MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................. 4
1. Lý do chọn đề tài ...............................................................................................4
2. Lịch sử vấn đề ...................................................................................................4
3. Mục đích của đề tài ...........................................................................................9
4. Đối tƣợng nghiên cứu........................................................................................9
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài ...........................................................9
6. Phƣơng pháp nghiên cứu...................................................................................9
7. Ý nghĩa, hiệu quả của đề tài ............................................................................10
Chƣơng 1. NHỮNG GIỚI THUYẾT CƠ BẢN VỀ TỪ HÁN VIỆT ................... 11
1.1. Khái niệm từ Hán Việt .................................................................................11
1.2. Tiếp xúc Hán Việt và tiếp xúc Việt Hán......................................................13
1.3. Vai trò của từ Hán Việt. ...............................................................................15
1.4. Đặc trƣng ngữ nghĩa của từ Hán Việt trong cảm thức ngôn ngữ của ngƣời
Việt………………………………………………………………………………17
1.5. Đặc trƣng chức năng và phong cách của vốn từ Hán Việt trong cảm thức
ngôn ngữ của ngƣời Việt. ......................................................................................21
1.6. Sự phân công chức năng và phong cách của từ Hán Việt và thuần Việt
trong tiếng Việt văn học. .......................................................................................25
1.7. Dạy học từ Hán Việt ở chƣơng trình Tiểu học ............................................27
1.8. Tiểu kết chƣơng 1 ........................................................................................29
2
Chƣơng 2: PHƢƠNG PHÁP NHẬN DIỆN VÀ GIẢI NGHĨA TỪ HÁN VIỆT
............................................................................................................................................ 31
2.1. Nhận diện âm tiết Hán Việt về mặt ngữ âm trong mối quan hệ với âm tiết
thuần Việt...............................................................................................................31
2.2. Nhận diện về mặt cấu tạo .............................................................................35
2.3. Nhận diện từ Hán Việt theo tiêu chí ngữ nghĩa và phong cách ...................42
một cách có khoa học.
Chính vì vậy, đề tài này nhằm cung cấp các phƣơng pháp bồi dƣỡng kỹ năng
sử dụng từ Hán – Việt cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học trƣờng Đại học Sài
Gòn.
2. Lịch sử vấn đề
Từ Hán Việt nói riêng và vốn từ gốc Hán nói chung đã đƣợc chú ý nghiên
cứu sâu từ mấy chục năm trở lại đây và đã đạt đƣợc nhiều thành tựu quan trọng.
Tác giả Trần Trí Dõi tác giả của sách “Giáo trình Lịch sử tiếng Việt (sơ
thảo)” đã nêu rõ tiếng Việt có họ Nam Á, phân chia các giai đoạn phát triển của lịch
sử tiếng Việt; đồng thời cũng đã khẳng định lịch sử tiếng Việt gắn liền với lịch sử
dân tộc Việt Nam.
Tác giả Nguyễn Văn Khang viết trong “Từ ngoại lai trong tiếng Việt”, từ
ngoại lai cụ thể là từ mƣợn Hán (gồm từ Hán Việt, từ Hán Việt cổ, từ Hán Việt Việt
hóa, từ Hán Việt phỏng âm phƣơng ngữ Hán), từ mƣợn Pháp và từ tiếng Anh sử
dụng trong tiếng Việt. Đối với ông, từ ngoại lai trong tiếng Việt chỉ là những từ mà
ngƣời ta có thể nhận thấy “từ nguyên” của chúng. Đồng thời, ông cũng đã lƣờng
trƣớc việc truy tìm từ nguyên để phân biệt từ ngoại lai với từ thuần Việt trong tiếng
Việt “chỉ là lý thuyết”. Nhƣng dù sao ở đây ông vẫn nhấn mạnh vào giá trị nguồn
4
gốc của từ, coi nó nhƣ là tiêu chí cơ bản để phân biệt “từ thuần gốc” với “từ ngoại
lai”. Nói đến “từ ngoại lai” trong tiếng Việt là nói đến từ gốc Hán. Qua đó, nó đã
cung cấp cho tiếng Việt một số lƣợng từ khổng lồ và khác nhau về nguồn gốc mà
nay vẫn quen gọi là từ Hán Việt cổ và từ Hán Việt.
