BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM CHO SINH VIÊN
NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON TRƯỜNG ĐH THỦ ĐÔ HÀ NỘI
ThS. Vũ Thúy Hoàn
Trường ĐH Thủ đô Hà Nội
Tóm tắt: Phát triển kỹ năng giao tiếp sư phạm là vấn đề quan trọng trong công
tác đào tạo giáo viên hiện nay, đặc biệt là trong đào tạo giáo viên mầm non. Kỹ năng
giao tiếp sư phạm cần được hình thành và phát triển qua các bước, từ lĩnh hội tri thức,
quan sát đến luyện tập, trong đó khâu luyện tập qua thực hành trải nghiệm đóng vai trò
quan trọng nhất. Thực trạng rèn kỹ năng giao tiếp sư phạm trong công tác đào tạo giáo
viên mầm non tại Trường ĐH Thủ đô Hà Nội cho thấy cần phải đổi mới hơn nữa nhằm
phát triển kỹ năng giao tiếp sư phạm cho sinh viên hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn.
Từ khóa: Kỹ năng, giao tiếp sư phạm, kỹ năng giao tiếp sư phạm, cơ chế hình
thành kỹ năng, Trường ĐH Thủ đô Hà Nội, sư phạm mầm non.
Abstract: Develop pedagogical communication skills are important issues in
the training of teachers at present, especially in pre-school teacher training.
Pedagogical communication skills should be formed and developed through the steps,
from the fields of knowledge, to train observers, including through practical training
sewing experience the most important role. Situation forging communication skills in
pedagogical training for preschool teachers at the Ha Noi Metropolitan University
indicate the need for more innovation in order to develop pedagogical communication
skills to students more effectively, more quyckly.
Keyword: Skill, Pedagogical communication, Pedagogical communication
skills, skills formation mechanism, Ha Noi Metropolitan University, Preschool
Pedagogy
Mở đầu
Để quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ đạt hiệu quả, người giáo viên
mầm non cần phải được trang bị đầy đủ năng lực chuyên môn, bên cạnh đó là các kỹ
hiện quá trình truyền đạt thông tin giáo dục, cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác
động qua lại với người học, nhằm đạt mục đích giáo dục. Nói cách khác, kỹ năng giao
tiếp sư phạm là sự phối hợp hài hòa giữa tri thức, năng lực sư phạm và thái độ của giáo
viên, được bộc lộ trong hoạt động giáo dục. Đó là sự chín muồi các phẩm chất nhân
cách và năng lực của người giáo viên trong nghề nghiệp của mình.
Như vậy, kỹ năng giao tiếp sư phạm được thể hiện ra ngoài thực tế qua các thao
tác, nó là kết quả của quá trình vận dụng tri thức, kinh nghiệm và thái độ tích cực của
người giáo viên nhằm thực hiện có hiệu quả theo mục đích đã đề ra. Có thể coi kỹ
năng giao tiếp sư phạm như là mặt năng lực của nhà sư phạm. Khi xem xét kỹ năng
giao tiếp sư phạm, cần phải chú ý đến tính đúng đắn, sự linh hoạt, mềm dẻo trong hành
động.
211
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
Mỗi cá nhân khi sinh ra đều không có sẵn bất kỳ một kỹ năng nào, nhà sư phạm
cũng vậy, để có được kỹ năng sư phạm, học phải trải qua một quá trình rèn luyện, vậy
cơ chế hình thành kỹ năng diễn ra như thế nào?
Quá trình hình thành kỹ năng bất kỳ, gồm 3 bước:
Bước 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động.
Bước 2: Quan sát mẫu và làm thử theo mẫu (Thông qua các tình huống giả định
và hoạt động trải nghiệm).
Bước 3: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu, điều kiện
hành động nhằm đạt được mục đích đặt ra. (Thông qua các tình huống giả định và hoạt
động trải nghiệm).
Như vậy, việc nhận thức mục đích, cách thức và điều kiện hành động là rất
trong quá trình hình thành kỹ năng nghề nghiệp, đặc biệt là đối với nghề dạy học.
Đặc điểm nghề nghiệp của giáo viên mầm non
Giáo viên mầm non là người làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ
từ 3 đến 72 tháng tuổi tại các cơ sở giáo dục mầm non. Vị trí của người giáo viên mầm
non có thể được coi là người thầy đầu tiên cùng với cha mẹ trẻ xây dựng nền móng
ban đầu nhân cách của con người nói chung, trẻ em nói riêng. Điều đó cũng cho thấy
vai trò, trách nhiệm rất đặc biệt của họ đối với xã hội.
