiện
nay
2.3.1. Nhóm giải pháp đối với nhà trường
Cần xác định đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác giáo dục và đào
tạo. Nhà trường cần tạo ra được nhiều sân chơi lành mạnh, bổ ích cho học sinh. Thường
xuyên quan tâm đến vấn đề giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng ứng xử trước những tình huống
cho các cấp học trong nhà trường. Xác định việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh là
trách nhiệm chung của các tổ chức, đoàn thể trong nhà trường, không nên "khoán trắng" cho
một cá nhâ, đơn vị hoặc chỉ có giáo viên chủ nhiệm lớp làm công tác này.
Để làm được như vậy, nhà trường cần giáo dục các em học sinh bằng những phương
pháp kỉ luật tích cực. Kỉ luật tích cực là kỉ luật theo hướng tạo ra cơ hội tốt nhất có thể có
được để học sinh tự nhận thấy lỗi và chủ động sửa chữa, tìm ra hướng phát triển tích cực của
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP THÔNG TIN KHOA HỌC SỐ 02 - 2011

hơn đối với mình và cộng đồng. Xây dựng quy ước ứng xử văn hoá trong nhà trường. Quy
ước ứng xử văn hoá phải được xây dựng từ lớp học. Học sinh bàn bạc, trao đổi để đưa ra quy
ước cùng thực hiện từ những điều đơn giản, cụ thể, có thể thực hiện được, kiểm tra được. Các
quy ước này được nhà trường hoàn thiện và tổ chức thực hiện.
Để thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, vai trò của
giáo viên chủ nhiệm là cực kì quan trọng vì giáo viên chủ nhiệm chính là linh hồn của tập thể
lớp. Khi giáo viên chủ nhiệm thực sự phát huy đúng vai trò trong nhà trường thì công tác giáo
dục đạo đức, lối sống cho học sinh sẽ đạt được những kết quả nhất định.
Để làm được điều đó, giáo viên chủ nhiệm cần chú ý các vấn đề sau:
+ Hiểu được đối tượng học sinh, biết quan tâm và bảo vệ lợi ích chính đáng của học
sinh.
+ Biết kết hợp với nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục học sinh: Thường
xuyên liên hệ với cha mẹ học sinh, hoặc tạo ra mối quan hệ thường xuyên với gia đình học
sinh bằng nhiều biện pháp khác nhau để thông báo với gia đình tình hình học tập, rèn luyện
của các em ở trường cũng như nhận những thông tin phản hồi từ phía gia đình về quá trình tự
học, tự rèn luyện của các em ở nhà, nắm được tâm tư nguyện vọng của các em qua phụ huynh
khi các em không bày tỏ trực tiếp với giáo viên chủ nhiệm.
+ Thực sự tế nhị khi nhận xét về những khuyết điểm của học sinh cho phụ huynh, đặc
biệt tại các cuộc họp cha mẹ học sinh.
+ Phải tuyệt đối thông tin chính xác, kể cả ưu điểm và khuyết điểm khi thông báo với
gia đình.
+ Có những giải pháp hiệu quả trong công tác giáo dục học sinh, đặc biệt là học sinh cá
biệt.
+ Hoàn thành tốt nhiệm vụ của một giáo viên chuyên môn.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP THÔNG TIN KHOA HỌC SỐ 02 - 2011 14

+ Là tấm gương sáng cho học sinh noi theo, kể cả trong lớp học và ngoài đời.