Trong “Rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt và mở rộng vốn từ Hán Việt”
Nguyễn Quang Ninh – Đào Ngọc – Đặng Đức Siêu – Lê Xuân Thại cũng đã phân
tích sự hình thành từ ngữ Hán Việt trong từ vựng tiếng Việt, yếu tố Hán Việt và mở
rộng vốn yếu tố Hán Việt; phân tích cấu tạo của từ Hán Việt và thành ngữ, tục ngữ
Hán Việt. Đặc biệt, các tác giả đã chỉ ra đƣợc giá trị phong cách của từ ngữ Hán
Việt...
Tranh luận và trình bày các quan điểm về xác định khái niệm từ thuần Việt
với từ Hán Việt.
Tìm hiểu quá trình và đặc điểm sử dụng từ Hán Việt nói chung và các yếu tố
Hán Việt trong cấu tạo từ tiếng Việt.
Nghiên cứu đặc điểm cấu tạo từ Hán Việt.
Nghiên cứu đặc điểm và phong cách từ Hán Việt cũng nhƣ những thể
nghiệm về phong cách sử dụng từ Hán Việt trong văn học.
Đặt vấn đề sử dụng và sáng tạo từ Hán Việt trong mối quan hệ với bối cảnh
văn hoá nói chung: khoa cử chữ Hán, Nho học ở Việt Nam, vấn đề điển tích điển cố
và thi văn liệu Hán học trong sáng tác văn học trung đại...
Ngoài ra, từ Hán Việt cũng đƣợc đặt ra và bàn luận trên phƣơng diện dạy học
trong nhà trƣờng. Với tƣ cách là đối tƣợng dạy học, từ Hán Việt đƣợc đề cập cụ thể
ở nhiều góc độ, nhƣ: vấn đề lựa chọn từ Hán Việt nhƣ thế nào, số lƣợng là bao
nhiêu cho phù hợp với mỗi trình độ, cấp học; vấn đề lựa chọn nghĩa để giải thích
cho phù hợp với ngữ cảnh trong khi mỗi một từ Hán Việt thƣờng có nhiều nét nghĩa
khác nhau; phƣơng pháp và cách thức truyền đạt làm sao cho đúng, dễ hiểu, dễ tiếp
thu và vận dụng chính xác…
Có thể nhận thấy, các vấn đề nghiên cứu đã đƣợc đặt ra vừa có phạm vi rộng,
vừa có những nội dung chi tiết, ở những phạm vi ứng dụng cụ thể. Nhìn chung, các
nhà nghiên cứu đã giải quyết và đi đến thống nhất một số vấn đề cơ bản sau đây:
Khẳng định vai trò, ý nghĩa văn hoá, học thuật quan trọng của vốn từ gốc
Hán nói chung và vốn từ Hán Việt nói riêng trong việc hình thành nên tiếng Việt
văn hoá...
6
Thống nhất về quan điểm lịch sử trong nhìn nhận, phân tích, đánh giá về các
phƣơng diện liên quan của từ Hán Việt với tiếng Việt và văn hoá Việt - Hán.
Thành tựu trong nghiên cứu về nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc
độ tiếp xúc ngôn ngữ văn học. Tác giả đã chỉ ra từ Hán-Việt là những từ Việt gốc
Hán ( vay mƣợn trực tiếp hay vay mƣợn trung gian) hoạt động trong làng tiếng Việt
dƣới sự chi phối về ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp của tiếng Việt.
Vấn đề sử dụng các thuật ngữ Hán-Việt nhƣ thế nào cho hợp lý đã đƣợc tác
giả Nguyễn Văn Tu đề cập trong bài “Việc dùng từ Hán-Việt thế nào cho thích
hợp”. Ông đã đề cập đến các khái niệm: từ Hán cổ, từ gốc Hán và Hán Việt, từ góc
nhìn của một nhà nghiên cứu, tác giả nói lên đƣợc những giá trị phong cách cũng
nhƣ những hạn chế của từ vay mƣợn. Còn tác giả Trƣơng Chính với bài “Từ lời
dạy của Bác đến việc biên soạn cuốn từ điển mới” đã nêu rõ sự cần thiết có một
cuốn từ điển làm chuẩn cho ngƣời sử dụng cũng nhƣ cho ngƣời dạy và học, đó
chính là cách góp phần vào việc giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt về mặt từ
ngữ.
Từ Hán Việt là đối tƣợng dạy học trong nhà trƣờng phổ thông.
Theo hƣớng này, nhiều tác giả đã có đóng góp các đề tài nghiên cứu nhƣ: Lê
Xuân Thại, Phan Thiều, Phan Văn Các, Nguyễn Văn Khang…
Trƣơng Chính đã đƣa ra những đề xuất về việc dạy và học từ Hán-Việt ở
trƣờng phổ thông nhƣ thế nào qua bài “Dạy học từ Hán-Việt ở trƣờng phổ thông”.
