Tổ chức rèn luyện kỹ năng phân tích chương trình môn Tiếng Việt
cho sinh viên ngành Giáo dục tiểu học
Tổ chức rèn luyện kỹ năng phân tích chương trình môn Tiếng
Việt cho sinh viên ngành Giáo dục tiểu học
PGS. TS. Chu Thị Thuỷ An
Trường Đại học Vinh
1. Chương trình, kỹ năng phân tích chương trình
"Chương trình là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng
thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó,
nêu lên các mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời,
xác định rõ phạm vi, mức độ nội dung học tập, các phương pháp,
phương tiện, cách thức tổ chức học tập, các cách thức đánh giá kết
quả học tập... nhằm đạt được mục tiêu học tập đã đề ra".[1.tr.14]
Kỹ năng phân tích chương trình là kỹ năng tìm hiểu chương
trình, từ đó, nắm vững từ mức độ khái quát đến cụ thể về mục tiêu,
cấu trúc nội dung, phương pháp, phương tiện, cách thức tổ chức học
tập và đánh giá kết quả học tập được qui định trong chương trình.
Kỹ năng phân tích chương trình là một kỹ năng rất quan trọng
trong hệ thống kỹ năng cần thiết của người giáo viên (GV). Hiệu quả
của quá trình dạy học phụ thuộc rất nhiều vào việc GV nắm vững tư
tưởng chỉ đạo của chương trình, cơ sở khoa học của nội dung,
phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học và cách đánh
giá
kết
quả
trình kia; tiến hành các thao tác dạy học mà không hiểu tại sao phải
làm như vậy; không hiểu đúng ý đồ của sách giáo khoa, dạy không
"trúng" mục tiêu của bài học, không lý giải được các vấn đề vướng
mắc
trong
các
bài
học.
Mặt khác, khi hướng dẫn học sinh (HS) ôn tập hoặc khi bồi
dưỡng HS giỏi tiếng Việt, có tình trạng GV không khái quát được một
cách lôgic các mạch kiến thức và kỹ năng trong chương trình cấp
học cũng như chương trình của từng lớp, không khái quát được các
dạng câu hỏi, bài tập và mục đích, ý nghĩa của từng dạng, dẫn đến
quá trình hướng dẫn HS thực hiện mang tính mò mẫm, trùng lặp, tốn
nhiều thời gian và ảnh hưởng đến việc phát triển tư duy của HS.
Bên cạnh đó, kỹ năng phân tích chương trình kém cũng ảnh
hưởng đến kỹ năng thiết kế đề kiểm tra và việc tiến hành đánh giá
kết quả học tập tiếng Việt của HS. Bởi không hiểu tư tưởng chỉ đạo
và mục tiêu của chương trình thì việc đánh giá có thể lệch mục tiêu
và quá trình thực hiện. Chẳng hạn, mục tiêu cơ bản của chương trình
Tiếng Việt hiện hành là hình thành và phát triển các kỹ năng sử dụng
tiếng Việt; nội dung và phương pháp thực hiện chương trình đều
hướng tới mục tiêu này.Thế nhưng nhiều GV khi xây dựng đề kiểm
và
sự
vững
vàng
về
mặt
tri
thức.
Chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến việc xây dựng
được nội dung và qui trình hướng dẫn SV rèn luyện kỹ năng phân
tích chương trình dùng cho các trường Đại học đào tạo GV tiểu học.
Hầu hết, việc rèn luyện kỹ năng phân tích chương trình Tiếng Việt
cho sinh viên ngành GDTH ở các trường Đại học đều đang tiến hành
theo kinh nghiệm, chưa đồng bộ, chưa hệ thống. Thời lượng sử dụng
để rèn luyện kỹ năng này cho SV còn rất ít. Hầu hết chỉ thực hiện
trong và sau khi sinh viên học học phần Phương pháp dạy học tiếng
Việt. Và có tình trạng khi học đến môn học này, SV đã quên mất các
kiến thức về Ngôn ngữ học, Văn học đã được học trước đó, phải tiến
hành
ôn
hàng đầu của tổ hợp kỹ năng phân tích chương trình. Bởi mục tiêu
môn học sẽ qui định nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy
học và cách thức đánh giá kết quả học tập của HS. Nắm vững được
mục tiêu môn học, GV mới có thể lý giải cơ sở xuất phát của mọi vấn
đề về nội dung, hình thức dạy học Tiếng Việt được thể hiện trong
toàn bộ chương trình và trong SGK. Từ đó, có thể lựa chọn phương
pháp dạy học phù hợp nhằm đạt kết quả dạy học cao nhất cũng như
có biện pháp xử lý tối ưu cho những tình huống dạy học cụ thể.
