BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN
NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC TRƯỜNG ĐH THỦ ĐÔ HÀ NỘI
TS. Ngô Thị Kim Hoàn; ThS. Phạm Thị Quỳnh Anh
Trường ĐH Thủ đô Hà Nội
Tóm tắt: Bài viết trình bày kết quả khảo sát thực trạng kĩ năng mềm của sinh
viên khoa Giáo dục Tiểu học Trường ĐH Thủ đô Hà Nội, các khóa 2013 – 2016, 2014
– 2017 và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển một số kĩ năng mềm cần thiết cho
sinh viên – những giáo viên tiểu học tương lai.
Từ khóa: Kĩ năng, kĩ năng mềm, giáo dục tiểu học
Abstract: This article presents the result of student-teachers’ soft skills survey
and proposes number of solutions to develop soft skills for student-teachers in Primary
education faculty – Hanoi Metropolitan University courses 2013 – 2016, 2014 - 2017.
Key words: Skills, soft skills, primary education
1. Mở đầu
Trên thế giới, kĩ năng mềm được đề cập và bắt đầu đưa vào giáo dục đại học từ
những năm cuối thế kỉ XX và nở rộ vào những năm đầu thế kỉ XXI. Ở Việt Nam, Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã ra thông tư số 2196/BGDĐT- GDĐH ngày 22/4/2010 về
hướng dẫn xây dựng và công bố chuẩn đầu ra ngành đào tạo cho giáo dục đại học,
trong đó có yêu cầu về kĩ năng mềm cho sinh viên. Sinh viên chuyên ngành sư phạm
nói chung, ngành Giáo dục Tiểu học nói riêng sau khi tốt nghiệp sẽ gia nhập thị trường
lao động đặc biệt - thị trường giáo dục - sản phẩm là những con người có phẩm chất,
năng lực chuyên môn, các kĩ năng thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học, giáo dục và phát
triển nhân cách người học.
Quyết định số 14/2007/QĐ-BGDĐT ban hành Quy định về Chuẩn giáo viên
Tiểu học có quy định những năng lực người giáo viên Tiểu học gồm: các yêu cầu
thuộc lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống (Điều 5), các yêu cầu thuộc lĩnh
hoàn cảnh, điều kiện nhất định, đạt được một chỉ tiêu nhất định. Các kĩ năng có thể là
kĩ năng nghề nghiệp (các kĩ năng kĩ thuật cụ thể như hàn, tiện, lái xe, giám sát, kế
toán,…) và kĩ năng sống (các kĩ năng giao tiếp, ứng xử, tư duy, giải quyết xung đột,
hợp tác, chia sẻ,…) [6].
Kĩ năng mềm: Có nhiều cách hiểu khác nhau về kĩ năng mềm nhưng tựu chung
lại kĩ năng mềm - hay còn gọi là kĩ năng thực hành xã hội - là một khía cạnh của kĩ
năng sống, đề cập đến mối quan hệ giao tiếp, tương tác và giải quyết sự việc, vấn đề
bẳng trí tuệ xúc cảm (EQ - Emotional Quotient).
Ví dụ: kĩ năng giao tiếp khéo léo, tinh thần lạc quan, thái độ tự tin, khả năng
dẫn dắt lãnh đạo đội - nhóm, kĩ năng sắp xếp và tổ chức công việc…
Kĩ năng mềm chủ yếu là những kĩ năng thuộc về tính cách con người, không
mang tính chuyên môn, không thể sờ nắm, không phải là kĩ năng cá tính đặc biệt [7].
Kĩ năng mềm khác với kĩ năng cứng để chỉ trình độ chuyên môn, kiến thức chuyên
môn hay bằng cấp và chứng chỉ chuyên môn.
219
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
2.1.2. Vai trò của kĩ năng mềm
Cùng với kĩ năng chuyên môn (kĩ năng cứng), kĩ năng mềm được cho rằng
đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của mỗi người (cuộc sống và sự nghiệp).
Tháng 4/2014, chính phủ Úc đã đưa ra bản báo cáo “Kĩ năng của người Úc” có
trị giá khoảng 1,75 triệu đô Úc (tương đương với khoảng 26 tỷ VND) nhằm cải cách
giáo dục và đào tạo kĩ năng nghề nghiệp. Bản báo cáo là sự đúc kết những tài liệu
tham khảo về các kĩ năng, đề cập đến những vấn đề như: tại sao cần có những kĩ năng,
phải rèn luyện như thế nào để có được các kĩ năng, tại sao cá nhân và quốc gia sẽ có
HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
Để thực hiện được tốt công việc dạy học, giáo dục học sinh, sinh viên ngành
Giáo dục Tiểu học ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường cần được bồi dưỡng các
kĩ năng mềm như: giao tiếp ứng xử và tạo lập mối quan hệ, lắng nghe, giải quyết vấn
đề, tư duy sáng tạo, quản lí thời gian v.v…
2.2.