Ở bài “Xử lý các yếu tố gốc Hán trong ngôn ngữ sách giáo khoa phổ thông”,
Phan Văn Các đã đi sâu vào khảo sát và thống kê từ Hán-Việt có trong sách giáo
khoa tiểu học với nhiều nhận xét về từ ngữ, ngữ Hán-Việt. Bên cạnh đó, tác giả còn
chỉ ra những thiếu sót của soạn giả sách giáo khoa, đồng thời nêu những đề xuất về
phƣơng pháp dạy từ Hán-Việt ở Tiểu học, cần xác lập một bảng ngữ liệu định
lƣợng những từ, từ tố Hán-Việt tối thiểu, cần thiết và đủ dung cho học sinh từ thấp
lên cao.
Phan Thiều có bài “Dạy cho học sinh nắm yếu tố và các kiểu quan hệ ngữ
nghĩa trong các đơn vị định danh”, qua đó tác giả đã đề xuất phƣơng pháp dạy từ
Hán-Việt cho học sinh một cách có hiệu quả nhằm tạo cho học sinh một vốn cơ sở
để có thể tự mình suy ra ngữ nghĩa của từ ghép mà mình gặp.
Cũng nghiên cứu về phƣơng pháp dạy từ Hán-Việt, tác giả Nguyễn Văn
Khang đã có bài nói về một vài đặc điểm liên quan đến việc dạy và học từ Hán-Việt
6.1. Phƣơng pháp thống kê phân loại: đƣợc sử dụng để thống kê, phân loại
các vấn đề, các phƣơng diện đƣợc trình bày trong đề tài.
9
6.2. Phƣơng pháp đối chiếu, so sánh: đƣợc sử dụng trong phân tích và chứng
minh các vấn đề, các dẫn chứng cụ thể.
6.3. Phƣơng pháp phân tích ngôn ngữ: đƣợc sử dụng trong các trƣờng hợp
thuyết minh vai trò của từ Hán Việt.
6.4. Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp: hai phƣơng pháp này thƣờng xuyên
đƣợc sử dụng; phân tích để làm rõ các vấn đề cụ thể và tổng hợp nhằm khái quát lại
các ý chính.
7. Ý nghĩa, hiệu quả của đề tài
Chúng tôi hy vọng rằng, đề tài của chúng tôi có giá trị thiết yếu trong việc
hình thành đƣợc kỹ năng sử dụng từ Hán Việt cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu
học Đại học Sài Gòn.
10
Chƣơng 1. NHỮNG GIỚI THUYẾT CƠ BẢN VỀ TỪ HÁN VIỆT
1.1. Khái niệm từ Hán Việt
Từ Việt gốc Hán là một hiện tƣợng đa dạng và phức tạp. Nó thuộc các nguồn
khác nhau, đƣợc du nhập vào tiếng Việt qua nhiều giai đoạn và phƣơng thức khác
nhau; có lúc lẻ tẻ, chậm chạp, theo con đƣờng khẩu ngữ, có lúc ồ ạt mang tính hệ
thống theo con đƣờng sách vở, hành chính, giáo dục; có lúc bị biến đổi theo sự biến
đổi ngữ âm của tiếng Việt, có lúc bị biến đổi ngữ nghĩa qua thời gian sử dụng, cũng
có lúc bị biến đổi cả cấu trúc. Ngay nhƣ ở thời kỳ sau này, cũng có những từ vay
mƣợn theo con đƣờng khẩu ngữ, mang tính phƣơng ngữ, bằng cách phiên âm (nhƣ :
hoành thánh, há cảo,…), tuy không nhiều. Nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc San quan
mà cả về mặt ngữ nghĩa, phong cách cũng nhƣ khả năng hoạt động ngữ pháp. Cho
nên có thể nói những từ này tạo thành một lớp riêng. Cũng giống nhƣ từ tiền Hán
Việt, chúng có đặc điểm là đã bị Việt hóa hoàn toàn về các mặt ngữ âm, ngữ nghĩa
và phong cách, hoàn toàn giống nhƣ những từ bản địa, chúng có thể hoạt động độc
lập trong cấu tạo từ cũng nhƣ trong câu. Do vậy, các nhà nghiên cứu cũng đồng tình
xếp chúng vào lớp từ thuần Việt.