em.
2.3.3. Nhóm giải pháp đối với xã hội
Nhiệm vụ giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh chỉ có thể đạt kết quả tốt khi có sự
phối kết hợp đồng bộ, nhịp nhàng và hiệu quả giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các sở giáo
dục và đào tạo, sở văn hóa thông tin, các trường học, các phương tiện thông tin đại chúng trên
từng địa phương cũng như trên địa bàn trường đóng.
Hình thành hệ thống lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục đạo đức, lối sống từ Trung
ương đến các tỉnh, thành, quận, huyện, xã, phường, các trường học, các tổ chức đoàn, đội, hội
trong hệ thống giáo dục quốc dân. Tăng cường sự phối kết hợp liên ngành, liên địa phương
trong công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh.
Tăng cường năng lực quản lý nhà nước về văn hóa thông tin thông qua các khâu: vạch
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, triển khai các văn bản pháp luật, chính sách, hướng dẫn, đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, bảo đảm các hoạt động văn hóa, đạo đức, lối sống cho học sinh được
triển khai đúng đắn, sâu rộng trên từng địa bàn.
Các cơ sở đảng và chính quyền các cấp phải tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động
giáo dục đạo đức, thẩm mỹ, lối sống của học sinh được hình thành và ngày càng phát triển.
Các giá trị đạo đức, lối sống tốt đẹp, nhân văn của dân tộc sẽ được thẩm sâu vào các thế hệ
học sinh sẽ là giải pháp hữu hiệu để chống lại các hiện tượng phản đạo đức, phản văn hóa,
phản thẩm mỹ, tạo lập được môi trường văn hóa lành mạnh.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP THÔNG TIN KHOA HỌC SỐ 02 - 2011 15

Cần tổ chức có hiệu quả các hoạt động văn hóa văn nghệ cho học sinh, giúp các em có
khả năng thưởng thức, đánh giá và sáng tạo qua các hoạt động giao lưu, liên hoan văn nghệ,
các hội thi nghệ thuật như cắm hoa, thi nấu ăn, thi thiết kế thời trang v.v…
Cần có biện pháp để hạn chế những tác động tiêu cực, những mặt trái của nền kinh tế thị
trường, kiểm soát được các ấn phẩm văn hoá thiếu lành mạnh đang cổ vũ cho lối sống hưởng
thụ.

2. Sổ tay áp dụng các biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực - Trung tâm hỗ trợ phát triển vì
phụ nữ và trẻ em.
3. Đổi mới phương pháp Quản l ý lớp học bằng các biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực -
Vụ Giáo dục Trung học - Tổ chức Cứu trợ Trẻ em Thuỵ Điển, Hà Nội, 2009. TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP THÔNG TIN KHOA HỌC SỐ 02 - 2011 16

SOLUTIONS FOR IMPROVING THE QUALITY
OF MORAL AND LIFESTYLE EDUCATION FOR STUDENTS

ABSTRACT
By raising the expression of ethicals and lifestyles of student and its causes, this
article raises a number of measures to improve the quality of moral and lifestyle
education for students nowadays. In particular, the authors focus on specific groups of
solutions feasible for school education, family, social and self-education.
kiến thức từ sách sẽ có tác dụng tích cực trong dạy học. Các hình ảnh trong sách giáo khoa
hóa học phổ thông là nguồn tư liệu chứa đựng những kiến thức hóa học mà người dạy cần
giúp người học chiếm lĩnh. Phân loại hình ảnh, xác định chức năng, khai thác sử dụng một
cách hợp lí trong bài dạy sẽ khắc sâu kiến thức, khơi dậy lòng ham hiểu biết, tính tích cực học
tập của học sinh.

1. Đặt vấn đề
Để thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng trong các giờ dạy học
hóa học trên lớp, việc sử dụng các hình ảnh trực quan sinh động là yếu tố quan trọng góp phần
thành công cho tiết dạy học. Thực tế dụng cụ, hóa chất, phương tiện dạy học bộ môn hóa học
ở trường phổ thông còn hạn chế, chưa có hoặc thiếu phòng thí nghiệm thực hành, thiếu cán bộ
phụ tá thí nghiệm hỗ trợ… Do đó việc sử dụng sách giáo khoa, khai thác kiến thức bài học từ
các hình ảnh minh họa là rất cần thiết và có tác dụng nâng cao hiệu quả trong dạy và học hóa
học.
2. Vai trò của kênh hình trong sách giáo khoa
Sách giáo khoa hóa học giữ vai trò: Cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức cơ bản,
hiện đại bao gồm khái niệm, định luật, qui tắc, những sự kiện, những hiện tượng… của khoa
học hoá học ở mức độ phổ thông; Góp phần hình thành cho học sinh phương pháp học tập
tích cực, khả năng tự học, tự nghiên cứu, hình thành và phát triển kĩ năng thực hành thí
nghiệm, làm bài tập; Giúp học sinh có thể tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả học tập, tự tra cứu,
tham khảo kiến thức. Sách giáo khoa được coi là công cụ tin cậy, có tính thuyết phục cao đối
với học sinh, giúp tìm kiếm thông tin chính xác, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh;
Sách giáo khoa giúp giáo viên định hướng để cải tiến đổi mới phương pháp dạy học, thiết kế
bài dạy, tổ chức điều khiển hoạt động học tập và đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Trong sách giáo khoa hóa học, ngoài kênh chữ nguồn thông tin của bài học thì kênh
hình giữ vai trò quan trọng không kém. Số lượng các hình ảnh khá phong phú có thể bao gồm
các loại: tranh, ảnh; mô hình; hình vẽ, sơ đồ, biểu đồ, bản đồ, bảng số liệu; hình ảnh thí
nghiệm. Trong các hình ảnh được trình bày trong sách giáo khoa chúng ta có thể khai thác sử
dụng hai chức năng của các hình ảnh này là minh họa cho nội dung bài học và mang thông tin
kiến thức của bài học.