Thực trạng một số kĩ năng mềm của sinh viên khoa Giáo dục Tiểu học –
trường Đại học Thủ đô Hà Nội
Ở phần này, chúng tôi trình bày những những kết quả khảo sát kĩ năng mềm đối
với sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Thủ đô Hà Nội và những phân
tích, kết luận được rút ra từ kết quả khảo sát. Quá trình khảo sát được tiến hành từ
tháng 10/2015 đến tháng 11/ 2015.
2.2.1. Đối tượng khảo sát và mục đích khảo sát
Nhằm tìm hiểu thực trạng kĩ năng mềm của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học,
trường Đại học Thủ đô Hà Nội và đề xuất giải pháp phát triển kĩ năng mềm, nhóm
nghiên cứu đã tiến hành khảo sát để thu thập dữ liệu thực tế. Thời gian khảo sát: từ
tháng 10/2015 đến tháng 11/2015.
Đối tượng khảo sát: sinh viên năm thứ hai và năm thứ ba khoa Giáo dục Tiểu
học. Đây là hai nhóm đối tượng sắp đi thực tập sư phạm.
Chúng tôi muốn có cái nhìn tổng quan cũng như sự đánh giá sơ bộ về một số kĩ
năng cần thiết của sinh viên, từ đó đề xuất kế hoạch rèn luyện và bổ sung những kĩ
năng cần thiết cho sinh viên trong quá trình thực tập cùng như công tác sau này.
2.2.2. Nội dung khảo sát
Bảng khảo sát bao gồm 15 câu hỏi được thiết kế trên 2 trang A4. Câu hỏi dưới
hình thức trắc nghiệm và theo hình thức đánh giá mức độ; được phân nhóm và trải
rộng trên các vấn đề sau:
Nhận thức của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học về kĩ năng mềm (câu 1, 2,
trả lời
Năm thứ hai: 198
166/198 (83,8%)
Năm thứ ba: 102
74/102 (72,5%)
2.2.4. Kết quả khảo sát
Nhóm
câu hỏi
Nội dung và kết quả khảo sát
1, 2, 3, 4, Nhận thức của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học về kĩ năng mềm
5, 6, 7
91,6% sinh viên được hỏi cho rằng kĩ năng mềm là những kĩ năng có thể
ứng dụng trong học tập, công việc, để có thể thành công trong cuộc sống
và công việc.
100% sinh viên được hỏi khẳng định tầm quan trọng của kĩ năng mềm
trong học tập, công việc… cũng như đánh giá được tầm quan trọng của các
kĩ năng được hỏi.
100% sinh viên được hỏi kể tên được ít nhất 5 kĩ năng mềm và chỉ ra được
các kĩ năng mềm cần thiết cho giáo viên Tiểu học trong tương lai.
Sinh viên biết đến kĩ năng mềm thông qua nhiều kênh thông tin khác nhau:
đài báo, internet, bạn bè, nhà trường..., nhưng đều đánh giá cao thông tin
thu nhận được từ thầy cô giáo. Điều này chứng tỏ trong quá trình giảng
dạy, các giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học đã có ý thức và thực hiện việc
Chỉ 2,5% sinh viên đánh giá mức độ cần thiết đào tạo kĩ năng mềm là bình
thường. Số còn lại cho rằng việc đào tạo kĩ năng mềm phải được thực hiện
ngay từ khi sinh viên còn ngồi trên ghế nhà trường.
100% sinh viên nhận thấy việc nâng cao kĩ năng mềm chỉ có hiệu quả khi
bản thân được trải nghiệm qua các lớp tập huấn; tích cực tham gia các câu
lạc bộ, các hoạt động đoàn thể, tình nguyện, đi làm thêm…
Tóm lại, từ các kết quả khảo sát có thể thấy, các kĩ năng mềm sinh viên chọn là
quan trọng đối với người giáo viên Tiểu học gồm: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng làm việc
nhóm, kĩ năng thuyết trình, kĩ năng lập kế hoạch, kĩ năng quản lí thời gian hiệu quả
(xếp theo mức độ giảm dần). Sinh viên nhận thức được tầm quan trọng của kĩ năng
mềm trong học tập và cuộc sống, cũng như việc rèn luyện kĩ các kĩ năng mềm.
223
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
2.3.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
Đề xuất những biện pháp phát triển kĩ năng mềm cho sinh viên ngành
Giáo dục Tiểu học trường Đại học Thủ đô Hà Nội
Từ kết quả khảo sát, sinh viên khoa Giáo dục Tiểu học xác định những kĩ năng
mềm cần thiết cho quá trình học tập cũng như công tác sau này ở trường Tiểu học
gồm: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng thuyết trình, kĩ năng lập kế
hoạch, kĩ năng quản lí thời gian hiệu quả. Theo nhóm nghiên cứu, những kĩ năng mềm
này không chỉ quan trọng với sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, mà còn thiết thực
HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
Nhà trường và Khoa liên hệ để xây dựng một hệ thống các điểm trường Tiểu
học trên địa bàn thành phố để gửi sinh viên đến học tập, tìm hiểu thực tế nhà trường,
tạo cơ chế cho sinh viên được thường xuyên đến trường giao lưu, học hỏi kinh nghiệm
thực tế phổ thông. Việc này nên diễn ra hàng tháng, thay vì chỉ dồn vào thời gian thực
tập năm thứ 2 và năm thứ 3.