Quá trình Việt hóa về mặt ngữ âm đƣợc thực hiện bằng cách thay thế, bổ
sung phụ âm đầu, phần vần hoặc thanh điệu của một âm tiết Hán. Ví dụ: thanh
(Hán) – xanh (Việt), đao - dao, tâm can - tim gan, kí - ghi, cận - gần, ngoại - ngoài,
kiều - cầu, họa - vạ... Một số chữ Hán bị phát âm chệch đi vì nhiều nguyên nhân
hoặc để tránh sự phạm húy. Ví dụ: sinh - sanh, trường - tràng, bảo - bửu, phúc phước, hoàng - huỳnh, nghĩa - ngãi, nhân - nhơn...
1.1.3. Từ Hán Việt
Ta có thể hiểu từ Hán Việt là các từ gốc Hán đƣợc đọc theo âm Hán Việt
(đƣợc gọi tắt là từ Hán-Việt). Âm Hán Việt là âm đọc của tất cả các từ Hán đƣợc
Việt hóa theo một con đƣờng nhƣ nhau, đƣợc hình thành cho tất cả mọi chữ Hán,
theo những quy luật khá chặt chẽ; lấy xuất phát điểm là âm Hán Trung cổ ở các thế
kỷ VIII, IX, trƣớc thời tự chủ của dân tộc ta ít lâu (ứng với thời kỳ triều đại Nhà
Đƣờng của Trung Quốc) và phản ảnh khá sát cách phát âm này. Âm Hán Trung cổ
này đƣợc Việt hóa từ đầu thời tự chủ (thế kỷ X) khi tiếng Hán đã mất tính cách là
một sinh ngữ, do đó phải tuân theo những quy luật ngữ âm của tiếng Việt và phụ
thuộc vào thói quen cấu âm của ngƣời Việt. Quá trình này chắc chắn có mầm mống
từ trƣớc thế kỷ X, và phải kéo dài hàng mấy thế kỷ mới hình thành ra âm Hán-Việt
12
ngày nay. Cách đọc âm Hán Việt đƣợc thực hiện cho tất cả các từ Hán nằm trong
thƣ tịch của ngƣời Hán, kể cả các thƣ tịch có trƣớc đời Đƣờng (trƣớc các thời Tiên
Tần, Lƣỡng Hán) và các thƣ tịch xuất hiện sau này (Nguyên, Minh, Thanh). Cho
nên âm Hán Việt vừa là một sự kiện lịch sử xảy ra ở một thời điểm, vừa là cách đọc
chung và phổ biến cho mọi thời kỳ, đƣợc sử dụng để đọc và sáng tác văn thơ bằng
phát triển và trở thành chữ viết chung đƣợc sử dụng rộng rãi trong các dân tộc ở
khu vực này. Lƣu ý là cách nói và ngôn ngữ của các dân tộc có thể hoàn toàn khác
nhau vì thuộc các hệ ngôn ngữ khác nhau.
Sau hàng chục thế kỷ dƣới sự cai trị và đồng hóa của ngƣời Hán, ngƣời Việt
vẫn giữ đƣợc tiếng nói và nhiều phong tục riêng của mình. Tuy vậy, vẫn có sự ảnh
hƣởng nhất định về văn hóa, thể chế chính trị của Trung Quốc đối với ngƣời Việt,
kể cả trong tƣ tƣởng triết học và ngôn ngữ.
Do không có chữ viết riêng (theo truyền thuyết thì ngƣời Việt cổ có chữ viết
riêng nhƣng bị ngƣời Hán hủy bỏ, cấm đoán dẫn đến mất hẳn), trƣớc khi chữ quốc
ngữ ra đời, ngƣời Việt phải dùng chữ Hán để viết nhƣng họ đọc theo âm Việt (chữ
Nôm cũng dựa vào chữ Hán nhƣng phức tạp hơn và chƣa đƣợc chuẩn hóa nên cũng
không đƣợc phổ cập). Cùng với tâm lý ngƣỡng mộ văn hóa Trung Hoa, xem đó là
mẫu mực, văn hóa Trung Quốc cũng ảnh hƣởng một phần tới văn hóa Việt. Tổ chức
chính quyền phong kiến các triều đại đều theo mô hình Trung Quốc. Các nghi lễ
"hôn, quan, tang, tế" cũng ảnh hƣởng của kiểu Trung Quốc.
Hệ quả của quá trình giao lƣu tiếp xúc ngôn ngữ - văn hoá Việt - Hán trong
một thời kì lịch sử lâu dài đã để lại trong tiếng Việt một bộ phận quan trọng, đó
chính là lớp từ Hán Việt. Nó cũng là bộ phận chủ yếu của vốn từ gốc Hán trong
tiếng Việt. Từ gốc Hán trong tiếng Việt còn có các bộ phận khác là lớp từ tiền Hán
Việt, lớp từ Hán Việt Việt hoá, các từ thuộc phƣơng ngữ của tiếng Hán hiện đại du
nhập vào tiếng Việt gần đây.