Chẳng hạn, hiểu được mục tiêu "hình thành và phát triển các kỹ năng
giao tiếp cho HS" là mục tiêu hàng đầu của môn Tiếng Việt, GV sẽ lý
giải được tại sao khi dạy về trạng ngữ, sách Tiếng Việt 4 đã sử dụng
tên bài học là "Thêm trạng ngữ cho câu"; khi dạy về phép thế sách
Tiếng Việt 5 đã sử dụng tên bài học "Liên kết câu bằng cách thay thế
từ ngữ" và cách trình bày nội dung tương ứng với những tên gọi đó.
Hiểu được mục tiêu môn học Tiếng Việt, GV sẽ lý giải được tại sao
phân môn Tập làm văn đề cao phương pháp trò chơi đóng vai, đề
cao
việc
sử
dụng
các
bài
mạch: ngữ âm và chữ viết; từ vựng - ngữ nghĩa; ngữ pháp; văn
bản.Việc nắm được các mạch kỹ năng và kiến thức này sẽ giúp cho
GV có một cái nhìn khái quát, chủ động toàn bộ chương trình Tiếng
Việt tiểu học để có thể đi sâu vào các vấn đề cụ thể; tránh được tình
trạng "thấy cây mà không thấy rừng" trong quá trình dạy học.
Kỹ năng và kiến thức về tiếng Việt nói trên sẽ được thể hiện
thành 7 phân môn: Học vần, Tập viết, Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và
câu, Tập làm văn, Kể chuyện. Cần hướng dẫn SV phân tích, lý giải
được mục tiêu cụ thể của từng phân môn bởi mục tiêu môn học sẽ
được cụ thể hoá thành mục tiêu phân môn. Sau đó, cần rèn luyện kỹ
năng hệ thống hoá được nội dung dạy học của từng phân môn.Thao
tác này có thể tổ chức cho SV tiến hành trên chương trình tổng thể,
kết
hợp
với
việc
phân
tích
SGK
Tiếng
yếu tố về nội dung, hình thức và cách tổ chức thực hiện chương trình
và
SGK.
3.2.Việc tổ chức rèn luyện kỹ năng phân tích chương trình
Tiếng Việt cho sinh viên phải tiến hành đồng bộ và tích hợp trong
nhiều hoạt động. Vì như trên đã nói, đây là một kỹ năng phức tạp, có
yêu cầu cao về nền tảng tri thức và về khả năng tư duy, khả năng áp
dụng các vấn đề lý luận vào thực tiễn chương trình, SGK. Cho nên
trong quá trình đào tạo, phải ý thức rằng không chỉ học phần Phương
pháp dạy học tiếng Việt mới có nhiệm vụ rèn luyện kỹ năng phân tích
chương
trình.
Kỹ năng phân tích chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học của
sinh viên phải được rèn luyện từ khi học các học phần Tiếng Việt 1,
Tiếng Việt 2, Văn học 1, Văn học 2...; các chuyên đề tự chọn về ngôn
ngữ học và tiếng Việt. Với các học phần này, giảng viên phải thiết lập
mối quan hệ giữa những kiến thức về ngôn ngữ học và văn học với
nội dung môn Tiếng Việt ở nhà trường tiểu học.Qua các bài tập
nghiên cứu khoa học, các chủ đề xemina, dưới sự hướng dẫn của
giảng viên, SV có điều kiện rèn luyện kỹ năng phân tích các nội dung
cụ thể trong chương trình, SGK Tiếng Việt tiểu học để thấy được cơ
sở khoa học và tính mức độ về kiến thức và kỹ năng.
Kỹ năng nói trên, sẽ được tiếp tục rèn luyện nâng cao khi SV
tiếp cận với các học phần Lý luận và phương pháp dạy học tiếng
GDTH
Tài
ở
trường
liệu
Đại
học
tham
Vinh.
khảo:
1. Nguyễn Hữu Châu, Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá
trình
dạy
học,
NXB
Giáo
dục,
Số
39
(2002),
17-18.
4. Chu Thị Thuỷ An, Một số kinh nghiệm hướng dẫn sinh viên Đại
học sư phạm nghiên cứu khoa học, Tạp chí Giáo dục, Số 174 (2007),
32-33.