Trực tiếp đến trường phổ thông quan sát, học hỏi, ngay từ năm đầu tiên học tập
tại trường sư phạm, sinh viên sẽ có cơ hội được tiếp xúc với các giáo viên trường Tiểu
học (những người có thể coi là đồng nghiệp tương lai), tiếp xúc với học sinh Tiểu học
trong các tình huống khác nhau. Trải qua các tình huống giao tiếp và ứng xử, giải
quyết công việc tại trường, sinh viên sẽ có những kinh nghiệm. Mặt khác, sinh viên
vừa học tập tại trường sư phạm, vừa được làm việc, tìm hiểu thực tế trường Tiểu học
đòi hỏi sinh viên phải có kĩ năng quản lí thời gian, tổ chức, sắp xếp công việc hiệu quả
hơn.
Việc kí kết hợp tác giữa khoa Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Thủ đô Hà
Nội và trường Tiểu học Brendon trong năm 2015, tạo ra cơ hội cho sinh viên của khoa,
ngay từ năm thứ nhất, đã được xuống dự giờ ở trường Tiểu học. Đây là cơ hội tốt để
sinh viên được trải nghiệm thực tế, trau dồi các kĩ năng mềm cần thiết của người giáo
viên Tiểu học.
2.1.3. Vai trò của Đoàn thanh niên và Hội sinh viên nhà trường
Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên Nhà trường cũng là một lực lượng quan trọng
trong việc bồi dưỡng kĩ năng mềm cho sinh viên. Tổ chức Đoàn, Hội hàng tháng vẫn
có các hoạt động chào mừng, kỉ niệm các ngày lễ, sự kiện của dân tộc…Đây là cơ hội
để sinh viên tham gia, qua đó góp phần rèn luyện các kĩ năng mềm như giao tiếp, thiết
lập các mối quan hệ, hợp tác…
Chúng tôi cho rằng, bên cạnh những hoạt động chào mừng và kỉ niệm thiết thực
đó, Đoàn, Hội cũng nên tổ chức cho đoàn viên thanh niên nhà trường có những cơ hội
trải nghiệm thực tiễn. Bồi dưỡng kĩ năng mềm thông qua giải quyết những vấn đề hiện
hữu hàng ngày như: vấn đề vệ sinh học đường, cải tạo môi trường và cảnh quan học
làm việc nhóm, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng quản lí thời gian, kĩ năng sáng tạo
v.v… Phương pháp giảng dạy tích cực khuyến khích sinh viên bày tỏ ý kiến, quan
điểm, làm việc hợp tác và tự học cũng là cách để phát triển kĩ năng mềm của sinh viên.
Việc tổ chức hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm hàng tháng của khoa Giáo
dục Tiểu học cần bổ sung thêm nội dung rèn luyện, cải tiến về hình thức tổ chức để
phát triển thêm các kĩ năng mềm cho sinh viên. Ví dụ với nội dung thi kể chuyện, có
thể có thêm các yêu cầu như: diễn hoạt cảnh có âm thanh, ánh sáng minh họa, làm đồ
dùng dạy học sử dụng trong kể chuyện. Thông qua thực hiện các nội dung này, sinh
viên có cơ hội hợp tác, giao tiếp, xây dựng và thực hiện kế hoạch đã thống nhất.
2.3.3. Sinh viên
.Mỗi sinh viên khoa Giáo dục Tiểu học cần nhận thức rõ ý nghĩa của việc trang
bị và phát triển kĩ năng mềm. Trên cơ sở đó, tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc
rèn luyện kĩ năng mềm trong quá trình học tập của bản thân. Mỗi kĩ năng được hình
thành và phát triển đều phụ thuộc vào nhận thức, quyết tâm, năng lực tiếp nhận của
chủ thể - ở đây là sinh viên, cách rèn luyện và tính phức tạp của chính kĩ năng đó.
226
HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
Việc thành lập và tham gia các câu lạc bộ như câu lạc bộ Nghiên cứu khoa học,
Nghệ thuật, câu lạc bộ Viết chữ đẹp, trong đó sinh viên đóng vai trò là chủ nhiệm các
câu lạc bộ, ban cố vấn là các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học, cũng là
những hình thức phát triển kĩ năng mềm một cách sáng tạo cho sinh viên.
Qua việc sinh hoạt các câu lạc bộ trên, sinh viên được rèn luyện và phát triển
một số kĩ năng mềm thông qua việc chủ động thiết lập các mối quan hệ, hợp tác, làm
việc cùng nhau, lên kế hoach, tổ chức các hoạt động một cách sáng tạo trong quỹ thời
gian phù hợp…Sự phát triển của các câu lạc bộ này, cùng sự trưởng thành, tiến bộ của
sinh viên trong học tập, các hoạt động ngoại khóa và thực tập sư phạm là minh chứng