Trong các loại từ vay mƣợn tiếng Hán, từ Hán Việt chiếm ƣu thế tuyệt đối.
Theo ƣớc lƣợng của các nhà nghiên cứu, từ Hán Việt chiếm khoảng trên dƣới 70%
vốn từ trong phong cách chính luận, khoa học (Maspéro thì cho rằng, chúng chiếm
tới hơn 60% lƣợng từ tiếng Việt).
Sở dĩ có nhiều lớp từ gốc Hán nhƣ thế trong tiếng Việt là vì quá trình du
nhập ngôn ngữ và văn hoá Hán xảy ra đối với xã hội Việt Nam qua nhiều giai đoạn
khác nhau. Ở mỗi một thời kì, ngôn ngữ Hán du nhập vào tiếng Việt lại chịu ảnh
14
cần phải đƣợc học trong nhà trƣờng để giúp cho ngƣời đời sau có thể hiểu đƣợc nội
15
dung của các trƣớc tác và quan trọng hơn cả là học từ Hán Việt để giúp chúng ta
trong quá trình giao tiếp.
Trong khi giao tiếp, ngƣời sử dụng tiếng Việt phải tuân theo quy luật phát
triển tự nhiên của ngôn ngữ. Tuỳ theo nội dung của vấn đề giao tiếp mà ngƣời sử
dụng nó có thể dùng từ Hán Việt hay từ thuần Việt. Trong một số văn cảnh hay ngữ
cảnh nhất định, từ thuần Việt và từ Hán Việt có thể thay thế đƣợc cho nhau nhƣng
có rất nhiều trƣờng hợp từ thuần Việt và từ Hán Việt có những khả năng diễn đạt và
biểu cảm khác nhau mà ngƣời sử dụng nó khó có thể đổi chỗ đƣợc. Ví dụ: từ thuần
Việt phổ biến, giản dị, trong sáng, dễ hiểu đối với quảng đại quần chúng nhân dân.
Loại từ này nói lên ai cũng hiểu đƣợc. Đối với từ thuần Việt ngoài việc giản dị, dễ
hiểu nó còn có sắc thái dựng hình, gợi cảnh, tô màu tạo cảm giác sinh động (khúc
khuỷu, ghồ ghề, mênh mông, bát ngát, đỏ chon chót...) nhƣng ít có khả năng diễn
đạt các khái niệm trừu tƣợng. Trên thực tế có một số vốn từ thuần Việt còn là
những yếu tố xúc tác nhằm phát huy tối đa tiềm năng vốn có của từ Hán Việt, ví dụ
nhƣ câu:
"Cầu thệ thuỷ ngồi trơ cổ độ
Gác phong thu đứng rũ tà huy"
(Cung oán ngâm khúc - Nguyễn Gia Thiều)
Thì những từ thuần Việt nhƣ "cầu", "ngồi trơ", "gác", “đứng rũ” đã là những
chất xúc tác cực mạnh giúp cho những ngƣời thƣởng thức nó chƣa hiểu rõ nghĩa từ
Hán Việt trong câu mà cũng thấm hiểu đƣợc nỗi buồn thê lƣơng trong cảnh hoang
phế đến cực độ. Đó là một chiếc cầu trơ khấc, một bến đò không ngƣời qua lại và
căn gác để đón gió thu đứng rũ trong bóng chiều tà.
Không chỉ "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều mà ngay cả
"Truyện Kiều" của Nguyễn Du là tác phẩm Nôm trong đó chứa đựng rất nhiều từ
Hán Việt, cùng những điển cố điển tích xen kẽ với các từ thuần Việt và chúng đã
thay thế đƣợc trong giao tiếp cũng nhƣ trong văn chƣơng cổ của từ Hán Việt. Trên
thực tế, nếu chúng ta không đƣợc trang bị một vốn từ Hán Việt cần thiết thì sẽ
không thấu hiểu đƣợc nội dung của tác phẩm (đôi khi vấn đề còn bị hiểu lệch) và
khi giao tiếp nhiều khi sử dụng từ Hán Việt sai nghĩa và sai cả phong cách.
