Một số biện pháp hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ khuyết tật trí tuệ tại trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật quảng trạch - Pdf 25

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT

PHAN XUÂN TRƯỜNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
MỘT SỐ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TỰ PHỤC
VỤ CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ TẠI TRUNG TÂM
GIÁO DỤC TRẺ KHUYẾT TẬT QUẢNG TRẠCH
Chuyên ngành: Giáo dục trẻ khuyết tật trí tuệ
Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Hoàng Yến
Khãa luËn tèt nghiÖp Phan Xu©n Trêng - Líp Ji ca GD§B
HÀ NỘI – 2010
2
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
1.1. Lịch sử của vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Trên Thế giới
1.1.2. Tại Việt Nam
1.2. Những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
1.2.1. Khuyết tật trí tuệ
1.2.1.1. Khái niệm KTTT
1.2.1.2. Nguyên nhân dẫn đến KTTT
1.2.1.3. Phân loại mức độ KTTT
1.2.1.4. Đặc điểm tâm lý của học sinh KTTT
1.2.1.5. Nhu cầu và khả năng của trẻ KTTT
1.2.2. Kỹ năng tự phục vụ
1.2.2.1. Khái niệm kỹ năng và sự hình thành kỹ năng
1.2.2.2. Khái niệm kỹ năng tự phục vụ

Khãa luËn tèt nghiÖp Phan Xu©n Trêng - Líp Ji ca GD§B
Chương 2: Thực trạng việc hình thành kỹ năng tự phục vụ
cho trẻ KTTT tại Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật Quảng
Trạch - Quảng Bình
2.1. Khái quát quá trình khảo sát
2.1.1. Vài nét về địa bàn khảo sát
2.1.2. Quá trình khảo sát
2.2. Thực trạng hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT
2.2.1. Đánh giá nhận thức của giáo viên và người chăm sóc, phụ
huynh học sinh
2.2.2. Môi trường, hình thức dạy kỹ năng tự phục vụ
2.2.3. Nội dung dạy các KNTPV
2.2.4. Biện pháp dạy các kỹ năng tự phục vụ
2.2.5. Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình hình thành các
kỹ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT
2.2.6. Đánh giá chung thực trạng hình thành KNTPV cho trẻ
KTTT
2.2.7. Nguyên nhân thực trạng hình thành KNTPV cho trẻ KTTT.
Chương 3: Biện pháp để hình thành KNTPV cho trẻ KTTT
tại Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật Quảng Trạch
3.1. Ý kiến của giáo viên, phụ huynh, người chăm sóc học sinh
KTTT
3.2. Các biện pháp hình thành KNTPV cho trẻ KTTT
3.2.1. Nhóm biện pháp tác động đến giáo viên
3.2.2. Nhóm biện pháp tác động đến học sinh KTTT
3.2.3. Các biện pháp khác
35
35
35
36

59
63
68
65
65
67
Lời cảm ơn
Qua khóa luận tốt nghiệp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu
sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Hoàng Yến đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em
trong thời gian làm khóa luận.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo Khoa giáo dục đặc biệt –
Trường Đại sư phạm Hà Nội, cùng toàn thể thầy cô giáo Nhật bản, đã mang
đến cho em những kiến thức bổ ích trong thời gian học tập vừa qua, giúp em
tự tin và trưởng thành hơn.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật
Quảng Trạch đã tạo điều kiện để em có thể tiến hành khảo sát và thực
nghiệm.
Sau cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới người thân và bạn bè, những
người luôn động viên khích lệ và giúp đỡ em.
Mặc dù khóa luận đã hoàn thành nhưng không thể tránh khỏi những thiếu
sót, vì vậy em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp nhiệt thành từ phía
các thầy cô và các bạn để cuốn khóa luận được hoàn chỉnh hơn.
Hà Nội, tháng 6 năm 2010
Sinh viên

Phan Xuân Trường

Khãa luËn tèt nghiÖp Phan Xu©n Trêng - Líp Ji ca GD§B
8
DANH MỤC CÁC TỪ VÀ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