Do đặc thù của đối tượng tác động là những trẻ trước tuổi học, vì vậy, khác với
cô giáo ở các cấp học khác, giáo viên mầm non phải chăm sóc giáo dục trẻ theo
phương thức cô giáo như mẹ hiền. Cho nên, giáo viên mầm non phải hội tụ đủ những
hành vi ứng xử của người mẹ: dịu dàng, tận tụy, tỉ mỉ, vô tư (không vụ lợi), nhẹ nhàng
khi chăm sóc trẻ. Giáo viên mầm non là những người có tri thức tổng hợp khoa học
giáo dục mầm non một cách có hệ thống, biết vận dụng sáng tạo những tri thức trong
giao tiếp ứng xử với trẻ thể hiện qua sự mẫu mực hành vi ứng xử đối với mọi người,
đối với trẻ từ lời nói rõ ràng, mạch lạc, thao tác hành vi chứa đựng những thái độ đầy
lòng nhân ái, vị tha.
Từ những đặc điểm riêng đó, giao tiếp sư phạm của người giáo viên mầm non
với trẻ luôn thể hiện rõ tính xúc cảm, tính gia đình, động viên khuyến khích, đảm bảo
nguyên tắc dạy – dỗ, được thể hiện thông qua hàng loạt các kỹ năng cơ bản như: kỹ
năng nuôi dưỡng, kỹ năng chăm sóc, kỹ năng giáo dục trẻ. Các kỹ năng quan trọng
này của họ đã được hình thành và rèn luyện ngay từ khi là sinh viên, thông qua các
hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
Thực trạng hoạt động hình thành, phát triển kỹ năng giao tiếp sư phạm cho
sinh viên ngành Giáo dục mầm non Trường Đại học Thủ Đô Hà Nội.
Có thể nói rằng, việc hình thành và phát triển kỹ năng giao tiếp sư phạm đóng
vai trò quan trọng trong công tác đào tạo nghề cho sinh viên. Từ cơ chế hình thành kỹ
năng đã cho thấy, việc hình thành và phát triển kỹ năng nghề sẽ chỉ được diễn ra khi cá
nhân được trực tiếp tham gia vào các hoạt động trải nghiệm thực tế.
Hiện nay, trong chương trình đào tạo giáo viên mầm non của trường Đại học
Thủ Đô Hà Nội, sinh viên được thực hành, thực tập tại trường mầm non với thời lượng
Thực trạng đó cho thấy, hoạt động rèn kỹ năng giao tiếp sư phạm cho sinh viên
khoa Giáo dục Mầm non của trường Đại học Thủ Đô Hà Nội bên cạnh những thuận lợi
thì vẫn còn nhiều tồn tại cần khắc phục.
Bàn luận và đề xuất
Như vậy, để hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm nhằm phát triển kỹ năng
nghề nghiệp hơn nữa cho sinh viên khoa Giáo dục Mầm non Trường Đại học Thủ Đô
Hà Nội, cần phải làm tốt một số vấn đề sau:
Về phía giảng viên
Đối với các giảng viên giảng dạy các học phần Tâm lý – giáo dục mầm non,
cần chủ động cập nhật, tìm hiểu thêm các tình huống sư phạm mới nảy sinh ngoài thực
tiễn và đưa vào trong quá trình giảng dạy để sinh viên trao đổi, thảo luận nhằm hình
thành các kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm cho sinh viên.
214
HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
Với các giáo viên giảng dạy các môn phương pháp, ngoài việc thường xuyên
cập nhật các phương pháp giảng dạy tiên tiến, các yêu cầu đổi mới ngoài thực tế, cần
thường xuyên củng cố các kiến thức tâm lý, giáo dục trẻ mầm non. Hiện nay, cùng với
sự phát triển của xã hội, các đặc điểm phát triển tâm lý, thể lực và vận động của trẻ
ngày càng có nhiều những biến đổi và phát triển đa dạng, phức tạp. Nếu phương pháp
giảng dạy không phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ngoài thực tế thì công tác
chăm sóc giáo dục trẻ sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, trong quá trình giảng
dạy, giảng viên cần quan tâm đến việc dạy mẫu, làm mẫu. Đây là một khâu tất yếu
trong quá trình hình thành kỹ năng. Các giảng viên có thể chủ động đề xuất và mời các
giáo viên giỏi từ các trường mầm non cùng thiết kế, xây dựng và làm mẫu ngay tại
giảng đường. Sự sinh động trong hoạt động học tập trên lớp sẽ giúp sinh viên hình
thành kỹ năng sư phạm một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất.