1.4. Đặc trưng ngữ nghĩa của từ Hán Việt trong cảm thức ngôn ngữ của
người Việt
17
1.4.1 Nghĩa của từ đơn Hán Việt
Thƣờng thì nghĩa của từ Hán Việt đa phần là nghĩa vay mƣợn. Tuy nhiên,
cũng có một số từ đơn Hán Việt đƣợc gia giảm về ngữ nghĩa, những nét nghĩa gia
giảm này chỉ bộc lộ trong từng ngữ cảnh nhất định. Cho nên, ở đây có thể chia
những từ đơn Hán Việt tùy theo ngữ nghĩa thành hai loại sau:
1.4.1.1. Từ đơn Hán Việt nguyên nghĩa Hán
Nguyên nghĩa của một từ đơn Hán Việt là chỉ chung những nét nghĩa vốn có
trong tiếng Hán văn ngôn. Nhờ một dung lƣợng nguyên nghĩa khá phong phú, nhƣ
nghĩa gốc, nghĩa mở rộng..., những từ đơn Hán Việt loại này có đủ khả năng hoạt
động một cách tự nhiên bên cạnh những từ ngữ thuần Việt. Có điều, trên phƣơng
diện vận dụng, ngƣời cầm bút chỉ chọn một nét nghĩa nào đó trong một từ để diễn
đạt những tƣ duy lôgích, cũng nhƣ sắc thái phù hợp với vần điệu trong câu thơ tiếng
Việt. Tính nguyên nghĩa của chúng luôn đƣợc bảo tồn cho dù xuất hiện ở bất cứ
trƣờng hợp nào. Đó là các nhóm từ chỉ phƣơng hƣớng: đông, đoài; nhóm từ chỉ thời
tiết : xuân, thu, đông; nhóm từ chỉ hoạt động tâm lý: sầu, não, oán, thương, v.v..;
nhóm từ chỉ các khái niệm trừu tƣợng: chí, hồn, kiếp v.v..
Chẳng hạn, xét về từ xuân thì tuy ở từng ngữ cảnh vẫn có nét nghĩa khác
nhau, nhƣng suy cho cùng thì cũng đều dùng theo nguyên nghĩa trong tiếng Hán.
Và vì vậy, nếu xuân trong câu: “Xuân từng đổi mới đông nào còn dƣ”, cả từ xuân
và đông ở đây đều là từ Hán Việt dùng để chỉ về mùa trong một năm thì trong câu:
chẳng hạn. Nếu trong câu: “Con chim bạt gió lạc loài kêu thương” (nguyên tác:
khiếu thanh ai), thương hàm nghĩa Hán: đau buồn xót xa, thì trong câu: “Kìa lão
thân khuê phụ nhớ thương”, thương lại mang nét nghĩa rất tinh tế là yêu mến,
thƣơng quý trong tiếng Việt.
1.4.2. Nghĩa của từ ghép Hán Việt
Về phƣơng diện ngữ nghĩa của từ Hán Việt, có hiện tƣợng sử dụng xen kẽ
giữa nguyên nghĩa tiếng Hán và biến nghĩa tiếng Việt. Vì vậy, ở đây có thể nhận xét
ngữ nghĩa của từ Hán Việt trên hai phƣơng diện sau:
1.4.2.1. Từ ghép Hán Việt nguyên nghĩa Hán
Là những từ ghép Hán Việt vốn có trong tiếng Hán. Chẳng hạn, xét về từ
hồng tiện thì hồng là tên một loài chim có khả năng bay xa, chuyên giúp việc đƣa
tin tức; tiện là chỉ sự thuận lợi, dễ dàng. Từ hai yếu tố này hình thành nét nghĩa
mang tính thành ngữ cho cả từ: thƣ từ, tin tức qua lại không bị trở ngại. Chính từ
ghép này dịch giả đã mƣợn trong nguyên tác (Tây phong dục ký vô hồng tiện).
19
Đồng thời, trong lớp từ ghép nguyên nghĩa này, cũng có những từ chính bản thân
nó lại mang hai nét nghĩa tƣơng phản, vì vậy, dịch giả đã khéo léo tạo ra một ngữ
cảnh để xác định một nghĩa hành chức nhất định của từ. Ví dụ, từ ghép phong lưu
hàm chứa hai nét nghĩa đối lập nhau, một nghĩa biểu thị phong cách tốt (bao nghĩa)
và một nghĩa biểu thị hành động xấu (biếm nghĩa). Khi hành chức trong câu:
“Khách phong lưu đƣơng chừng niên thiếu” thì phong lưu phải đƣợc giải thích với
nét nghĩa tốt: ngƣời có học thức, có cử chỉ thái độ thanh nhã, đài các; đối lập với
nghĩa: chuyện tình nam nữ bất chính (phong tình lưu lãng 風 情 流 浪).