tạo con người trong hệ thống giáo dục quốc gia. Theo UNESCO thì mục tiêu
học tập của con người là: “Học để biết, học để làm, học để làm người và học
để cùng chung sống”. Để đạt được mục tiêu đó thì cần phải thay đổi quan
điểm giáo dục. Tức là giáo dục phải lấy trẻ làm trung tâm và giáo dục phải
xuất phát từ khả năng và nhu cầu của trẻ. Đối với trẻ khuyết tật, mục tiêu cuối
cùng và cốt lõi nhất của giáo dục đó là giúp trẻ có được cuộc sống độc lập đến
mức có thể thì trẻ mới tự tin, tránh mặc cảm và tự khẳng định mình trong
10
Khãa luËn tèt nghiÖp Phan Xu©n Trêng - Líp Ji ca GD§B
cuộc sống. Như vậy, mục tiêu chung của GDĐB cho trẻ KTTT là dạy những
kiến thức văn hoá và kỹ năng liên quan nhằm giúp trẻ sống độc lập ở mức cao
nhất và có một vị trí xứng đáng trong xã hội. Do đó, chương trình học phải
bao gồm việc học những kỹ năng sống nhằm tạo cho trẻ cuộc sống tự lập càng
sớm càng tốt, giáo dục lao động rất quan trọng đối với mọi trẻ em, trong đó
giáo dục lao động tự phục vụ làm nhiệm vụ tối quan trọng của công tác
GDĐB.
Một trong những kỹ năng cần được đề cập đầu tiên, cần thiết và quan
trọng nhất đó là kỹ năng tự phục vụ. KNTPV là mốc đầu tiên đánh dấu sự độc
lập của một đứa trẻ, trẻ có thể tự phục vụ được bản thân để khẳng định cái
“tôi” của mình. Đây là một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời trẻ. Đối với
trẻ KTTT, tự phục vụ được bản thân lại có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với bản
thân trẻ và giảm bớt đi gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Để đáp ứng mục tiêu giáo dục cho trẻ KTTT theo định hướng của
GDĐB tại Việt Nam, đó là: lĩnh hội kiến thức cần thiết cho cuộc sống của trẻ;
rèn luyện kỹ năng cần thiết; thái độ của trẻ đối với thế giới xung quanh thì trẻ
KTTT cần phải có KNTPV để có thể độc lập ở mức cao nhất.
Ở Việt Nam hiện nay, thực tế một số trường đã có chương trình dạy kỹ
năng sống, KNTPV và họ đã tiến hành dạy kỹ năng sống, kỹ năng tự phục vụ
cho trẻ KTTT. Song, vấn đề lý luận còn chưa được quan tâm nghiên cứu, có
rất ít sách, ít tài liệu đề cập tới vấn đề hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ.

Tìm hiểu thực trạng việc dạy kỹ năng phục vụ cho trẻ KTTT, từ đó đề
xuất một số biện pháp để hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT, từ đó
đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp trong dạy kỹ năng TPV cho trẻ
KTTT.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
3.2. Tìm hiểu thực trạng hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT
12
Khãa luËn tèt nghiÖp Phan Xu©n Trêng - Líp Ji ca GD§B
3.3. Đề xuất một số biện pháp hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ
KTTT và thực nghiệm sử dụng một số biện pháp hình thành KNTPV cho trẻ
KTTT.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các biện pháp hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT
4.2. Khách thể nghiên cứu
- Quá trình dạy kỹ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT
- Khách thể khảo sát :
+ Học sinh KTTT
+ Giáo viên dạy trẻ KTTT trong trường chuyên biệt.
+ Phụ huynh, người chăm sóc học sinh KTTT
5. Giả thuyết khoa học
Trong thực tế hiện nay cha mẹ, giáo viên, nhân viên chăm sóc đã sử
dụng một số biện pháp nhằm hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT
nhưng chưa hiệu quả, nếu chỉ ra các biện pháp phù hợp sẽ giúp các em hình
thành kỹ năng một cách tốt hơn.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn địa bàn nghiên cứu:
Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật Quảng Trạch – Quảng Bình
- Đối tượng khảo sát:

- Mục đích chứng minh tính hiệu quả của các biện pháp đưa ra.
- Tiến hành: Chọn 2 học sinh KTTT để thực nghiệm.
8. Cấu trúc khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo,
khoá luận gồm 3 chương.
14
Khãa luËn tèt nghiÖp Phan Xu©n Trêng - Líp Ji ca GD§B
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Trên thế giới
Chương trình giáo dục KNTPV đã được xây dựng và thực hiện cùng
với sự phát triển của công tác giáo dục cho trẻ khuyết tật nói chung và đặc
biệt là trẻ KTTT nói riêng. Để tìm hiểu công tác giáo dục KNTPV trên thế
giới, chúng tôi tiến hành nghiên cứu, xem xét chương trình giáo dục KNTPV
tại một số quốc gia và nội dung giáo dục KNTPV trong các chương trình can
thiệp cho trẻ khuyết tật nói chung và trẻ KTTT nói riêng.
Giáo dục KNTPV cho trẻ khuyết tật là một bộ phận của chương trình
giáo dục đặc biệt tại các Quốc gia, các quốc gia tùy theo điều kiện hoàn cảnh
của mình để xây dựng chương trình giảng dạy phù hợp với đối tượng cho trẻ
em KTTT ở Quốc gia mình.
Tại Hà Lan, chương trình sử dụng tại các trường chuyên biệt cho trẻ
KTTT gồm những môn khoa học như ngôn ngữ, làm toán, giáo dục thể chất ,
nghệ thuật, định hướng về con người và thế giới trong đó có định hướng về
hành vi và khả năng tự lực
Tại Australia, chương trình giảng dạy đặc biệt sử dụng tại các trường
chuyên biệt cho trẻ KTTT gồm những môn khoa học như: ngôn ngữ, làm
toán, các môn khoa học xã hội và khoa học môi trường, giáo dục môi trường,
công nghệ, sức khỏe và môi trường thể chất trong đó có nội dung chăm sóc
15
Khãa luËn tèt nghiÖp Phan Xu©n Trêng - Líp Ji ca GD§B