- Các hình ảnh này có ý nghĩa giới thiệu một thông tin liên hệ với kiến thức trong
chương để mở đầu cho sự tìm hiểu, học tập nội dung của chương đó.
- Ví dụ hình ảnh: Đ.I. Men-đê-lê-ep, Bút tích về sự sắp xếp các nguyên tố của Đ.I. Men-
đê-lê-ep (Hóa học 9; Chương 3. Phi kim- Sơ lược về bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học).
Từ hình ảnh trên giáo viên cung cấp cho học sinh một số thông tin về nhà bác học Nga Đ.I.
Men-đe-le-ep. Tên của ông là Dimitri Ivanovic Mendeleep sinh ngày 27/1/1834 và mất ngày
20/1/1907. Công trình khoa học vĩ đại của ông là phát minh ra định luật tuần hoàn các nguyên
tố hoá học. Giáo viên cho học sinh biết: Cho dù cách phát biểu của định luật ngày nay với
cách phát biểu của Men-đe-le-ep năm 1869 có khác nhau nhưng tinh thần cơ bản của định luật
vẫn là tính chất tuần hoàn. Hiện nay gọi tên Bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học (thay vì
Bảng tuần hoàn Men-đe-le-ep ) vì công trình đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu bổ sung
hoàn thiện, nhưng công trình của Men-đe-le-ep vẫn giữ nguyên ý nghĩa, giá trị khoa học. Như
vậy, thông qua hình ảnh này, việc giáo viên cung cấp thông tin cho học sinh có ý nghĩa to lớn
về mặt giáo dục tính lịch sử trong dạy học hóa học.
2.1.2. Các hình ảnh minh họa cụ thể cho thông tin kiến thức của bài học.
- Một số hình ảnh cụ thể ở các bài như sau:

Tên hình ảnh Lớp, bài, trang
Ấm đun bằng nhôm, Bàn bằng gỗ, Bình bằng
chất dẻo, Bình bằng thép
HH 8; Bài 2. Chất; Trang 7
Sản xuất tơ tằm, Khai thác mủ cây cao su HH 9; Bài 54. Polime; Trang 161
Tháp hấp thụ SO
3
trong sản xuất axit sunfuric HH10NC; Bài 45. Hợp chất có oxi của lưu
huỳnh; Trang 178
Một số đồ sứ dân dụng; Nhà máy xi măng Hải
Phòng
HH11NC; Bài 23. Công nghiệp silicat;

4
Cl
HH11NC; Bài 11. Amoniac và muối amoni;
Trang 41
Thí nghiệm về ăn mòn điện hóa học HH12NC; Bài 23. Sự ăn mòn kim loại;
Trang 132