1.4.2.2. Từ ghép Hán Việt biến nghĩa Việt
Đây là loại từ ghép cũng đƣợc vay mƣợn từ tiếng Hán văn ngôn nhƣng lại
mang nét nghĩa đƣợc hình thành trong tiếng Việt. Ví dụ, từ ghép hư không. Trong
tiếng Hán hư không có nghĩa là khoảng không trống rỗng, không có gì, nhƣng trong
tiếng Việt thì hư không còn có nghĩa là không có thật, là trạng thái lửng lơ, hụt hẫng
cảm thức ngôn ngữ của ngƣời Việt.
Tu từ học nghiên cứu những thuộc tính biểu cảm của các phƣơng tiện ngôn
ngữ. Sự vận dụng các kết quả nghiên cứu đó sẽ giúp cho lời văn hay hơn, đẹp hơn.
Trải qua quá trình lựa chọn, cải biên và vận dụng kéo dài hàng ngàn năm, lớp từ
Hán Việt đã trở thành một bộ phận hữu cơ trong kho tàng di sản văn hoá của dân
tộc ta và đƣợc chúng ta sử dụng để thể hiện sắc thái tu từ trong các phong cách
chức năng khác nhau. Từ Hán Việt là nguồn chất liệu đáng kể trong văn học bác
học và văn chƣơng bình dân. Các tác phẩm văn học kinh điển của dân tộc ta, nhƣ:
Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, Truyện Kiều, Khóc Trương Quỳnh Như,
Chiều hôm nhớ nhà... đều sử dụng từ Hán Việt.
Ngày nay, trong kho từ ngữ tiếng Việt còn tồn tại hàng loạt cặp từ Hán Việt và
thuần Việt có nghĩa tƣơng đƣơng nhau về sắc thái ý nghĩa, về mặt biểu cảm và đƣợc
dùng song song với nhau. Trong đó, từ Hán Việt thƣờng mang sắc thái cổ kính và
không thông dụng còn các từ thuần Việt mang tính hiện đại, thông dụng. Và các
nhà thơ cổ điển đã dịch một khái niệm cổ điển sang hiện đại. Ví dụ:
quyền môn → cửa quyền
phù vân
→ mây nổi
thanh sử → sử xanh
Có thể nói tới 4 sắc thái tu từ của từ Hán Việt.
1.5.1. Sắc thái trang trọng
Một số từ Hán Việt thay thế từ thuần Việt vì Hán Việt tạo cảm giác trang
trọng, nghiêm trang hơn:
21
phụ nữ – đàn bà
nông dân – dân cày
Có thể lấy ví dụ so sánh bằng hai bài thơ: Thu điếu (Nguyễn Khuyến) và
Chiều hôm nhớ nhà (Bà huyện Thanh Quan). Trong bài Thu điếu, Nguyễn
Khuyến dùng toàn từ thuần Việt để gợi về mùa thu có thực, về nông thôn bình dị,
đẹp nên thơ và rất đỗi thân yêu của làng quê Việt Nam. Ông không dùng từ Hán
Việt vì nếu dùng thì cảm giác thân quen, gần gũi rất có thể sẽ bị mất đi. Và ở đây,
chính các từ thuần Việt đã tạo nên âm hƣởng, tạo nên cảm giác thân quen ấy. Trái
lại, trong bài thơ của bà huyện Thanh Quan đó lại là hình ảnh về buổi chiều của nội
tâm. Tác giả đã đẩy lùi bức tranh vào thế giới của tâm tƣởng, ý niệm. Trong Mẹo
giải thích từ Hán Việt của Phan Ngọc có viết: Các từ Hán Việt mà nữ thi sĩ dùng
đẩy ta vào thế giới muôn đời. Trên đời chỉ có những ông chài, những thôn bản,
những trẻ chăn trâu, những ngƣời ở đài cao, những ngƣời khách trọ cảnh ấm lạnh
của cuộc đời. Làm gì có những ngƣ ông, những viễn phố, những mục tử, những cô
thôn, làm gì có trang đài, ngƣời lữ... Từ Hán Việt đều đặt vào vị trí quyết định – vần
cuối câu thơ – dễ gây tiếng vọng trong tâm hồn ta, kéo ta về cõi vĩnh viễn của ý
niệm. Và nỗi u hoài của nhà thơ là nỗi u hoài của cái kiếp trƣớc không biết đến
tháng năm, thời đại. Đây là nghệ thuật lựa chọn từ ngữ rất công phu. Những từ đó là
những tín hiệu thẩm mĩ, những mô típ nghệ thuật gắn với phong cách Đƣờng thi và
trở thành nét đẹp truyền thống của thơ ca Việt Nam.