16
Khãa luËn tèt nghiÖp Phan Xu©n Trêng - Líp Ji ca GD§B
tinh, vận động thô, nhận thức, kỹ năng cá nhân và xã hội, các KNTPV được
đề cập đến khá đầy đủ và chi tiết. Cũng như từng bước nhỏ một, chương trình
Carolina cũng đưa ra các hướng dẫn đối việc dạy các kỹ năng cho trẻ KTTT,
trong đó có KNTPV.
Thang đo hành vi thích ứng ABS – S : 2. Thang đo ABS – S:2 được
xây dựng bởi hiệp hội KTTT Mỹ. Trong thang đo này, KNTPV được đề cặp
đến trong lĩnh vực hoạt động học tập, bao gồm các nội dung như ăn uống, sử
dụng nhà vệ sinh, mặc cởi quần áo, đi lại và các hoạt động khác.
Chương trình giáo dục sớm Portage dành cho trẻ 0-6 tuổi bao gồm bảng
kiểm tra chương trình giáo dục sớm Portage được kết hợp chặt chẽ với bảng
kiểm tra ngôn ngữ Wessex đã được điều chỉnh. Bảng bao gồm 624 hành vi,
được chia thành 6 lĩnh vực phát triển: Sự kích thích ẫm ngữa, tự phục vụ, vận
động, hòa nhập xã hội, nhận thức và ngôn ngữ. Các kỹ năng thuộc 6 lĩnh vực
được sắp xếp theo một trình tự phát triển riêng với kỹ năng tự phục vụ bao
gồm các nội dung như: Ăn uống, đi vệ sinh, tắm rửa…
Như vậy chương trình giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT đã
được rất nhiều quốc gia quan tâm và xây dựng, điều đó chứng tỏ rằng, đây là
một nội dung quan trọng với trẻ KTTT.
1.1.2. Tại Việt Nam
Giáo dục cho trẻ khuyết tật bắt đầu từ thế kỷ XIX. Ban đầu là những
chương trình dành cho trẻ khuyết tật về thính giác và thị giác, công tác giáo
dục cho trẻ KTTT được tiến hành muộn hơn. Trong những năm gần đây, công
tác giáo dục cho trẻ KTTT ngày càng được quan tâm hơn, các trung tâm giáo
dục tiếp nhận cho trẻ KTTT ngày càng được tăng lên.
Các cơ sở giáo dục cũng đã tiến hành triển khai nội dung giáo dục kỹ
năng tự phục vụ cho trẻ KTTT bên cạnh các nội dung giáo dục khác.
Chương trình GDĐB dựa trên thang PAC của trường Hoa Phong Lan –
Đà Lạt. Là biểu đồ đánh giá bước tiến của sự phát triển cá nhân và xã hội. Với