- Kết hợp với sự hướng dẫn của giáo viên về quan sát các hình ảnh thí nghiệm này, học sinh
có thể nêu ra nhận xét về hiện tượng, kết quả thí nghiệm được thể hiện trên hình ảnh và từ đó
rút ra kết luận về kiến thức của bài học mà học sinh cần ghi nhận.
- Ví dụ thí nghiệm: Ảnh hưởng thành phần các chất
trong môi trường đến sự ăn mòn kim loại (Bài 21. Sự ăn
mòn kim loại, Hóa học 9) (hình 1). Học sinh quan sát
hình ảnh thí nghiệm biết được đinh sắt bị ăn mòn chậm
trong nước có hòa tan khí oxi, bị ăn mòn nhanh trong
dung dịch muối ăn, còn trong không khí khô và trong
nước cất không bị ăn mòn. Từ đó mà rút ra các biện
pháp để bảo vệ, chống ăn mòn kim loại và các vật dụng
làm bằng kim loại.
2.2.2. Các hình ảnh về sơ đồ, biểu đồ
- Một số hình ảnh cụ thể ở các bài như sau:

Tên hình ảnh Lớp, bài, trang
Sơ đồ ba trạng thái của chất: rắn, lỏng, khí HH 8; Bài 6. Đơn chất và hợp chất-Phân tử;
Trang 22
Sơ đồ lò nung vôi thủ công, sơ đồ lò nung vôi
công nghiệp
HH 9; Bài 2. Một số oxit quan trọng; Trang 7
Sơ đồ cấu tạo nguyên tử các đồng vị của nguyên
tố hiđro

Trang 22
Mô hình phân tử metan HH 9; Bài 36. Metan; Trang113
Mô hình thí nghiệm khám phá ra hạt nhân
nguyên tử
HH10NC; Bài 1. Thành phần nguyên tử;
Trang 4
Mô hình phân tử P
4
HH11NC; Bài 14. Photpho; Trang 59
Mô hình đặc: a) amoniac, b) metylamin, c)
anilin
HH12NC; Bài 11. Amin; Trang 56

- Khi quan sát các hình ảnh mô hình này, học sinh có thể rút ra những kiến thức quan
trọng cho bài học, hiểu bản chất hơn những kiến thức trình bày trong sách giáo khoa
- Ví dụ hình ảnh: Mô hình phân tử metan (Bài 36. Metan,
Hóa học 9) (hình 2). Học sinh quan sát, phân tích mô hình dạng
rỗng, dạng đặc để biết được đầy đủ hơn về 4 liên kết đơn trong
phân tử metan giữa nguyên tử C và 4 nguyên tử H quay về 4 phía
khác nhau (hướng về 4 đỉnh của tứ diện đều) không đối xứng như
thấy được trong công thức cấu tạo thường viết vì vậy góc liên kết
tạo thành là 109,5
o
chứ không phải góc 90
o
như thường viết công
thức cấu tạo.
3. Kết luận
Để thực hiện việc tổ chức bài dạy hóa học theo hướng đổi
mới phương pháp dạy học có hiệu quả, việc sử dụng sách giáo

THẢO LUẬN NHÓM TRONG DẠY HỌC CÁC MÔN PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC VẬT LÍ
Trần Thị Thanh Thư
*

TÓM TẮT
Đổi mới phương pháp dạy học là chủ đề được nhiều người bàn luận từ nhiều năm nay.
Tuy nhiên, hiểu và thực hiện tốt vấn đề này là điều không đơn giản, tuỳ thuộc vào đặc thù
từng môn học mà giảng viên có thể lựa chọn phương pháp dạy học cho phù hợp. Riêng đối
với các môn thuộc về phương pháp dạy học vật lí (lí luận dạy học vật lí, phân tích chương
trình vật lí phổ thông, giải bài tập vật lí …) để đạt được hiệu quả trong dạy học thì việc lựa
chọn phương pháp thảo luận trong dạy học được nhiều người quan tâm.
I. Đặt vấn đề
Thảo luận nhóm có khả năng tốt trong việc phát huy tính tích cực, tự lực, sự tự tin, tinh thần
hợp tác, những kĩ năng sống và làm việc trong tập thể. Trong học tập, không phải mọi tri thức,
kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là môi
trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con
đường học tập và chiếm lĩnh tri thức. Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến
mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình
độ mới.
II. Nội dung
1. Phương pháp thảo luận nhóm
a) Khái niệm
Trong lý luận dạy học (LLDH) đã có nhiều định nghĩa khác nhau về thảo luận nhóm:
Theo Trần Thị Ngọc Lan - Vũ Thị Minh Hằng: Thảo luận nhóm là một phương pháp
học tập trong đó nhóm các người học cùng nhau chiếm lĩnh tri thức một bài học, phấn đấu vì
một mục đích chung, giải quyết một nhiệm vụ đặt ra trong quá trình học tập [3].
Theo tác giả Phan Trọng Ngọ: Thảo luận theo nhóm nhỏ là phương pháp trong đó nhóm lớp
(lớp học) được phân chia thành nhóm nhỏ để tất cả các thành viên trong lớp đều được làm
việc, thảo luận về một vấn đề cụ thể và đưa ra ý kiến chung của nhóm mình về vấn đề đó [5].