1.5.4. Sắc thái cổ
Một số từ Hán cổ quen dùng trong quá khứ đến bây giờ dùng lại gợi sắc thái
cổ: tôn ông, huynh ông, phụ vương, ái phi, đồng môn, đồng tuế...
Mô tả những hình ảnh cổ kính của một triều đại đã qua với một tâm trạng
nuối tiếc, trong bài thơ Thăng Long thành hoài cổ, bà huyện Thanh Quan đã sử
dụng những từ Hán Việt một cách có ý thức. Và việc xếp những từ này vào cuối
dòng thơ càng in đậm những hình tƣợng ngƣng đọng trong kí ức. Tất cả đƣa đến
cho ta cảm giác về một sự đổi thay của tạo hoá:
Tạo hoá gây chi cuộc hí trường
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
1.6. Sự phân công chức năng và phong cách của từ Hán Việt và thuần
Việt trong tiếng Việt văn học
Từ Hán Việt mang sắc thái trang trọng, cổ kính còn từ thuần Việt mang sắc
thái dân dã, bình dị, cụ thể. Từ Hán Việt đã làm cho tiếng Việt giàu có thêm về cả
mặt từ vựng - ngữ nghĩa lẫn sắc thái biểu cảm.
Phong cách cổ kính, trang trọng, thấp thoáng của từ Hán Việt là điều hiển
nhiên, có thực chứ không phải là sự suy đoán và nó đã gây áp lực đến hệ thống âm
Hán Việt. Hai hệ thống âm Hán Việt và thuần Việt có một đƣờng ranh giới ngữ âm,
vì âm Hán Việt suy cho cùng vẫn là hệ quy chiếu âm nƣớc ngoài. Ví dụ: Hán Việt
không có thủy âm [g] và [r]; các âm đầu tắc họng (không đƣợc ghi trong chữ Quốc
ngữ) bắt nguồn từ âm tắc họng vô thanh Hán nên luôn luôn đứng trƣớc các vần
mang thanh điệu bổng (ngang, sắc, hỏi) ví dụ: a, á, ả, âm, ấm, ẩm, ung, úng, ủng, y,
ý, ỷ... các thủy âm [ch], [gi], [kh], [x] bắt nguồn từ âm đầu vô thanh Hán nên cũng
luôn luôn đứng trƣớc các vần mang thanh điệu bổng (ngoại lệ chỉ có xã, xạ) nhƣ:
chi, chí, chỉ, chung, chúng, chủng, gia, giá, giả, giang, giáng, giảng, kham, khám,
khảm, khô, khố, khổ, xi, xí, xỉ, xa, xá, xả... về vần, Hán Việt không có các vần on,
ot, om, op, ơm, ơp, oen, oét, âng, âc, e, en, eo, em, ep, ên, êt, êm, êp, v.v.. các nhà
văn xƣa khi sáng tác văn thơ Nôm bằng tiềm thức đã lờ mờ nhận thấy đƣờng ranh
giới này mà vận dụng nó trong khi lựa chọn vần thơ. Áp lực phong cách của hai hệ
thống từ vựng đã ảnh hƣởng cả vào địa hạt ngữ âm. Vần Hán Việt đƣợc dùng để tạo
không khí trang trọng, cổ kính cho bài thơ. Ví dụ Bà Huyện Thanh Quan đã dùng
vần Hán Việt ôn để viết bài Chiều hôm nhớ nhà và vần Hán Việt ương viết bài
Thăng long thành hoài cổ với những câu nhƣ:
Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Đến nay thấm thóat mấy tinh sương
Dấu xƣa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương...
Và ngƣợc lại, các thi sĩ dùng vần thuần Việt om, on, eo... để tạo cho bài thơ ý
vị dân dã, mộc mạc, thân thuộc, hoặc bỡn cợt. Nguyễn Khuyến dùng vần eo sáng
tác bài Thu điếu, gợi nên phong cảnh làng quê thân thƣơng giản dị với những câu:
kỷ XVIII, XIX, lại rất ít tham gia vào ngôn ngữ dân gian (ví dụ hầu nhƣ vắng mặt
trong các chuyện cổ tích) nên đã khoét sâu dần cái hố ngăn cách giữa chúng với các
từ thuần Việt, khiến ta nhìn chúng nhƣ nhìn vào quá khứ, nhìn vào một bức tƣợng
26