Chương trình GD ĐB dưạ trên một phần thang đo hành vi thích ứng
ABS – S:2 của trường Thánh mẫu – Sài gòn. Trường có quan điểm “Trường
học là nơi vui vẻ” do vậy các trẻ rất thích đến trường. Tại trường, giáo viên tổ
18
Khãa luËn tèt nghiÖp Phan Xu©n Trêng - Líp Ji ca GD§B
chức các hoạt động tập thể cho trẻ tham gia, tập cho các trẻ tự lập đến mức tối
đa, tạo sự tự tin cho trẻ - tự làm được mà không cần giúp đỡ từ người khác,
trường có các hoạt động lao động hướng nghiệp như nấu ăn, tập sử dụng máy
vi tính…
Chương trình giáo dục môn “kỹ năng tự lập” của trường Tiểu học Bình
Minh- Hà Nội có sử dụng thang PAC để đánh giá trẻ, sau đó dựa trên khả
năng và nhu cầu của trẻ, trường sẻ dạy kỹ năng tự lập cho trẻ KTTT dựa trên
5 nguyên tắc:
- Dạy những điều thiết thực với trẻ
- Dạy với tốc độ chậm và nâng cao dần
- Dạy theo khả năng của trẻ
- Dựa vào đặc điểm tâm sinh lý của trẻ KTTT
- Dựa vào yêu cầu và đòi hỏi của xã hội.
Những trẻ KTTT sau khi học tại trường Bình Minh, nhờ có định hướng
giáo dục đúng đắn và những bài học kỹ năng tự lập mà các trẻ đã có khả năng
sống tự lập, sau khi ra trường nhiều em có thể tự lao động kiếm sống, một số
khác có thể tham gia phụ giúp gia đình.
Tài liệu phục hồi chức năng cho trẻ KTTT, ban biên soạn tài liệu phục
hồi chức năng dựa vào cộng đồng, biên soạn tài liệu phục hồi chức năng dựa
vào cộng đồng được triển khai từ năm 1987, với sự tham gia xây dựng của
các chuyên gia đầu ngành và các chuyên gia nước ngoài, đối tượng sử dụng
tài liệu này là cán bộ cán bộ phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, các cộng
tác viên phục hồi chức năng, nội dung cuốn sách báo gồm những kiến thức cơ
bản về khái niệm, triệu chứng, cách phát hiện các biện pháp chăm sóc và
PHCN cho trẻ KTTT, ngoài ra tài liệu cũng cung cấp một số thông tin cơ bản

Tác giả Phạm Huyền Thanh với đề tài “ Sử dụng phương pháp xâu
chuỗi trong dạy kỹ năng tự phục cho trẻ KTTT” trong đề tài tác giả đã đề cập
khá nhiều nội dung liên quan đến trẻ hình thành KNTPV cho trẻ KTTT và
việc sử dụng phương pháp dạy học xâu chuỗi trong dạy KNTPV cho trẻ
KTTT góp phần rất lớn rất lớn trong việc hình KNTPV cho trẻ. Tác giả đã
20
Khãa luËn tèt nghiÖp Phan Xu©n Trêng - Líp Ji ca GD§B
tiến hành thử nghiệm trên 2 trẻ KTTT và kết quả và đạt kết quả khá tốt, trẻ có
nhiều tiến bộ khi sử dụng phương pháp xâu chuỗi…
Tóm lại, lĩnh vực giáo dục KNTPV đã được các chuyên gia, các nhà
giáo dục, những người liên quan đến GDĐB cho trẻ KTTT rất quan tâm,
những chương trình giáo dục đề cập đến việc dạy KNTPV cho trẻ KTTT có
nội dung hết sức đa dạng, phong phú, các phương pháp dạy KNTPV cũng
được nhắc đến như làm mẫu, hướng dẫn, sử dụng đồ vật trực quan, chia nhỏ
nhiệm vụ….
1.2. Những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
1.2.1. Khuyết tật trí tuệ
1.2.1.1. Khái niệm Khuyết tật trí tuệ
Ở nước ta những trẻ KTTT trước đây thường gọi là “ trẻ chậm khôn”
thuật ngữ này cũng lần đầu tiên sử dụng tại trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ
của cố bác sĩ Nguyễn Khắc Viện. Thuật ngữ “ Chậm phát triển tâm thần”
cũng được sử dụng trong nhiều tài liệu tiếng Anh và tiếng Việt.
Trên thế giới đang sử dụng phổ biến thuật ngữ “ Mental Rertardation” do
hiệp hội KTTT trí tuệ Mỹ (AAMR) lựa chọn và “Intellectual Disability” do tổ
chức nghiên cứu khoa học quốc tế về KTTT (IASSSID) lựa chọn. Những năm
gần đây người ta sử dụng thuật ngữ khuyết tật trí tuệ ( Intellectual disability) và
khuyết tật phát triển trí tuệ ( Tại Việt nam đang sử dụng khá phổ biến thuật ngữ
“ Khuyết tật trí tuệ”. Vậy “Khuyết tật trí tuệ là gì”?
Có nhiều khái niệm khác nhau về KTTT nhưng tới nay, các chuyên gia,
giáo viên và những người có liên quan đến công tác giáo dục trẻ KTTT đang