- Cử đại diện để trình bày kết quả làm việc của nhóm.
Trong giai đoạn này giảng viên theo dõi, giúp đỡ sinh viên (SV) khi có khó khăn
Bước 3: Thảo luận, tổng kết trước toàn lớp
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả.
- Các nhóm trao đổi, thảo luận chung.
- GV nhận xét, bổ sung, chỉnh lí và đưa ra kết luận cuối cùng. Chỉ ra được những kiến
thức SV cần lĩnh hội.
c) Các yêu cầu chung trong thảo luận nhóm
- Lớp học được chia thành nhiều nhóm khác nhau. Mỗi nhóm có một nhóm trưởng và
một thư kí.
- GV phải chia nội dung bài thành nhiều vấn đề nhỏ liên kết với nhau, sau đó giao
chủ đề thảo luận cho các nhóm.
- Các sản phẩm phải được giới thiệu và trình trước nhóm và lớp. Phải có thông tin
phản hồi từ các nhóm.
- Phải đảm bảo yếu tố cạnh tranh và thi đua các nhóm.
- GV đóng vai trò vừa là cố vấn vừa là trọng tài cho các nhóm để có thể nhận xét và
đi đến kết luận chung.
2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thảo luận nhóm trong dạy học các môn phương
pháp dạy học vật lí
Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, thảo luận (xêmina) là phần nội dung
mang tính bắt buộc đối với giảng dạy ở các bộ môn, trong đó có bộ môn Vật lí. Tuy nhiên,
việc giảng viên tiến hành thảo luận (xêmina) như thế nào? Có sử dụng đúng mục đích của
giờ thảo luận (xêmina) hay không? và nếu có thì hiệu quả sử dụng những giờ đó như thế
nào? Cho đến nay vẫn chưa có đánh giá xác thực. Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy có
một số vấn đề nổi bật như sau:
- Đa số giảng viên còn lúng túng trong quá trình tiến hành thảo luận; có thể do trình
độ nhận thức vấn đề còn hạn chế hay có những vấn đề nảy sinh ngoài dự đoán và ra khỏi
tầm kiểm soát của giảng viên.
- Hầu hết sinh viên tham gia thảo luận vẫn còn bỡ ngỡ không biết xoay sở vấn đề
như thế nào trong thời gian cho phép; sinh viên tham gia thảo luận chủ yếu là để đối phó.
Giai đoạn 3: Tổng kết và đánh giá Đối với giảng viên

Đối với sinh viên


lu
ận

Nghiên cứu nội
dung bài học và
nội dung có liên
quan
Lựa chọn
phương pháp và
phương tiện
thực hiện để
chứng minh giả
thuyết
Lựa chọn
phương pháp và
phương tiện phù
hợp để thực hiện
chứng minh các
giả thuyết
Đối với
giảng viên