*Về cơ sở vật chất, cần trang bị phòng thực hành nghiệp vụ sư phạm với đầy đủ
các trang thiết bị dạy học, bàn ghế, thảm ngồi .v.v… và đồ dùng đồ chơi như một
phòng học của trẻ ở trường mầm non. Phòng thực hành sẽ là nơi để sinh viên và giảng
viên các môn phương pháp tiến hành các hoạt động thực hành môn học một cách
thường xuyên, sinh viên sẽ có cơ hội để thể hiện cách chuẩn bị môi trường chơi, đội
hình chơi cũng như các bước trong giáo án tổ chức hoạt động. Ngoài ra, phòng thực
hành cũng là nơi để giảng viên và sinh viên triển khai thí điểm các mô hình giáo dục
mới cho trẻ mầm non thông qua các giờ dạy thực nghiệm và đảm bảo nguyên tắc giáo
dục gắn lý thuyết với thực hành.
Bên cạnh đó, việc xây dựng trường mầm non thực hành và xây dựng mạng lưới
trường mầm non thực hành vệ tinh cũng là một yếu tố rất quan trọng, tạo cơ hội cho
sinh viên được thực hành trải nghiệm ở các môi trường khác nhau, hình thành và phát
triển các kỹ năng nghề nghiệp một cách ổn định như yêu cầu của cơ chế hình thành kỹ
năng.
Hệ thống thiết bị dạy học, đồ dùng đồ chơi trong giảng dạy cho các môn học
cần được trang bị đầy đủ. Hiện nay, việc hình thành kỹ năng nghề nghiệp cho sinh
viên mầm non hầu hết đầu thông qua các tri thức trong giáo trình, hoặc tốt hơn một
chút là qua quan sát các video do các giảng viên sưu tầm. Đây là một tồn tại không
nhỏ đối với hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, việc dạy “chay” như vậy sẽ không
tạo được cơ hội cho sinh viên thực hiện đủ 3 bước để hình thành kỹ năng nghiệp vụ sư
phạm.
*Cần đổi mới nội dung, cách đánh giá và cách thức tổ chức các hoạt động rèn
luyện nghiệp vụ cho sinh viên và có cơ chế hỗ trợ hợp lý. Các cuộc thi Nghiệp vụ giỏi
diễn ra hàng năm bên cạnh việc tổ chức thi giảng, nên bổ sung thêm nội dung thi soạn
giáo án và được tổ chức trước các phần thi còn lại một khoảng thời gian nhất định
(phần thi giảng, soạn giáo án sẽ phải là phần thi trọng tâm của hội thi). Thực tế hiện
nay cho thấy các phần thi của Hội thi Nghiệp vụ Giỏi như Lời chào sinh viên, Sinh
viên thông thái, Tài năng sinh viên được quan tâm đầu tư rất nhiều, diễn ra rất sôi nổi,
tuy nhiên phần Thi giảng chuyên ngành chưa tạo được sự quan tâm nhiều như vậy từ
phía sinh viên. Để thay đổi được tình hình đó, cần có sự định hướng, truyền thông của
and Reactions to Challenging Classroom Behavior: Implications for Speech –
Language Pathologists. Language, Speech, And Hearing Services in Schools.
Vol.36, page 139-151.
[10]. Emel Arslan (2010), Analysis of Communication Skill and Interpesonal Problem
Solving in Preschool Trainees. Social Behavior and Personality Vol.38 page 523530.
[11]. R.Ragip Basbagi (2012), Interculture Communication Skill among Prospective
Turkish Teacher of German in The Context of The Comparative Country
Knowledge Course. Educational Sciences: Theory &Practice Vol.12 page 21872193
[12]. Fulya Yukesel – Sahin (2008), Communication Skill Levels in Turkish
Prospective Teachers Social Behavior and Personality Vol.36 page 1283 -1294.
217