Lỗi nhiễm sắc thể (NST): gây một số hội chứng Down, Turner,
Criduchat. Đây là nguyên nhân phổ biến gây KTTT. Với những trẻ mắc phải
hội chứng này người ta có thể quan sát được những rối loạn bên ngoài.
Lỗi gen: Gây bệnh PKU, san filippo, u xơ dạng củ, hội chứng Rett, hội
chứng Williams Beuren, hội chứng Angelman và Prader Willy.
Rối loạn do nhiều yếu tố: Nứt đốt sống, thiếu một phần não, tràn dịch
màng não, đầu nhỏ, rối loạn chức năng tuyến giáp…
+ Do các yếu tố ngoại sinh
22
Khãa luËn tèt nghiÖp Phan Xu©n Trêng - Líp Ji ca GD§B
Lây nhiễm: Sởi đức (rubella), nhiễm Toxoplasmosis, Cytomegalie,
giang mai, HIV.
Nhiễm độc: Một số dược phẩm do người mẹ dùng như thuốc chống
động kinh, chất rượu cồn, do chụp tia X, chất độc da cam, kháng thể Rhesus,
Suy dinh dưỡng ở người mẹ hoặc do thiếu i ốt trong thức ăn hay nước
uống…
- Nguyên nhân trong khi sinh
+ Thiếu Oxy: Những vấn đề do nhau thai, thời gian sinh quá lâu, trẻ
không thở hoặc không khóc ngay sau sinh.
+ Tổn thương sau khi sinh: tổn thương não hoặc chảy máu não do mẹ
đẻ khó (dùng kẹp Focxep để kéo đầu trẻ).
+ Lây nhiễm: Virut Herpes hoặc giang mai.
+ Đẻ non hoặc thiếu cân.
- Nguyên nhân sau khi sinh
+ Viêm nhiễm : Viêm màng não gây ra do bệnh sởi, ho gà, quai bị, thủy
đậu và lao phổi.
+ Tổn thương : Tổn thương não do chấn thương đầu nghiêm trọng hoặc
do ngạt.
+ U não : Tổn thương do khối u hoặc do các liệu pháp y học như phẫu
thuật, sử dụng tia X hoặc dùng hóa chất hay chích máu.

mức độ cao hơn của nhận thức cảm tính, nó phản ánh một cách trọn vẹn các
sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp vào giác quan của chúng ta.
Ở trẻ KTTT, các quá trình tri giác là sự hạn chế đáng kể khối lượng
các tư liệu lĩnh hội được. Sự hạn chế của tri giác đã cản trở đến khả năng định
hướng của trẻ trong các tình huống mới lạ.
Một số điểm yếu nổi bật về cảm giác, tri giác của trẻ KTTT đó là: Nhịp
độ tri giác chậm, thiếu nhanh nhạy, kém khả năng định hướng, thị trường thị
giác hạn chế. Do vậy, trẻ gặp rất nhiều khó khăn trong học tập và tiếp thu kiến
thức mới. Việc rèn luyện khả năng tri giác cho trẻ cần được thực hiện ngay
khi trẻ còn chưa được dạy đọc, dạy viết và có kỹ năng khác trong đó có
KNTPV
24
Khãa luËn tèt nghiÖp Phan Xu©n Trêng - Líp Ji ca GD§B
Đặc điểm của tư duy
Tư duy là hình thức của con người, phản ánh và nhận thức thực tại
khách quan, xác định mối quan hệ bên trong của các sự vật và hiện tượng thế
giới xung quanh. Tư duy cho khả năng nhận thức bản chất vật thể và hiện
tượng, nhờ tư duy con người tiên đoán trước được kết của hành động, thực
hiện những hành động sáng tạo.
Ở trẻ KTTT, tư duy phát triển ở mức độ thấp, khả năng cảm giác, tri
giác, chú ý và trí nhớ kém vì vậy tư duy bị hạn chế. Trẻ rất khó khi phải tập
trung vào một công việc nào đó, nếu trẻ bình thường hiểu và thực hiện những
hoạt động đơn giản, dễ dàng, tốn ít thời gian và chúng thường dành thời gian
tập trung vào các hoạt động phức tạp thì ngược lại trẻ KTTT có thể tốn thời
gian cho hoạt động đơn giản. Trẻ chủ yếu sử dụng tư duy cụ thể, rất kém về
khái quát hóa và suy luận.
Khi có quá nhiều hành động xẩy ra hoặc sự kiện xẩy ra cùng lúc trẻ không
biết tập trung vào vấn đề chính để giãi quyết, mặc khác do thể lực của trẻ KTTT
yếu nên trẻ thường nhanh chóng mệt mỏi dẩn đến quá trình tư duy thiếu liên tục,
giải quyết các bài tập thường thiếu suy nghĩ kỹ lưỡng, không thấy được kết quả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status