Đối với
sinh viên

Lựa chọn
nhóm (thành
lập nhóm)
Gia nhập để
thành lập

24

c) Chuẩn bị các phương tiện hỗ trợ
* Giáo trình và tài liệu có liên quan đến môn học
Giáo trình chính và các tài liệu tham khảo là phương tiện quan trọng trong việc thảo
luận nhóm, giáo trình là nguồn cung cấp kiến thức cơ bản, làm cơ sở cho SV có thể hiểu được
lý thuyết từ đó mới có thể thực hành hay thực hiện được những yêu cầu của GV.
* Phiếu học tập (PHT)
Phiếu hướng dẫn thảo luận nhóm hay còn gọi là phiếu học tập, là tờ giấy ghi chép những
nội dung, kiến thức nhất định hay những yêu cầu để giúp GV điều khiển gián tiếp hoạt động
thảo luận nhóm của SV. Phiếu học tập thường do giáo viên thiết kế nhằm phục vụ cho việc
dạy học của thầy và trò.
Phiếu học tập phải có các chức năng sau:
* Chức năng cung cấp thông tin và sự kiện
Phiếu học tập có thể là văn bản, bảng số liệu, hình ảnh, sơ đồ tóm tắt hoặc trình bày
bằng những cấu trúc nhất định một lượng thông tin, dữ liệu hoặc sự kiện xuất phát cần thiết
cho người học.
* Chức năng công cụ hoạt động và giao tiếp
Phiếu học tập còn nêu lên nhiệm vụ học tập, những yêu cầu hoạt động, những hướng dẫn
học tập, những công việc và vấn đề người học cần sử dụng để thực hiện hoặc giải quyết. Thông
qua nội dung và tính chất này nó thực hiện chức năng công cụ hướng dẫn và giao tiếp trong quá
trình học tập của người học.
Tương ứng với hai chức năng trên có hai loại PHT:
- Phiếu sự kiện: Thực hiện chức năng cung cấp thông tin hoặc thông báo sự kiện
- Phiếu làm việc: Thực hiện chức năng công cụ trực tiếp hỗ trợ cho các hoạt động và
quan hệ của người học, tương tác chia sẽ giữa người học với nhau và với GV. Có nhiều phiếu
làm việc: Dùng bài tập để ôn tập kiến thức thì phiếu làm việc được gọi là PHT; trong khi
phiếu làm việc tình huống và vấn đề thảo luận thì phiếu làm việc được gọi là phiếu yêu cầu;
nếu trong phiếu học tập qui định những nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng thì phiếu làm việc gọi là
phiếu thực hành; khi công việc qui định phiếu làm việc là thí nghiệm, thì đó là phiếu thực

d) Chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho thảo luận nhóm
- Điều kiện đối với giảng viên:
+ Lựa chọn được chủ đề thảo luận.
+ Có khả năng chuyển hoá các tri thức trong giáo trình sang tri thức dưới dạng tình
huống.
+ Biết cách phân chia nhóm thảo luận.
+ Biết cách phân bố thời gian cho mỗi chủ đề thảo luận.
+ Phải có năng lực điều hành buổi thảo luận từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc
+ Tạo ra không khí thoải mái trong thảo luận và có khả năng xử lí các tình huống
ngoài dự kiến.
+ Bao quát để nắm tình hình.
+ Góp ý và uốn nắn lệch lạc khi cần thiết.
+ Biết sử dụng các dụng cụ thí nghiệm và các phương tiện trực quan.
Nhìn chung, để dạy học theo phương pháp thảo luận nhóm có hiệu quả, được phổ biến
rộng rãi đòi hỏi giảng viên phải có lòng nhiệt tình, tâm huyết và không ngừng nâng cao năng lực
chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm.
- Điều kiện đối với sinh viên:
Đối với nhóm trưởng:
+ Hướng dẫn nhóm đi sâu vào phần quan trọng hoặc các vấn đề cần làm sáng tỏ.
+ Cân đối thời gian cho mỗi vấn đề.
Do nhóm trưởng có vai trò rất quan trọng nên việc lựa chọn nhóm trưởng phải
hội đủ các đức tính: lanh lợi có kiến thức tương đối tốt hơn so với các thành viên, có khả
năng diễn đạt, có uy tín đối với nhóm.
Đối với thành viên khác:
+ Phải tuân theo sự điều hành của nhóm trưởng.
+ Tích cực, nhiệt tình, hăng hái tham gia thảo luận.
+ Phải có tài liệu phục vụ cho việc thảo luận.
+ Xác định rõ nhiệm vụ học tập và tự lập kế hoạch học tập cho bản thân.
+ Mạnh dạn phát biểu và đóng góp ý kiến khi cần thiết.
3. Ví dụ cụ thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status