1
2
3
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
CAO THỊ NGA
MỘT SỐ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH
KỸ NĂNG
TỰ HỌCTHEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
4
VINH – 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
6
Tôi cũng xin trân trọng cám ơn Ban giám hiệu, Phòng Tổ chức Cán bộ
Trường Đại học Sài Gòn; các anh, chị đồng nghiệp bộ môn Tâm lý – Giáo
dục; các anh, chị khoa Giáo dục Tiểu học, đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ tôi
được tham gia học tập và nghiên cứu.
Cám ơn các em sinh viên khoa Giáo dục Tiểu học.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ tình cảm biết ơn đến những người thân trong
gia đình về sự động viên và giúp đỡ to lớn nhất đã dành cho tôi trong suốt
qúa trình học tập, nghiên cứu và hoàn tất luận văn này.
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2011
Cao Thị Nga
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu, sơ đồ Trang
MỞ ĐẦU ..........................................................................................................1
7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI ...........................................6
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ....................................................................6
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài ..........................................................11
Viết đầy đủ
1
CNH
Công nghiệp hóa
2
HĐH
Hiện đại hóa
3
ĐHSG
Đại học Sài Gòn
4
TCN
Trước công nguyên
5
KN
Trung bình chung
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC VINH
9
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS PHẠM MINH HÙNG
Phản biện 1:
TS. PHAN QUỐC LÂM
Phản biện 2:
PGS.TS NGUYỄN THỊ HƯỜNG
Luận văn sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sỹ họp tại
Trường Đại học Vinh vào hồi …. giờ …. ngày …. tháng …. Năm 2012.
CÓ THỂ TÌM HIỂU LUẬN VĂN TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
10
Bảng 2.7: Mức độ nhận thức chung của sinh viên về kỹ năng tự học
44
Bảng 2.8: Nhận thức về vai trò, ý nghĩa của kỹ năng tự học
45
Bảng 2.9: Thực trạng mức độ hiểu biết về kỹ năng tự học của sinh viên
489
Bảng 2.10: Lập kế hoạch tự học
501
Bảng 2.11: Cách thức tự học
512
Bảng 2.12: Thời gian tự học
524
Bảng 2.13: Thời gian dành cho tự học
535
Bảng 2.14: Ý kiến đánh giá của giảng viên về tự học của sinh viên
546
Bảng 2.15: Thực trạng hình thành kỹ năng tự học
557
Bảng 2.16: Các yếu tố từ phía sinh viên
579
12
Bảng 2.17: Các yếu tố từ phía giảng viên
5860
Bảng 2.18: Các yếu tố từ phía nhà trường
5961
Bảng 2.19: Thực trạng tổ chức các hoạt động nâng cao nhận thức, thái độ
602
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đổi mới giáo dục ở bậc đại học là một yêu cầu có tính cấp thiết. Trong
qúa trình hội nhập, phát triển, CNH – HĐH đất nước, đổi mới giáo dục là một
tất yếu có tính lịch sử. Nhiều năm qua, Đảng – Nhà nước đã quan tâm đầu tư
thích đáng cho giáo dục, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, coi giáo dục đại
học là nơi đào tạo nguồn nhân lực có trình độ kiến thức và kỹ năng vững
vàng, đáp ứng được yêu cầu đổi mới đất nước. Tuy nhiên, trên thực tế, phần
đông sinh viên các trường đại học, cao đẳng khi rời ghế nhà trường vẫn chưa
đủ sức giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Sinh viên sư phạm sau khi
ra trường phải mất một số năm đào luyện trong môi trường thực tế mới có thể
đứng lớp vững vàng. Những kiến thức thu lượm được qua cách học thụ động
một chiều không đáp ứng được với những thay đổi về chương trình, sách giáo
khoa, phương pháp dạy học ở nhà trường phổ thông. Sở dĩ có tình trạng đó là
do chương trình, phương pháp giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng vẫn
còn thiên về lối giáo dục kinh viện. Người dạy thông báo, áp đặt kiến thức
khuôn mẫu đã được chứng minh, người học chỉ việc ghi nhớ và chấp nhận.
Để khắc phục tình trạng trên, ngành Giáo dục đã và đang đổi mới đồng
bộ cả về cơ chế chính sách, nội dung, chương trình đào tạo và phương pháp
3
dạy học. Luật Giáo dục ghi rõ: “ Phương pháp giáo dục đại học phải coi
trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người
học phát triển tư duy sáng tạo, rèn kỹ năng thực hành, tham gia nghiên
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp
hình thành kỹ năng tự học theo học chế tín chỉ cho sinh viên ngành Giáo dục
tiểu học Trường Đại học Sài Gòn.
3. Khánh thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên ngành Giáo dục tiểu
học Trường Đại học Sài Gòn.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp hình thành kỹ năng tự học theo học chế tín chỉ cho
sinh viên ngành Giáo dục tiểu học Trường Đại học Sài Gòn.
4. Giả thuyết khoa học
Có thể hình thành được kỹ năng tự học theo học chế tín chỉ cho sinh viên
ngµnh Giáo dục tiểu học, Trường Đại học Sài Gòn nếu đề xuất được các biện
pháp có cơ sở khoa học và có tính khả thi.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề hình thành kỹ năng tự học theo
học chế tín chỉ cho sinh viên ngµnh Giáo dục tiểu học.
5.2. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề hình thành kỹ năng tự học
theo học chế tín chỉ cho sinh viên ngành Giáo dục tiểu học, Trường Đại học
Sài Gòn.
5
5.3. Đề xuất các biện pháp hình thành kỹ năng tự học theo học chế tín
chỉ cho sinh viên ngành Giáo dục tiểu học, Trường Đại học Sài Gòn.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục nghiên cứu.
Luận văn gồm 3 chương:
7
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề hình thành kỹ năng tự học theo học
chế tín chỉ cho sinh viên ngành Giáo dục tiểu học.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của vấn đề hình thành kỹ năng tự học theo
học chế tín chỉ cho sinh viên ngành Giáo dục tiểu học, Trường Đại học Sài
Gòn.
Chương 3: Một số biện pháp hình thành kỹ năng tự học theo học chế tín
chỉ cho sinh viên ngành Giáo dục tiểu học, Trường Đại học Sài Gòn.
8
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Các nghiên cứu ở ngoài nước
Tự học không phải là vấn đề mới mẻ trong lý luận và trong thực tiễn
dạy và học ở nước ta cũng như các nước trên thế giới. Trong từng giai đoạn
phát triển của lịch sử, vấn đề tự học đã được đề cập dưới nhiều hình thức khác
nhau và đã được nhiều học giả nghiên cứu.
Ở phương Đông, từ thời cổ đại, nhiều nhà giáo dục lỗi lạc đã nhận thấy
vai trò quan trọng của tự học, trong đó đứng đầu là: Khổng Tử (551479,TCN) nhà giáo dục kiệt xuất Trung Hoa cổ đại luôn quan tâm và coi
trọng mặt tích cực suy nghĩ của người học. Ông đã dạy học trò: Không khao
khát vì không muốn biết thì không gợi cho, không cảm thấy xấu hổ vì không
rõ thì không bày vẽ cho. Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy
XX trong tác phẩm “Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo”, cho rằng: Giáo dục như
là quá trình hướng dẫn tự học mà động lực của nó là kích thích người học
sáng tạo ra giá trị để đạt tới hạnh phúc cho bản thân và cộng đồng [37].
Năm 1986 hai nhà giáo dục của Ấn Độ là S.P.Sharman và Shakti
Ahmed, trong tác phẩm “phương pháp dạy học ở đại học” đã trình bày hoạt
động tự học là một hình thức dạy - học có hiệu quả cao. Thông qua thực hiện
các nhiệm vụ nhận thức để hoàn thành mục đích, nhiệm vụ được xác định. Đó
là quá trình điều khiển hoạt động tự học của sinh viên một cách gián tiếp[37].
Vấn đề tự học từ lâu được nhiều nhà giáo dục đi sâu nghiên cứu và
khẳng định vai trò to lớn của hoạt động tự học. Trong các công trình kể trên
10
các tác giả đã có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về tự học. Tuy nhiên, xuất phát
từ đòi hỏi quy trình đào tạo phải được tổ chức sao cho mỗi sinh viên có thể
tìm được cách học thích hợp nhất, xem người học là trung tâm của quá trình
đào tạo, giúp người học phát triển năng lực tự học, tự sáng tạo suốt đời. Từ
những năm 1872 viện đại học Harvard, sau nhiều năm nghiên cứu đã quyết
định thay thế hệ thống chương trình đào tạo theo niên chế cứng nhắc bằng hệ
thống chương trình đào tạo mềm dẻo được cấu thành bởi các môđun mà sinh
viên có thể lựa chọn một cách rộng rãi, dễ dàng, đáp ứng nhu cầu nhận thức
của người học. Đào tạo theo học chế tín chỉ ra đời với yêu cầu sinh viên phải
tự học là chính.
Thuật ngữ giáo dục học người lớn do UNESCO xuất bản 1979 đã xác
định: Sự giáo dục mà nội dung quá trình tự học được xác định bởi các nhu
cầu, mong muốn của người học nên họ tham gia tích cực vào việc hình thành
và kiểm soát, sự giáo dục này huy động những nguồn lực và kinh nghiệm
của người học. Trong khuyến cáo về giáo dục thế kỷ XXI, UNESCO đã nêu
bốn trụ cột của giáo dục: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống,
chìa khoá vàng của giáo dục Việt Nam trong thời đại bùng nổ thông tin. Các
tác giả đã cho rằng: tự học là trả lại vị trí của người học, là phát huy nội lực
của người học dưới sự điều khiển, định hướng của giáo viên. Các tác giả
khẳng định: tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng năng lực trí tuệ và
các phẩm chất đạo đức để chiếm lĩnh một lĩnh vực tri thức nào đó của nhân
loại, biến những tri thức của nhân loại thành tri thức của chính mình.
Các tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt… cũng đã nêu ra những biện
pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu qủa hoạt động tự học là:
− Hình thành ý thức tự học
− Bồi dưỡng phương pháp tự học
12
− Đảm bảo các điều kiện vật chất tự học
− Kiểm tra thường xuyên
Còn các tác giả Lê Khánh Bằng, Nguyễn Văn Tư [6] trong nghiên cứu
sự chuyển biến từ lối học thụ động sang học chủ động của học sinh, đã chỉ ra
rằng: nhà trường, giáo viên phải bồi dưỡng cho học sinh những năng lực học
tập chủ động bằng cách rèn luyện cho họ bốn kỹ năng học tập cơ bản:
−
Kỹ năng định hướng
−
Kỹ năng thiết kế
−